Hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong – Tài liệu text
Hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (261.12 KB, 32 trang )
Bạn đang đọc: Hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong – Tài liệu text
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc
đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Ngữ văn 9
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ ngày 05 tháng 02 năm 2012 đến ngày 30 tháng 5 năm 2012
4. Tác giả:
– Họ và tên: Phan Thị Vân
– Năm sinh: 1976
– Nơi thường trú: TT Xuân Trường – Huyện Xuân Trường – Tỉnh Nam Định
– Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Ngữ văn
– Chức vụ công tác: Giáo viên
– Nơi làm việc: Trường THCS Xuân Trường – Huyện Xuân Trường – Tỉnh Nam Định
– Địa chỉ liên hệ: Trường THCS Xuân Trường – Huyện Xuân Trường – Tỉnh Nam Định
– Điện thoại: 0942081272
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
– Tên đơn vị: Trường THCS Xuân Trường – Huyện Xuân Trường – Tỉnh Nam Định
– Địa chỉ: Tổ 18 – TT Xuân Trường – Huyện Xuân Trường – Tỉnh Nam Định
– Điện thoại: 03503 886302
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
1
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
I, Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến
Dạy văn nói chung, dạy phân môn tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác phẩm
văn học (phần truyện) nói riêng ở khối lớp 9 trường Trung học cơ sở là dạy cho các em
học sinh lứa tuổi 14, 15 – lứa tuổi hồn nhiên, trong sáng, năng động và nhạy cảm… biết
tìm tòi, khám phá ra thế giới văn chương nghệ thuật. Tác phẩm văn chương nghệ thuật
là thành quả sáng tạo của nhà văn, nhà thơ. Mỗi tác phẩm văn thơ đều thuộc một thời
kì văn học nhất định (có thể cách xa thời đại mà các em sống hiện nay cả hàng thế kỉ ,
hàng thập niên …). Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất: là một câu tục ngữ, một bài ca
dao, hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ tiểu thuyết
đều có giá trị về nội dung và nghệ thuật của nó. Làm thế nào để giáo viên giúp học sinh
đồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệm
vụ giảng dạy của giáo viên dạy Ngữ văn.
Lep – Tôn – XTôi nói: “Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là làm thế nào
để biết được quả đất tròn?”. Chân lí là quý báu! Nhưng cách tìm ra chân lí còn quý hơn
nhiều. Vì thế, cái khó trong việc dạy văn, nhất là dạy Tập làm văn kiểu bài Nghị luận
về tác phẩm truyện là làm sao hướng cho học sinh tìm ra cái hay, cái đẹp trong các
tác phẩm.
Nghị luận tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng là một kiểu
bài nghị luận văn học có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9.
Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học sinh chẳng những đã có một vốn khá
phong phú vÒ kiến thức văn học (tác phẩm, thể loại…) và cũng đã được nâng cao dần
về năng lực cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm… Đó là một thuận lợi. Nhưng mặt
khác, cũng cần nắm vững yêu cầu và mức độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tác
phẩm trong chương trình Tập làm văn 9 để không đồng nhất yêu cầu và mức độ phân
tích tác phẩm trong chương trình văn học và khi làm bài Tập làm văn ở lớp 9.
Tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tổng thể hoàn chỉnh giữa nội dung và
phương thức biểu đạt, tức là nghệ thuật. Nghị luận một tác phẩm truyện là trình bày
những nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một
tác phẩm cụ thể. Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt
truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết
phát hiện và khái quát. Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện trong bài nghị luận
phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. Bài nghị luận về tác phẩm
truyện phải có bố cục chặt chẽ, mạch lạc, có lối văn chuẩn xác, gợi cảm. Như vậy, để
đáp ứng yêu cầu làm một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện, người giáo viên cần
cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận này.
Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ: “Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người
giáo viên dạy học sinh phương pháp làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không
thể nghèo nàn cảm xúc. Bởi những trang truyện hay, những số phận của các nhân vật
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
2
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
trong truyện đều có cuộc đời riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội tâm… phong phú và đa
dạng. Cho nên trong hướng gợi ý học sinh trình bày những cảm nhận, đánh giá về nhân
vật, sự kiện, chủ đề … trong tác phẩm truyện phải xuất phát từ những rung cảm chân
thật, thẩm mĩ. Đồng thời biết kết hợp linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng
minh, phân tích,…). Trong khi hướng dẫn học sinh cách làm bài và luyện tập, giáo viên
cần chú ý phát huy, động viên tính tích cực, chủ động, sáng tạo của từng học sinh chứ
không gò ép theo những khuôn mẫu. Người giáo viên phải biết khơi gợi những cảm
xúc của học sinh, kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở học sinh những nhu cầu đồng
cảm và khát vọng nhận thức cái mới qua hình tượng nhân vật, ngôn ngữ đối thoại, độc
thoại, Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi đầy đủ các ý tưởng của tác phẩm qua
từng trang truyện thì chưa hẳn là một giáo viên dạy tốt, nắm chắc phương pháp hướng
dẫn học sinh cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện.
II. Thực trạng (trước khi tạo ra sáng kiến)
1. Thuận lợi
Trong chương trình trung học cơ sở, học sinh được học nhiều bộ môn khác
nhau. Bên cạnh những môn khoa học tự nhiên nhiều học sinh cho là khó, hóc búa, các
bộ môn khoa học xã hội được cho là dễ tiếp cận hơn. Với môn ngữ văn, nhiều học sinh
còn ngại học văn song không phải các em không có hứng thú bởi đây là bộ môn của
nghệ thuật ngôn từ. Không ít tác phẩm đã làm say lòng những “sĩ tử” ngại học văn.
Nhất là đối với tác phẩm truyện, một tình huống hấp dẫn, một nhân vật tiêu biểu, một
chi tiết thắt nút, mở nút có thể làm thay đổi thái độ của học sinh đối với môn văn.
Giáo viên kích thích học sinh ở những điều đó, học sinh sẽ hứng thú tìm hiểu, đánh giá
tác phẩm văn học hơn.
Trong các cấp học phổ thông, kì thi nào cũng đụng đến môn văn. Mà đã có thi
phải có học, có rèn do đó học sinh không bao giờ bỏ được làm bài văn nói chung và
nghị luận về tác phẩm văn học nói riêng.
Về phía giáo viên là người gắn bó với nghiệp văn chương, chắc chắn sẽ yêu
thích tìm tòi khám phá những điều được tác giả gửi gắm trong từng tác phẩm. Giáo
viên say mê với nghề dạy văn là một điều kiện thuận lợi giúp giáo viên hướng dẫn học
sinh tìm hiểu văn học tốt hơn.
2. Khó khăn
Học sinh ngại học văn, càng ngại viết văn hơn đó là khó khăn lớn nhất. Trong
những năm gần đây, học sinh khối lớp 9 viết bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tác
phẩm truyện thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc … Các em thường dựa
vào văn mẫu hoặc dựa vào các ý trong đề cương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn mà
viết lại nên rất hạn chế về mạch cảm xúc (không chân thật, còn gượng ép …). Rất ít
học sinh chịu khó tìm tòi, khám phá ra các ý mới, ý riêng, ý sâu sắc, ý hay do chính
bản thân các em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm.
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
3
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Mặt khác, đa số các em học sinh thường không tìm hiểu kĩ đề bài và tìm ý trước
khi bắt tay vào làm bài viết của mình nên thường lệch lạc kiểu bài, nhầm lẫn các dạng
đề. Đề bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường có các dạng đề mệnh lệnh và “mở”.
Các mệnh lệnh thường gặp là “suy nghĩ” (về nhân vật, tác phẩm…), “cảm nhận của
em” (về nhân vật, tác phẩm…).
Đối tượng nghị luận có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay những đổi thay
trong số phận nhân vật …) theo phạm vi vấn đề trong các bài đọc hiểu tác phẩm truyện
sách giáo khoa) đòi hỏi các em phải có tư duy kiến thức, tích hợp, tổng hợp và phân
tích mới đảm bảo được yêu cầu của từng đề bài văn cụ thể.
Về phía giáo viên, không ít thầy cô còn e ngại khi dạy phân môn Tập làm văn.
Qua nhiều năm theo dõi phong trào thi đua dạy giỏi các cấp và dạy tốt ở trường, giáo
viên thường chỉ đăng kí dạy phân môn Giảng văn và Tiếng Việt. Bởi dạy phân môn
Tập làm văn nhất là kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện, giáo viên phải tìm tòi
nghiên cứu kĩ về tác phẩm, phải thực sự nhập tâm vào cốt truyện, vào nhân vật, phải
đặt mình trong hoàn cảnh nhân vật sống, nhân vật suy nghĩ và hành động… đòi hỏi
giáo viên phải vận dụng, tổng hợp nhiều kiến thức, kể cả vốn sống, vốn tư tưởng tình
cảm. Thế là giáo viên phải tìm ra phương pháp tích hợp giữa văn và đời, giữa thực tại
và hư cấu… Có thực hiện được như thế, mới có thể đảm bảo được đặc trưng của phân
môn : “Dạy văn – Dạy người” như nhà văn M. Gorki từng nói: “Văn học là nhân học”.
Là giáo viên nhiều năm dạy Ngữ văn trong Trường THCS, tôi luôn tâm đắc câu
nói của dân gian : “Cho cá không thích bằng nhận được cần câu”. Nếu ví bộ cần câu là
phương pháp và cá ăn là kiến thức thì sự đánh giá về vai trò, tầm quan trọng của hoạt
động dạy và học của giáo viên và học sinh là phải tìm tòi và sáng tạo. Chính vì vậy,
trong quá trình giảng dạy, tôi luôn trân trọng, đánh giá cao những bài làm có nét riêng,
thể hiện được những cảm xúc chân thật, những nhận xét, phân tích tinh khôi, sáng tạo
của các em đối với một tác phẩm, một nhân vật (một vấn đề hay một khía cạnh của
vấn đề thể hiện trong tác phẩm…). Đó cũng chính là nguồn động viên không nhỏ giúp
tôi đầu tư và quyết định viết kinh nghiệm này, góp phần nâng cao chất lượng dạy và
học của giáo viên – học sinh. Đồng thời qua đây, xin được góp một tiếng nói riêng, một
ý kiến nho nhỏ cho phong trào “Dạy Tốt – Học Tốt” của Trường THCS Xuân Trường
nói riêng và cho ngành Giáo dục – Đào tạo huyện Xuân Trường nói chung.
III, Các giải pháp (trọng tâm)
Ở các lớp dưới, học sinh đã được học về các kiểu văn bản cụ thể. Chẳng hạn
lớp 7 đã học về văn bản biểu cảm, về văn nghị luận (trong đó có phép lập luận chứng
minh và phép lập luận giải thích). Lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận, về cách
nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng các yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Vì thế
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
4
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
tiết dạy Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) ở lớp 9 phải có
sự kế thừa, nâng cao kiến thức, kĩ năng đã rèn luyện ở các lớp trước. Sự kế thừa, nâng
cao này cần thể hiện rõ nhất ở việc nhấn mạnh tính tổng hợp của tri thức, của kĩ năng
và tăng cường hoạt động thực hành của học sinh. Thật ra trong một bài nghị luận văn
học, người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng (giải thích, chứng minh, phân
tích, bình giảng ) và nhiều khi khó có thể tách bạch một cách rạch ròi các thao tác, kĩ
năng. Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia.
Giáo viên cần chỉ rõ cho học sinh thực tế ấy, từ đó giúp các em biết trình bày một cách
có lí lẽ, hấp dẫn những cảm nhận, suy nghĩ, đánh giá của mình về một vấn đề văn học.
Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) thuộc nghị luận văn học là
bài văn nhận xét, đánh giá về nhân vật, sự kiện chủ đề hay nghệ thuật của tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích). Đề bài nghị luận có thể đưa ra về nhân vật, về chủ đề, về cốt
truyện hay về nghệ thuật của tác phẩm.
Đề bài nghị luận này cũng có các dạng: đề mệnh lệnh và đề “mở”. Các mệnh lệnh
thường gặp là “suy nghĩ” (về nhân vật, tác phẩm ), “cảm nhận của em” (về nhân
vật, tác phẩm ). Đối tượng nghị luận có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay
những đổi thay trong số phận nhân vật (theo phạm vi vấn đề trong các bài đọc hiểu
tác phẩm truyện ở sách giáo khoa).
Cần cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận về một tác
phẩm truyện (hoặc đoạn trích):
– Trình bày những cảm nhận, đánh giá phải có lí lẽ, lập luận, đồng thời phải
qua phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng cụ thể.
– Kết hợp đồng thời, linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng minh,
phân tích, ).
Trong khi hướng dẫn cách làm bài và luyện tập, giáo viên cần chú ý phát huy
động viên tính tích cực sáng tạo của học sinh, rất nên khuyến khích những suy nghĩ,
những cách trình bày có màu sắc riêng của các em, tránh gò ép định hướng quá rõ cho
học sinh theo những khuôn mẫu.
A. Hướng dẫn học sinh phân tích đề
Đây là khâu vô cùng quan trọng, trước đây khi chưa áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm này tôi thường xem nhẹ khâu này cho nên trong quá trình làm bài vẫn còn hiện
tượng một số học sinh làm sai đề, lạc đề. Một đề bài Tập làm văn còn được xem là
một bài toán nghệ thuật ngôn từ. Bởi bao giờ trong một đề bài Tập làm văn cũng có
những yêu cầu bắt buộc mà người thực hiện đề bài phải tìm ra phương pháp giải. Vì
thế, bước phân tích đề được xem là khâu đầu tiên, có vai trò quyết định “dẫn đường,
chỉ lối” cho người làm bài. Nếu phân tích đúng yêu cầu của đề bài thì sẽ tìm ra được
hướng đi đúng. Ngược lại, nếu phân tích sai thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu của đề,
đôi khi còn bị lệch đề, lạc đề. Chính vì thế mà người giáo viên phải hướng dẫn học
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
5
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
sinh phải biết phân tích kĩ đề. Một đề bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không bao
giờ đồng nhất một dạng đề đơn điệu. Trái lại, nó có rất nhiều dạng, nhưng chủ yếu ỏ
lớp 9 dạng thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau đây:
Dạng đề I: Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh nhân
vật, tác phẩm. Ví dụ như các đề
+ Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn: “Làng”
của Kim Lân (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 )
+ Suy nghĩ của em về truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao
( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 66 )
Dạng đề II: Phân tích đặc điểm nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh
về nhân vật, tác phẩm. Ví dụ như các đề:
+ Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của
Kim Lân (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65)
+ Phân tích tâm trạng của Kiều trong đoạn trích: “Mã Giám
Sinh mua Kiều” (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 66)
Dạng đề III : Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn
đề .Ví dụ như các đề :
+ Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ
Nương ở truyện Người con gái Nam Xương ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65).
+ Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn
Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65)
Tuỳ theo mỗi dạng đề bài mà giáo viên hướng dẫn học sinh các thao tác làm
bài khác nhau.
Đối với dạng đề I và dạng đề II học sinh thường hay nhầm lẫn, giáo viên phải
hướng dẫn cho học sinh biết phân biệt rõ thế nào là suy nghĩ về nhân vật, về tác phẩm?
Thế nào là phân tích nhân vật, tác phẩm?
Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm
là nghiêng về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khía
cạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm (không nhất thiết phải phân tích đầy đủ từng đặc
điểm của nhân vật hoặc đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, có thể chọn
những gì mình cảm nhận sâu sắc nhất mà thôi. Ví dụ đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông
Hai trong truyện ngắn: “Làng” của Kim Lân, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cảm
nhận, suy nghĩ về nét nổi bật của nhân vật này là tình yêu làng quyện với lòng yêu
nước và tinh thần kháng chiến được bộc lộ trong tình huống nào? Tình cảm ấy có đặc
điểm gì ở hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ? (Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp?) Những chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động. thú vị tình yêu
làng và lòng yêu nước ấy (về tâm trạng, cử chỉ, lời nói …) Trong khi đó yêu cầu của
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
6
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
dạng đề II (phân tích nhân vật, tác phẩm hay một khía cạnh về nhân vật, tác phẩm) là
yêu cầu người viết tìm hiểu, đánh giá và nhận xét đầy đủ từng đặc điểm nhân vật, từng
giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm.
Đối với dạng đề III: Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấn đề,
người giáo viên phải biết tích hợp các kiến thức chương trình Tập làm văn ở các lớp
dưới để nâng cao yêu cầu giải quyết đề bài văn dạng này. Ví dụ đối với đề bài: “Suy
nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua tuyện ngắn: “Chiếc lược ngà”
của Nguyễn Quang Sáng (Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ), học sinh không phải
đơn thuần tập trung phân tích những biểu hiện cụ thể tình cảm cha con của hai nhân vật
ông Sáu và bé Thu mà còn phải trình bày những cảm nhận của mình về tình cảm cha
con hết sức cảm động trong hoàn cảnh éo le của thời chiến tranh: chịu đựng nhiều thiệt
thòi mất mát…; khơi gợi nhiều xúc cảm cho người đọc niềm cảm động, khâm phục,
quý mến … Từ đó suy nghĩ về tình cảm cha con, tình cảm gia đình trong hoàn cảnh
hiện tại: phải biết trân trọng, giữ gìn, vun đắp…
Từ việc phân tích ba dạng đề nêu trên, giáo viên giúp học sinh nhận thức được tầm
quan trọng của việc phân tích, tìm hiểu đề và biết vận dụng thành thạo, linh hoạt để
hình thành những thao tác và kĩ năng phân tích đề chính xác, làm cơ sở cho việc tìm ý.
Tuỳ theo yêu cầu của mỗi dạng đề (như nghị luận toàn bộ tác phẩm, nghị luận một vấn
đề trong tác phẩm hay nghị luận có kết hợp giải quyết một vấn đề có liên quan) mà xác
định nội dung và trình tự phân tích (khái quát – phân tích – tổng hợp). Căn cứ vào nội
dung và trình tự phân tích, đặt ra và trả lời những câu hỏi để có các ý lớn, ý nhỏ của bài văn.
B. Hướng dẫn học sinh tìm ý:
Một bài nghị luận tác phẩm văn học nói chung và nghị luận về tác phẩm truyện
nói riêng hay, trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì? Và thế nào là ý hay? Làm thế
nào để tìm ra được những ý hay cho bài.
Theo định nghĩa của sách giáo khoa Tiếng Việt 8 (Nhà xuất bản Giáo Dục)
trước đây thì ý là nội dung ta suy nghĩ, nhìn nhận, tìm hiểu, đánh giá …về sự vật, sự
việc được phản ánh, bao gồm cả cách nhìn nhận sự vật, sự việc và tình cảm, cảm
xúc, Ý có thể diễn đạt thành nhiều lời .
Còn ý hay thì theo đặc san văn học và tuổi trẻ (số 68 tháng 2/2002 ); Giáo sư
Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng : “Ý hay trước hết phải là ý đúng, ý sâu, ý mới, ý riêng.
Ý đúng, ý sâu phải là ý của mình khám phá mới hay. Cho nên tìm ra ý mới, ý riêng, ý
đúng, ý sâu là công việc quyết định nhất và tất nhiên cũng là khó khăn nhất ”.
Tác phẩm văn học nhất là tác phẩm truyện là tấm gương phản ánh hiện thực của
cuộc sống muôn màu, muôn vẻ thông qua những hình tượng nhân vật với đầy đủ tư
tưởng, tình cảm nội tâm phong phú, đặt trong những tình huống, hoàn cảnh có vấn đề
mấu chốt, cụ thể, tiêu biểu …đại diện cho một tầng lớp nào đó trong cuộc sống đời
thường. Vì thế, muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý sâu sắc, người giáo viên phải hướng
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
7
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
học sinh đọc hiểu tác phẩm truyện. Đọc hiểu trước hết là phải đọc kĩ tác phẩm để nắm
cốt truyện, chủ đề, các ý chính, các chi tiết tiêu biểu của từng ý, các dẫn chứng thuyết
phục… Không đọc kĩ tác phẩm, học sinh khó lòng nắm được ý đồ của tác giả, dễ dàng
bỏ qua những điểm đặc sắc về nội dung cũng như nghệ thuật của tác phẩm; từ đó phân
tích hời hợt, đánh giá chung chung. Bởi để viết ra được một tác phẩm, người nghệ sĩ đã
phải trải qua những trăn trở, họ tự đặt ra những yêu cầu, những định hướng khắt khe:
Viết về vấn đề gì? Viết về đối tượng nào? Viết cho ai? Viết như thế nào? Họ đã phải
thay nghén tác phẩm truyện – đứa con tinh thần của họ – suốt bao tháng, bao năm. Họ
đã phải chọn lựa từng hình ảnh có thực trong thực tế rồi khái quát lên thành nhân vật,
dùng ngòi bút vẽ nên bức chân dung của xã hội sao cho phù hợp với từng thời điểm
lịch sử. Họ phải nghiền ngẫm từng chi tiết, đắn đo từng câu, chữ, từng lời ăn tiếng nói,
từng hành động của mỗi nhân vật… đặt trong những tình huống cụ thể, mấu chốt của
tác phẩm.
Ví dụ với đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của
Kim Lân. Nếu học sinh không đọc kĩ tác phẩm này, thì không thể tìm ra được những ý
hay, ý đặc sắc. Các em sẽ dễ dàng rơi vào công thức chung chung, suy nghĩ hời hợt,
không khám phá ra nét mới trong tình cảm đối với làng quê của nhân vật ông Hai. Đó
là một trường hợp tiêu biểu cho những chuyển biến mới trong đời sống tình cảm của
người nông dân Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình cảm gắn bó
sâu nặng với quê hương là một đặc điểm có tính truyền thống nhưng nét đăc sắc ở đây
là nhà văn Kim Lân, bằng vốn sống, vốn am hiểu về tâm lí của người nông dân đã đặt
ông Hai vào một tình huống gay cấn, thử thách lòng yêu nước tuyệt đối của nhân vật,
để buộc nhân vật phải đấu tranh tư tưởng gay go, quyết liệt để chọn lựa một trong hai
giữa tình yêu làng và tình yêu nước, trung thành với kháng chiến, với Bác Hồ. Nếu học
sinh không đọc kĩ từng trang truyện, thì làm sao thấu hiểu được nỗi lòng của ông Hai
với cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn, vật vã… để cuối cùng nhân vật mới đi đến quyết
định dứt khoát: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù”. Rõ ràng
để có được những suy nghĩ và nhận xét sâu sắc về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn
Làng làm sao các em có thể không đọc kĩ tác phẩm. Có đọc kĩ tác phẩm các em mới
cảm thụ hết những tình huống thú vị, các chi tiết hay trong tác phẩm. Từ đó ý tứ mới
tuôn trào, suy nghĩ về nhân vật mới sâu sắc.
Sau khi đọc kĩ tác phẩm truyện, khám phá ra được cái hay, cái đẹp,cái đăc sắc
trong từng yếu tố nội dung, nghệ thuật và nhân vật, học sinh tự đặt ra và trả lời những
câu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ… của bài văn.
Dưới đây là các dạng câu hỏi gợi ý, giúp học sinh tìm ý:
Câu hỏi tìm hiểu tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác:
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
8
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Tác giả của tác phẩm truyện sẽ nghị luận là ai? Có những nét gì nổi bật trong
cuộc đời và sự nghiệp sáng tác? Sống trong thời kì nào? Có nét riêng, nét độc đáo gì về
phong cách cá nhân? Chuyên sáng tác về mảng đề tài nào? Sự nghiệp sáng tác ra sao?
Tác phẩm truyện trên được trích từ đâu? Được sáng tác trong hoàn cảnh nào?
Tác phẩm được đánh giá như thế nào? Có phải là tác phẩm tiêu biểu cho sự sáng tác
văn chương của tác giả không? …
Câu hỏi tìm hiểu giá trị nội dung :
Đề bài gồm mấy ý? Ý nghĩa cụ thể, ý nghĩa khái quát là gì? Những ý nào tập
trung biểu hiện chủ đề, tư tưởng của truyện? Nội dung có thể hiện được những vấn đề
lớn, bức xúc mà xã hội quan tâm hay không? Có giá trị nhân văn như thế nào?
Nhân vật chính của truyện là ai? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xã
hội? Có những nét tính cách như thế nào? Nét tính cách nào là tiêu biểu nhất? Nét tính
cách đó được thể hiện qua những chi tiết nào? (diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành động, tư
tëng tình cảm, nội tâm …?)
Câu hỏi tìm hiểu giá trị nghệ thuật:
Tác phẩm truyện được viết theo phong cách nào? Có nét gì sáng tạo riêng trong
nghệ thuật tạo tình huống? Có hình tượng nghệ thuật nào độc đáo? Ngôn ngữ diễn đạt,
cấu trúc bố cục của truyện có đặc sắc?
Tác phẩm truyện trên có tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả
không? Có thể hiện được bản lĩnh sáng tạo của một nhà văn đầy tài năng và tâm huyết
cho một thời đại, một trào lưu văn học không?
Câu hỏi gợi mở những hướng xem xét mới:
Có thể so sánh, đối chiếu với những tác giả, tác phẩm nào để phân tích tác
phẩm được sâu rộng, toàn diện hơn?
Tác phẩm truyện có ảnh hưởng gì trong thời đại tác giả đương sống và đối với
các thời đại sau này? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích?
Với ngần ấy câu hỏi, không thể nào giáo viên giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉ
trong quá trình phân tích một đề bài trên lớp. Do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết
chọn lựa nhưng câu hỏi tìm ý cho phù hợp, có tác dụng khơi nguồn cảm xúc cho các
em học sinh. Hay nói cách khác, người giáo viên phải biết chọn điểm đột phá. Bởi mỗi
tác phẩm truyện (dù là ngắn hay dài) đều là một kho báu vừa lộ thiên vừa bí mật về nội
dung và nghệ thuật. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp cho các em học sinh biết
cách khám phá và đột nhập kho báu ấy, nhất là phần sáng tạo kì công của tác giả.
Nhưng bắt đầu từ đâu và như thế nào? Đây là vấn đề nghệ thuật giảng dạy. Nếu
khéo léo khám phá sẽ có được nhiều cảm xúc, hứng thú gợi mở cho các em học sinh
niềm yêu thích, tích cực tư duy làm bài. Bài nghị luận của các em sẽ sâu sắc, tinh tế và
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
9
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
chân thật. Nếu không khéo sẽ làm cho các em nhàm chán và bài viết của các em trở
nên lạc lõng, hời hợt, tẻ nhạt.
* Sau đây là những việc làm cụ thể mà tôi hướng dẫn học sinh tìm ý cho đề bài:
“Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”
Khi tìm ý cho đề văn trên, giáo viên nên gợi cho học sinh suy nghĩ theo các câu
hỏi sau:
+ Nhà văn Kim Lân có sở trường gì trong sáng tác truyện ngắn?
+ Làng là một truyện ngắn ra đời trong hoàn cảnh nào? Có những thành công
gì về nội dung và nghệ thuật?
+ Truyện có kết cấu ra sao? Xoay quanh nhân vật nào? Nhân vật có những
đặc điểm gì nổi bật? Tình yêu làng được biểu hiện như thế nào? Tình yêu làng, yêu
nước của nhân vật ông Hai được bộc lộ trong tình huống nào? Tình cảm ấy có đặc
điểm gì mới so với vẻ đẹp trong nét tính cách truyền thống của người nông dân? (cụ
thể lúc bấy giờ – thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp)? Những chi
tiết nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, thú vị tình yêu làng và lòng yêu nước
ấy? (Về tâm trạng, cử chỉ, hành động, lời nói ?)
+ Em có nhận xét, đánh giá suy nghĩ gì về tư tưởng tình cảm của người nông
dân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp qua nhân vật Ông Hai? (Những
nhận thức, tình cảm đúng đắn cao đẹp: Sự nhiệt tình, hăng hái tham gia kháng chiến,
lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến vào lãnh tụ …)
+ Nhân vật ông Hai đã để lại những tình cảm gì trong lòng em? (Sự yêu mến,
trân trọng và cảm phục, tự hào…)
+ Với những câu hỏi tìm ý gợi mở trên, người có thể yên tâm học sinh sẽ đảm
bảo đáp ứng tốt nội dung đề bài. Tương tự như thế học sinh có thể tự tìm và trả lời các
câu hỏi tìm ý cho bất kì đề bài văn nghị luận nào.
Sau khi đã có được ý, bước kế tiếp giáo viên phải hướng dẫn cho các em biết cách sắp
xếp các ý (luận điểm, luận chứng, luận cứ… theo một trình tự hợp lí. Việc làm này gọi là
lập dàn ý.
C. Hướng dẫn học sinh lập dàn ý:
Như đã nói ở trên lập dàn ý là sắp xếp các ý đã tìm được ở bước tìm ý theo một
trình tự thích hợp lí và xác định mức độ trinh bày mỗi ý theo tỉ lệ thoả đáng giữa các ý.
Nếu một bài văn hoàn chỉnh được ví như một ngôi nhà thì dàn ý là cái sườn thiết kế
nên ngôi nhà ấy. Viết một bài văn nghị luận cũng thế. Muốn có một bài văn nghị luận
hay, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu của đề bài một cách rõ ràng, chặt chẽ, có hệ thống,
mạch lạc, lập luận thuyết phục … người giáo viên phải hướng dẫn học sinh làm tốt
bước lập dàn ý này. Có thể hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung,
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
10
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân, nhưng có thể sắp xếp đan
xen giữa nôi dung, nghệ thuật và nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân. Cũng có
khi việc sắp xếp không bị gò bó theo một trật tự cố định nào. Trong trường hợp này,
đòi hỏi học sinh phải có bản lĩnh viết văn, phải có dụng ý nghệ thuật trong cách sắp
xếp
trình bày lập luận để đạt được mục đích yêu cấu của đề bài, làm sáng tỏ vấn đề. Thông
thường dàn bài chung cho bài văn nghị luận về tác phẩm truyện theo một trình tự
như sau:
1. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm truyện hay một đoạn trích (tuỳ theo yêu
cầu cụ thể của đề bài) và nêu ý kiến đánh giá sơ bộ của mình .
2. Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm; có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực.
3. Kết bài: Nêu nhận định, đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích.
Điểm lưu ý trong cách làm bài văn nghị luận là trong bài văn không phải bao
giờ các ý cũng được trình bày dàn đều nhau mà nên có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ nói kĩ,
chỗ nói lướt qua. Cho nên, ngay ở khâu lập dàn ý, sau khi sắp xếp ý, ta nên cân nhắc,
định trước tỉ lệ dành cho mỗi ý trong bài để chủ động xây dựng một bài văn cân đối, có
chiều sâu, tạo được điểm nhấn hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Thông thường ý được nói
kĩ là trọng tâm. Ví như với đề bài:
“Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”, giáo
viên có thể hướng dẫn học sinh lập dàn bài như sau:
1. Mở bài : Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai – nhân vật chính
của tác phẩm, một trong những nhân vật thành công bậc nhất của văn học thời kì kháng
chiến chống Pháp .
2. Thân bài:
a. Triển khai các nhận định về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông
Hai và nghệ thuật đặc sắc của nhà văn.
* Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bật
xuyên suốt toàn truyện
+ Chi tiết đi tản cư nhớ làng
+ Theo dõi tin tức kháng chiến
+ Tâm trạng khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây
+ Niềm vui tin đồn được cải chính
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật
+ Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện diễn biến tâm trạng
nhân vật
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
11
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
+ Các chi tiết miêu tả nhân vật
+ Các hình thức trần thuật (đối thoại, độc thoại…)
b. Nhận xét, đánh giá về nhân vật:
Nhân vật ông Hai đã có những chuyển biến mới trong tình cảm của người
nông dân (Những nhận thức mới, những tình cảm mới mẻ: Sự nhiệt tình, hăng hái tham
gia kháng chiến, lòng tin tưởng tuyệt đối vào kháng chiến, vào lãnh tụ …).
Tình yêu làng đã được nâng lên thành tình yêu nước, sẵn sàng hy sinh tình
cảm riêng, của cải riêng (nhà ông bị Tây đốt nhẵn ông vẫn vui sướng, tự hào).
Là nhân vật để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người đọc: Sự yêu mến,
trân trong và cảm phục.
3. Kết bài :
Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật. Thành công của nhà văn khi xây
dựng hình tượng nhân vật ông Hai.
Bên trên là một dàn ý tiêu biểu cho một bài văn nghị luận về tác phẩm
truyện, hoc sinh có thể dựa vào ý trên để thiết lập cho những bài văn cụ thể khác. Lưu
ý khi lập dàn ý cần tránh các lỗi sau:
– Lạc ý: Là những ý không đúng với yêu cầu về nội dung và phương pháp nghị luận
nêu trong đề bài. Ví dụ: Yêu cầu của một bài văn nghị luận là những luận điểm luận
cứ, luận chứng mà học sinh lại nêu ý miêu tả hoặc kể chuyện.
– Ý không phù hợp với nội dung: Ví dụ: Đề yêu cầu nêu suy nghĩ về nhân vật mà
dàn bài lại đưa ra ý phê phán thái độ của nhân vật hoặc đề ra phương hướng giải quyết
khác như nêu quan niệm sống, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân tiêu cực hay sa vào
bình luận về giá trị tác phẩm và những đóng góp của tác giả.
– Thiếu ý: Có thể thiếu một số ý lớn so với yêu cầu đề bài hoặc một số ý nhỏ. Ví dụ:
Tình yêu làng yêu nước của nhận vật ông Hai trong truyện ngắn làng của tác giả Kim
Lân được triển khai thành bốn ý nhỏ mà dàn ý chỉ có ba hoặc hai.
– Lặp ý: Là ý sau lặp lại hoàn toàn ý trước. Ví dụ: Với đề bài : “Suy nghĩ về tình cha
con trong chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng nếu
học sinh không khéo triển khai tình cảm của bé Thu với cha và ngược lại tình cảm của
ông Sáu với bé Thu thì sẽ dễ lặp ý.
– Sắp xếp ý lộn xộn: Là sắp xếp không theo thứ tự nào, đảo lộn cả giá trị nội dung,
nghệ thuật. Đây là hiện tượng viết văn tuỳ tiện, gặp đâu nói đấy, không chuẩn bị kỹ
dàn ý.
Khi đã có cái để viết, có dàn ý, bước kế tiếp, giáo viên hướng dẫn học sinh chuyển
sang phần luyện viết văn với mục đích để rèn kĩ năng diễn đạt của các em.
D. Hướng dẫn học sinh viết đoạn và liên kết đoạn:
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
12
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Từ dàn ý đã có sẵn, các em có thể viết thành đoạn, thành bài. Các em được giáo
viên hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu: Đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài.
1. Đoạn mở bài: Là đoạn văn khởi đầu của bất cứ bài văn nào. Nó là đoạn giới
thiệu vấn đề được nghị luận trong bài văn, đồng thời khơi gợi, lôi cuốn người đọc sự
chú ý đối với vấn đề đó.
a. Nguyên tắc mở bài:
– Cần nêu đúng vấn đề đặt ra trong đề bài.
– Chỉ được phép nêu những ý khái quát (học sinh không được lấn sang phần
thân bài: Giảng giải, minh hoạ hay nhận xét, đánh giá ý kiến nêu trong đề bài.
b. Cách mở bài: Có rất nhiều cách mở bài. Tuỳ dụng ý của người làm mà có thể
vận dụng một trong những cách sau đây:
– Mở bài trực tiếp: Giới thiệu ngay vấn đề cần nghị luận (còn gọi là
trực khởi)
– Mở bài gián tiếp: Nêu ra những ý kiến có liên quan đến vấn đề cần nghị
luận (từ khái quát đến cụ thể, so sánh đối chiếu, tương đồng, tương phản…)
Sau đây là mấy cách mở bài tham khảo cho đề bài: “Suy nghĩ về nhân
vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân”.
+ Cách trực tiếp:
Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nông dân có
tinh yêu làng quyện với lòng yêu nước, trung thành với kháng chiến và lãnh tụ. Đó là
nét mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng
chiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc.
+ Cách gián tiếp: (có thể giới thiệu cho học sinh nhiều cách gián tiếp, sau đây là
hai cách cho học sinh tham khảo)
Cách 1:
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo. Do
hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt, tâm lý của người nông dân.
Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với những
vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyên ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân.
Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,
thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nông
dân. Ai đến với “Làng”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dân mang
những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân.
Cách 2:
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
13
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Tình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng ở con
người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn học dân
tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhân vật
ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợp như thế.
Sau khi đã hướng dẫn cụ thể cho học sinh các cách mở bài trên, giáo viên tiến
hành cho học sinh rèn viết đoạn mở bài và tin chắc rằng học sinh sẽ viết tốt.
Bước kế tiếp, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh viết phần thân bài (gồm nhiều
đoạn, giáo viên có thể chọn cho học sinh viết một đoạn tiêu biểu).
2. Đoạn thân bài:
Trước hết, giáo viên nên xác định vai trò của phần thân bài cho học sinh nhận
thức đầy đủ tầm quan trọng của nó trong một bài văn. Phần thân bài sẽ lần lượt trình
bày, giải thích, nhận xét, đánh giá… các luận điểm của vấn đề được đặt ra trong đề bài
(thực hiện vừa đủ, không thiếu, không thừa các nhiệm vụ đã đề ra ở phần mở bài).
Ở từng luận điểm, cần có sự phân tích, chứng minh cụ thể, chính xác bằng những
dẫn chứng sinh động trong tác phẩm.
Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự liên kết, chuyển tiếp một cách linh hoạt,
uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, công thức.
Dưới đây là một trong những đoạn thân bài của đề bài: “Suy nghĩ về nhân vật
ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân” mà giáo viên có thể giới thiệu cho học
sinh tham khảo.
Lòng yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai được thể hiện một cách cảm
động qua diễn biến tâm trạng của ông. Tác giả đã sáng tạo ra một tình huống bất ngờ,
đầy kịch tính thử thách tình yêu làng của ông Hai là có tin đồn về làng Chợ Dầu đã
theo giặc. Ông Hai vô cùng đau xót: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẵn lại, da mặt tê rân
rân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được… Ông cúi gầm mặt xuống mà đi”.
Về đến nhà, ông nằm vật ra giường không dám đi đâu. Ông buồn, ông xấu hổ. Ông tự
tranh luận với mình, tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ …Đêm, ông trằn trọc
không sao ngủ được; ông hết trở mình bên này, lại trở mình bên kia thở dài, chân
tay ông lão nhũn ra ,… Tin đồn loang xa, mụ chủ nhà hay được lại đuổi khéo gia đình
ông. Ông Hai rơi vào tình trạng bế tắc. Ông có nghĩ đến việc trở về làng nhưng liền
sau đó ông phản kháng lại ngay, ông phẫn uất nói: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo
Tây rồi thì phải thù”.Thật là tuyệt đường sinh sống! Ông quyết không trở về làng vì về
làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ.
Qua những lời tâm sự mộc mạc, chân thật đầy cảm động với con, ta thấy được tấm
lòng yêu nước cao đẹp của người nông dân này. Như nhà văn hào I-li-a Ê-ren-bua có
nói: “Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu nước”. Ông Hai
đúng là một con người như thế – một con người thiết tha yêu làng, vì yêu làng nên ông
yêu nước, kính yêu cụ Hồ, quyết trung thành với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mới
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
14
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến
chống Pháp.
Bên trên chỉ là một đoạn tiêu biểu của phần thân bài (gồm nhiều đoạn), giáo
viên có thể hướng dẫn học sinh viết các đoạn khác nhau của các đề khác. Dù là đoạn
văn nào thì giáo viên cũng phải phân tích cho học sinh thấy rõ các cách trình bày nội
dung một đoạn văn. Thế là phải tích hợp với kiến thức Tiếng Việt 8 ở lớp dưới. Giáo
viên nhắc lại các cách trình bày tiêu biểu mà học sinh thường vận dụng viết đoạn văn
nghị luận (gồm 4 cách: diễn dịch, qui nạp, móc xích và song hành) nhưng đôi khi để
nhấn mạnh ý chính, ý khái quát của vấn đề cần phân tích, ta cũng có thể viết đoạn văn
hỗn hợp như đoạn văn thân bài trên. Đoạn thân bài trên được phân tích cách trình bày
như sau:
Đoạn văn trên gồm 17 câu.
Câu (1) là câu diễn đạt ý chính của đoạn: nêu khái quát đặc điểm yêu nước, yêu
làng của nhân vật ông Hai. (Câu này còn gọi là câu chủ đề).
Từ câu (2) đến câu (16) là các câu diễn giải cho ý chính (lòng yêu nước của
nhân vật ông Hai). Đó là những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, chính xác,
sinh động.
Câu (17) (câu cuối) là câu khẳng định lại và nâng cao lòng yêu nước của nhân
vật ông Hai (là vẻ đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Việt Nam thời
kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp).
Từ việc phân tích cách viết đoạn trên, giáo viên có thể minh hoạ bằng sơ đồ
đoạn văn nghị luận như sau:
Ý DIỄN GIẢI, DẪN CHỨNG TIÊU BIỂU
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
PHÂN TÍCH
KHÁI QUÁT
15
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Mục đích của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện là trình bày những nhận xét,
đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện hay chủ đề, tư tưởng và nghệ thuật của một tác
phẩm cụ thể. Cho nên sau khi đã thực hiện được các nhiệm vụ đó ở phần thân bài, giáo
viên tiến hành hướng dẫn học sinh khẳng định lại vấn đề ở đoạn kết bài.
3. Đoạn kết bài:
Đoạn kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã trình bày ở phần thân bài:
Chỉ nêu những ý nhận xét, đánh giá khái quát, không trình bày lan man hay lặp lại
ý diễn giải, minh hoạ ,cụ thể, chi tiết. Cũng không nên lặp lại nguyên văn lời lẽ của
phần mở bài. Khác với mở bài, phần kết bài thiên về đánh giá, tổng kết vấn đề.
Có nhiều cách kết bài khác nhau, tuỳ theo dụng ý của người viết. Có khi kết bài là
tóm tắt, khẳng định lại giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Có khi kết bài là tổng
hợp những cảm nhận sâu sắc về nhân vật, tác giả, tác phẩm. Có khi kết bài lại là liên
tưởng đến các vấn đề khác có liên quan.
Thế nên, để hướng dẫn học sinh viết được những kết bài sâu sắc, người giáo viên
cần phải giúp học sinh nhận thức được tầm quan trọng của đoạn kết bài (không chỉ
khép lại, hoàn chỉnh bài văn mà còn làm cho bài văn thêm khái quát, nâng cao về mọi
mặt: Tư tưởng, tình cảm, chủ đề, quan niệm sống tốt đẹp …)
Dưới đây là hai cách kết bài cho đề bài văn: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong
truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Cách 1: Đánh giá nhân vật và khẳng định giá trị tác phẩm
Ông Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng sâu sắc đối với
người đọc. Qua truyện này, bằng những tình huống, chi tiết chân thật, thú vị, bằng
nghệ thuật miêu tả tâm lí sinh động, Kim Lân đã đem đến cho chúng ta một hình tượng
hấp dẫn về người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình yêu
thiết tha, sự gắn bó sâu năng với làng quê, đất nước của nhân vật ông Hai luôn luôn
có ý nghĩa giáo dục thấm thía đối với các thế hệ bạn đọc.
Cách 2: Cảm nhận sâu sắc về nhân vật và tác giả, tác phẩm
Trong số rất nhiều nhân vật nông dân từ những trang truyện đi vào lòng người
đọc và đã chiếm được tình cảm yêu thương, quý mến, trân trọng nơi trái tim
sâu kín của mỗi người, có thể nói người đọc khó có thể quên được nhân vật ông Hai
trong tác phẩm Làng của Kim Lân – một người nông dân thuần phác, yêu làng, yêu
nước chứa chan, sâu nặng ,một lòng trung thành với kháng chiến, với cụ Hồ – đã trở
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
TỔNG HỢP
16
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
thành hình tượng nhân vật tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong thời kì đầu
của cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhà văn Kim Lân đã diễn tả được diễn biến tâm lí
phức tạp của nhân vật bằng chất liệu ngôn ngữ bình dị, mộc mạc, tạo được tình huống
bất ngờ, thú vị. Chính vì thế, nhà văn Kim Lân được đánh giá là cây bút hàng đầu về
đề tài nông thôn và người nông dân .
Có thể nói, hướng dẫn học sinh cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện
tức là đi tìm và khám phá ra cái hay, cái đẹp trong văn chương nghệ thuật. Từ khâu
phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và liên kết đoạn là cả một quá trình lao động
nghệ thuật sáng tạo. Giúp các em hiểu ra chân lí ấy sẽ là con đường ngắn nhất hướng
các em yêu thích văn chương và có hứng thú khi làm bài tập làm văn kiểu bài Nghị
luận về tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm truyện nói riêng.
Sau đây tôi xin giới thiệu giáo án của tiết dạy này:
CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN
( HOẶC ĐOẠN TRÍCH)
I- Mục tiêu cần đạt:
Giúp học sinh biết viết bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích cho
đúng yêu cầu của kiểu bài.
Rèn luyện kĩ năng thực hiện các bước khi làm bài nghị luận về tác phẩm truyện
(hoặc đoạn trích), cách tổ chức triển khai các luận điểm.
Rèn luyện năng lực tư duy tổng hợp và phân tích khi viết văn nghị luận.
Tích hợp với Văn qua các văn bản truyện đã học ở học kì I.
II- Chuẩn bị
– Thầy:
+ Sưu tầm, ra đề bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích phù hợp với
năng lực học sinh
+ Nêu hướng giải quyết các đề bài đã ra.
– Trò:
+ Ôn lại nội dung tiết học trước để nắm chắc nội dung và phương pháp của kiểu
bài về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích.
+ Ôn lại các tác phẩm truyện đã học ở học kì I.
III- Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy và học.
* Ổn định tổ chức
* Kiểm tra:
Giáo viên: Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện?
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
17
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Học sinh: Nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) là trình bày những
nhận xét, đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật của một tác
phẩm cụ thể.
Giáo viên: Cơ sở nào giúp em đưa ra những nhận xét đánh giá trên?
Học sinh: Những nhận xét, đánh giá về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt
truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết
phát hiện và khái quát.
Giáo viên: Các nhận xét và đánh giá đó phải đảm bảo những yêu cầu gì?
Học sinh: Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) trong bài
nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục.
Giáo viên: Nhận xét về bố cục, lời văn của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện
hoặc đoạn trích?
Học sinh: Bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích) cần có bố cục mạch lạc,
lời văn chuẩn xác, gợi cảm.
* Bài mới
I- Đề bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
Đọc các đề bài 1, 2, 3, 4 trong sách giáo khoa trang 64, 65.
Đề 1: Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ
Nương ở Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.
Đề 2: Phân tích diễn biến cốt truyện trong truyện ngắn Làng của Kim Lân.
Đề 3: Suy nghĩ về thân phận Thúy Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiều
của Nguyễn Du.
Đề 4: Suy nghĩ về đời sống tình cảm gia đình trong chiến tranh qua truyện ngắn
Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng.
Câu hỏi 1: Các đề bài trên đã nêu ra những vấn đề nghị luận nào về tác phẩm truyện?
Yêu cầu căn cứ vào đâu để nghị luận?
Trả lời:
Đề 1:
– Vấn đề nghị luận: Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ.
– Yêu cầu: Qua nhân vật Vũ Nương đề xuất những nhận xét về thân phận người phụ nữ
trong xã hội cũ.
Đề 2:
– Vấn đề nghị luận: Cốt truyện trong truyện ngắn: Làng- Kim Lân.
– Yêu cầu: Phân tích những đặc điểm nổi bật trong cốt truyện của tác phẩm.
Đề 3:
– Vấn đề nghị luận: Thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích.
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
18
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
– Yêu cầu: nêu suy nghĩ của bản thân về thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích (mở
rộng ra thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ) VD: Quyền sống của con người, địa vị
của người phụ nữ trong xã hội cũ.
Đề 4:
– Vấn đề nghị luận: Đời sống tình cảm gia đình.
– Yêu cầu: Nêu những suy nghĩ của bản thân về một vấn đề có tính khái quát: đời sống
tình cảm gia đình trong chiến tranh.
Câu hỏi 2: Các từ suy nghĩ, phân tích trong các đề bài trên đòi hỏi bài làm phải khác
nhau như thế nào?
Trả lời:
– Suy nghĩ là xuất phát từ sự cảm, hiểu của mình để nhận xét, đánh giá tác phẩm.
– Phân tích là xuất phát từ tác phẩm (cốt truyện, nhân vật, sự viêc, tình tiết ) để lập
luận và sau đó nhận xét, đánh giá tác phẩm.
Giáo viên lưu ý học sinh đây không phải là hai kiểu bài nghị luận
II- Các bước làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích)
Đề bài: Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng”- Kim Lân.
1/ Tìm hiểu đề, tìm ý
* Yêu cầu tìm hiểu đề:
– Đọc kĩ đề và gạch chân những từ quan trọng.
– Xác định thể loại, đối tượng nội dung của đề.
+ Thể loại: Nghị luận.
+ Đối tượng: Nhân vật ông Hai.
+ Nội dung: Truyện ngắn Làng – Kim Lân.
* Tìm ý:
Câu hỏi 1: Phẩm chất nổi bật nhất ở nhân vật ông Hai là gì?
Trả lời:
Tình yêu làng hoà quyện với tình yêu nước của ông Hai (nét mới trong đời sống
tinh thần của người dân trong kháng chiến chống Pháp).
Câu hỏi 2: Tình yêu làng, yêu nước bộc lộ trong những tình huống nào?
Trả lời: Tình huống thể hiện:
+ Khi nghe tin đồn làng theo giặc.
+ Khi nghe tin cải chính làng kháng chiến.
Câu hỏi 3: Các chi tiết nghệ thuật nào chứng tỏ tình yêu làng, yêu nước của ông Hai?
Trả lời:
+ Khi tản cư, ông Hai nghĩ đến những ngày hoạt động kháng chiến giữ làng cùng anh
em, đồng đội, điều đó chứng tỏ tình yêu làng của ông gắn bó với tình cảm kháng chiến.
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
19
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
Ông không chỉ là một công dân của làng mà còn là một chiến sĩ đã từng tham gia đánh
giặc giữ làng.
+ Khi tình cờ nghe tin làng theo giặc ông sững sờ nghẹ ngào và có mặc cảm xấu hổ bẽ
bàng với ý nghĩ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù!”
+ Khi tin đồn được cải chính thì ông Hai lại rạng rỡ, lại hào hứng kể chuyện Làng và
rất tự hào về cái làng của mình.
Câu hỏi 4: Ý nghĩa của tình cảm mới mẻ ấy của nhân vật?
Trả lời: Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật ông Hai và của những người nông
dân Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp. Đồng thời khẳng định thành công của tác
giả trong việc xây dựng tính huống truyện, xây dựng nhân vật.
2/ Lập dàn bài
Câu hỏi 1: Thông thường một bài văn gồm mấy phần? Là những phần nào? Nhiệm vụ
từng phần?
Trả lời: Gồm 3 phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
– Mở bài: Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, vấn đề cần nghị luận.
– Thân bài: Triển khai các luận điểm để làm rõ vấn đề.
– Kết bài: Nêu nhận định đánh giá chung về tác phẩm (hoặc đoạn trích).
Câu hỏi 2: Dựa vào các ý đã tìm được ở trên hãy lập thành dàn bài cho đề văn trên?
A. Mở bài: Giới thiệu khái quát:
– Tác giả Kim Lân.
– Tác phẩm: Làng
– Nhân vật ông Hai.
B. Thân bài:
a. Tình yêu làng gắn bó hòa quyện với lòng yêu nước:
– Khi tản cư, ông Hai nghĩ đến những ngày hoạt động kháng chiến giữ làng cùng anh
em, đồng đội, điều đó chứng tỏ tình yêu làng của ông gắn bó với tình cảm kháng chiến.
Ông không chỉ là một công dân của làng mà còn là một chiến sĩ đã từng tham gia đánh
giặc giữ làng.
– Khi tình cờ nghe tin làng theo giặc ông sững sờ nghẹn ngào và có mặc cảm xấu hổ
bẽ bàng với ý nghĩ: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù!”
– Khi tin đồn được cải chính thì ông Hai lại rạng rỡ, lại hào hứng kể chuyện Làng và
rất tự hào về cái làng của mình.
b. Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
– Chọn tình huống tin đồn thất thiệt để thể hiện nhân vật: Tình cờ nghe tin làng Chợ
Dầu theo Tây.
– Các chi tiết miêu tả hành động nhân vật:
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
20
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
+ Khi nghe tin làng theo giặc.
+ Khi nói chuyện với bà Hai.
+ Khi nghe mụ chủ nhà nói chuyện với vợ mình.
+ Khi trò chuyện với con trai út.
– Các chi tiết miêu tả nội tâm nhân vật ông Hai
+ Thông qua đối thoại với các nhân vật khác.
+ Thông qua độc thoại và độc thoại nội tâm.
C. Kết bài:
– Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật ông Hai: Thể hiện tình yêu làng, yêu nước
một nét mới trong tâm hồn của người nông dân.
– Thành công của nhà văn trong việc xây dựng tình huống truyện, xây dựng nhân vật.
3/ Hướng dẫn học sinh viết bài.
A. Mở bài:
Câu hỏi: Thông thường có những cách mở bài như thế nào?
Trả lời: Có nhiều cách mở bài, thông thường có 2 cách sau:
– Cách 1: Đi từ khái quát đến cụ thể (từ nhà văn đến tác phẩm và nhân vật).
– Cách 2: Nêu trực tiếp những suy nghĩ của người viết.
Giới thiệu 2 đoạn mở bài mẫu theo 2 cách trên:
Cách 1: Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Kim Lân là một gương mặt độc đáo.
Do hoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu sâu sắc sinh hoạt, tâm lý của người nông
dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Việt Nam với
những vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “Làng” là một truyên ngắn đặc sắc nhất của Kim
Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, thể hiện một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người
nông dân. Ai đến với “Làng”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dân
mang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân.
Cách 2: Tình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng ở
con người Việt Nam nói chung, đặc biệt ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn học
dân tộc từng xây dựng thành công nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhân
vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợp
như thế.
Hướng dẫn học sinh viết, sau đó trình bày mở bài của mình, giáo viên yêu cầu học
sinh khác nhận xét sửa chữa.
B. Thân bài: Lần lượt trình bày các luận điểm về nhân vật ông Hai theo dàn bài.
Trong quá trình làm bài, cần chú ý:
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
21
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
– Nêu rõ các nhận xét, ý kiến của mình về tình yêu làng lòng yêu nước của nhân
vật ông Hai, về cách thể hiện đặc sắc của Kim Lân.
– Ở từng luận điểm, cần có sự phân tích chứng minh cụ thể, chính xác bằng
những dẫn chứng trong tác phẩm (về tâm trạng, suy nghĩ; về lời nói, cử chỉ, hành động;
về thái độ của ông Hai đối với các nhân vật khác, ).
– Giữa các luận điểm, đoạn văn cần có sự liên kết, chuyển tiếp.
(1) Tình yêu làng gắn bó với lòng yêu nước:
+ Khi nghe tin đồn làng theo giặc: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân.
Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một
cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi”.
+ Với niềm tin và niểm tự hào về cái làng của mình, ông Hai đã tự vấn: “Ông lão bỗng
ngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốn
đến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những người
có tinh thần cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống, một chết với giặc, có đời nào
lại can tâm làm điều nhục nhã ấy! ”.
+ Khi tin đồn được cải chính, ông Hai mừng đến nỗi cứ “múa tay lên” mà khoe về cái
làng mình, ông hồn nhiên cả khi báo tin nhà mình bị Tây đốt: “Bác Thứ đâu rồi? Bác
Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới
lên trên này cải chính, ông ấy cho biết cải chính cái làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việt
gian ấy mà. Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả”.
(2) Nghệ thuật xây dựng nhân vật ông Hai:
+ Những hành động: Miêu tả đúng các “phản ứng” bằng hành động của một người
nông dân hiền lành, chất phác và chưa đọc thông viết thạo.
Khi muốn biết tin tức thì: “Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh ảnh chờ người khác
đọc rồi nghe lỏm”.
Khi nghe tin làng theo giặc thì: “Ông Hai cúi gằm mặt xuống đất mà đi”, rồi
“nắm chặt hai tay mà rít lên: “Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi
làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này?”.
Khi tin đồn được cải chính thì: “Ông lão cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy với
mọi người”.
+ Tâm trạng: Miêu tả đúng tâm trạng của một người nông dân yêu làng, yêu nước một
cách hồn nhiên trong sáng.
Khi nghe tin làng theo giặc thì bị dằn vặt đau khổ: “Đã ba bốn hôm nay, ông Hai
không bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốt
ngày ông chỉ quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội ấy mà nghe ngóng. Nghe ngóng
xem binh tình bên ngoài ra sao. Một đám đông túm lại, ông cũng để ý, dăm bảy tiếng
cười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đang
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
22
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
để ý, người ta đang bàn tán đến “cái chuyện ấy”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây,
Việt gian, cam – nhông là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi!”.
Khi tin đồn được cải chính thì: “Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng
rỡ hẳn lên”.
+ Ngoài ra, còn phải kể đến các hành động, lời nói, suy nghĩ của nhân vật ông Hai
trong mối quan hệ với các nhân vật khác như: bà Hai, các con, mụ chủ nhà
C. Kết bài:
Ông Hai trong “Làng” là một nhân vật tạo được ấn tượng sâu sắc đối với người đọc.
Qua truyện ngắn này, tác giả đã khắc họa thành công hình tượng một người nông dân
yêu làng, yêu nước, hồn nhiên, chất phác nhưng rất xúc động. Hình tượng nhân vật ông
Hai vừa phản ánh chân thực những nếp cảm, nếp nghĩ của người nông dân Việt Nam
trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vừa có ý nghĩa giáo dục sâu sắc
với nhiều thế hệ bạn đọc.
4/ Hướng dẫn học sinh đọc lại bài và sửa chữa:
– Gọi học sinh trình bày bài viết của mình.
– Nhận xét bài làm của học sinh về các mặt sau.
+ Cấu trúc của bài văn đã đủ ba phần rõ ràng chưa.
+ Sự liên kết giữa các câu, đoạn trong văn bản đã chặt chẽ, lôgic chưa.
+ Có lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả nào cần sửa.
– Yêu cầu học sinh sửa chữa, giáo viên nhận xét, cho điểm bài làm tốt.
GHI NHỚ
Câu hỏi 1: Từ việc tìm hiểu trên hãy rút ra cách làm văn nghị luận về chủ đề tác phẩm
truyện (hoặc đoạn trích)?
Trả lời: Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) có thể bàn về chủ đề nhân
vật, cốt truyện, nghệ thuật của truyện.
Câu hỏi 2: Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) gồm có mấy phần?
Nhiệm vụ từng phần?
Trả lời:Gồm ba phần:
– Mở bài: Giới thiệu tác giả tác phẩm và ý kiến đánh giá khái quát của mình.
– Thân bài: nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm (có
phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực).
– Kết bài: Nêu nhận định đánh giá chung của mình về tác phẩm.
GV lưu ý thêm cần trình bày sự cảm thụ ý kiến riêng của người viết. Có sự liên kết
tự nhiên, hợp lí các phần, các đoạn.
Gọi một học sinh đọc phần ghi nhớ SGK trang 68.
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
23
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
III- Luyện tập
Đọc đề bài: “Suy nghĩ của em về truyện Lão Hạc của Nam Cao”
Yêu cầu: Viết phần Mở bài và một đoạn phần Thân bài
Xem thêm: Top 9 giải vở bài tập lịch sử 8
1. Tìm hiểu đề, tìm ý
Câu hỏi 1: Xác định thể loại và yêu cầu của đề bài?
Trả lời:
– Thể loại: Nghị luận
– Nội dung: Truyện ngắn Lão Hạc.
Câu hỏi 2: Với đề bài trên, cần đảm bảo những ý chính nào?
* Nội dung
– Cuộc sống của Lão Hạc
– Vẻ đẹp tâm hồn Lão Hạc
* Nghệ thuật
– Xây dựng tình huống.
– Xây dựng nhân vật.
2. Lập dàn ý.
Hãy lập dàn ý đại cương cho đề bài trên?
A. Mở bài:
+ Giới thiệu tác giả – tác phẩm.
+ Ý kiến đánh giá sơ bộ
B. Thân bài:
– Luận điểm 1: Cuộc sống của Lão Hạc.
+ Hoàn cảnh gia đình của Lão Hạc
+ Tình thế lựa chọn của Lão Hạc.
– Luận điểm 2: Vẻ đẹp tâm hồn Lão Hạc
+ Giàu tình yêu thương: con trai, cậu Vàng.
+ Giàu lòng tự trọng.
+ Tấm lòng hi sinh cao quý.
C. Kết bài:
– Đánh giá nhân vật Lão Hạc
– Thành công của nhà văn
3. Hướng dẫn học sinh viết phần mở bài và một đoạn phần thân bài cho đề bài trên:
Gợi ý:
a. Mở bài
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
24
Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tác phẩm (hoặc đoạn trích)
trong chương trình Ngữ văn lớp 9
– Mở bài trực tiếp: Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao đã để lại cho em những
suy nghĩ sâu sắc về số phận của người nông dân trong xã hội cũ. Lão Hạc không chỉ là
một người nông dân bị bần cùng hóa vì đói nghèo, tối tăm như bao nhiêu người nông
dân khác, mà có lẽ lão còn là một kiểu “nạn nhân” của bổn phận làm cha. Đây chính
là tấn bi kịch tinh thần đầy nước mắt của người nông dân nghèo nhưng giàu lòng tự
trọng và luôn tự vấn lương tâm mình một cách nghiêm khắc.
– Mở bài gián tiếp: Có một nhà văn đã nói: “Xúc động trước một nhân vật nào đó
tức là ta đã sống thêm một cuộc đời mà ta chưa từng sống và sẽ không bao giờ được
sống, nếu ta không đọc tác phẩm văn học!”. Ta có thể thương cảm xót xa với tấn bi
kịch tinh thần của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “Đời thừa”, có thể rơi nước mắt với
tấn bi kịch hoàn lương của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “Chí Phèo” và giờ
đây, ta xúc động nghẹn ngào với tấn bi kịch làm cha của nhân vật Lão Hạc trong
truyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Với lão Hạc có lẽ ấn tượng sâu sắc nhất đối với
người đọc chính là cái chết dữ dội của lão bởi đó là một cái chết có hình thức giống
như cái chết của một con vật vô chủ. Nhưng về bản chất, đó chính là sự hy sinh tuyệt
đối của một người cha cho một người con mà cả hai cha con đều là những kẻ bất
hạnh.
b. Một đoạn thân bài: Vẻ đẹp tâm hồn lão Hạc:
Tấm lòng Nam Cao luôn hé mở để ngòi bút sâu sắc tìm đến biết bao phẩm chất
tốt đẹp của lão Hạc, như ánh lửa toả sáng trong bóng tối nghèo khổ, cô đơn. Khác với
Chí Phèo khi say rượu thường đến nhà Bá Kiến doạ dẫm, xin tiền, lão Hạc phải cày
thuê phải cuốc mướn, bon chen mới kiếm được miếng ăn qua ngày. Tuy vất vả, khó
khăn nhưng có lẽ bản tính cần cù, chăm chỉ không cho phép lão ngửa tay xin đồng tiền
thiên hạ bố thí. Thật đáng khâm phục. Và lòng khâm phục sâu đậm hơn bao giờ hết
nếu ta biết được lão yêu con lão đến nhường nào. Vợ mất, lão sẵn sàng hi sinh quãng
đời còn lại nuôi con khôn lớn. Vậy mà không lấy được vợ, con trai lão bỏ đi phu cao
su, lão chẳng trách con một lời, chỉ khóc: “ Tháng mười năm ấy con kia lấy chồng.
Thằng con tôi đâm quẫn chí, ra tỉnh kí giấy xin làm đồn điền cao su. Tôi chỉ biết khóc
chứ còn biết làm sao nữa”. Từ đó, bao nhiêu tiền bòn vườn, lão dành hết cho con.
Cuộc đời đau khổ, tối tăm, mù mịt càng tôn thêm vẻ đẹp tâm hồn lão. Trong cảnh cô
đơn, hưu quạnh, lão chỉ có cậu Vàng kỉ vật của con làm bầu bạn. “Cậu Vàng” – tiếng
gọi sao tình cảm tha thiết đến thế! Phải chăng, trong câu chuyện nói với Vàng, lão vẫn
ấp ủ hi vọng con trai sẽ trở về: “Cậu có nhớ bố cậu không, hả cậu Vàng? Bố cậu lâu
lắm không viết thư. Chẳng biết cuối năm nay có về không?” Và, với trái tim nhân hậu,
lão quyết tâm để lại cho mảnh vườn, dù phải hi sinh quãng đời còn lại. Thật là một con
người đáng kính trọng biết nhường nào. Kết thúc thiên truyện ngắn, tấm lòng chân
thành hết mực của tác giả đã viết lên trang sách những lời thiêng liêng: Lão Hạc ơi!
Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo:
Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường
25
kì văn học nhất định ( hoàn toàn có thể cách xa thời đại mà những em sống lúc bấy giờ cả hàng thế kỉ, hàng thập niên … ). Tác phẩm văn chương dù nhỏ nhất : là một câu tục ngữ, một bài cadao, hay lớn hơn là một bài văn, một bài thơ, một truyện ngắn hay một bộ tiểu thuyếtđều có giá trị về nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật của nó. Làm thế nào để giáo viên giúp học sinhđồng cảm với những giá trị tư tưởng nhân văn cần đạt tới trong mỗi tác phẩm là nhiệmvụ giảng dạy của giáo viên dạy Ngữ văn. Lep – Tôn – XTôi nói : “ Vấn đề không phải biết là quả đất tròn mà là làm thế nàođể biết được quả đất tròn ? ”. Chân lí là quý báu ! Nhưng cách tìm ra chân lí còn quý hơnnhiều. Vì thế, cái khó trong việc dạy văn, nhất là dạy Tập làm văn kiểu bài Nghị luậnvề tác phẩm truyện là làm thế nào hướng cho học viên tìm ra cái hay, cái đẹp trong cáctác phẩm. Nghị luận tác phẩm văn học nói chung, tác phẩm truyện nói riêng là một kiểubài nghị luận văn học có vị trí quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 9. Thông qua việc đọc và học tác phẩm văn học, học viên chẳng những đã có một vốn kháphong phú vÒ kiến thức và kỹ năng văn học ( tác phẩm, thể loại … ) và cũng đã được nâng cao dầnvề năng lượng cảm thụ, nghiên cứu và phân tích, bình giá tác phẩm … Đó là một thuận tiện. Nhưng mặtkhác, cũng cần nắm vững nhu yếu và mức độ cần đạt của kiểu bài nghị luận về tácphẩm trong chương trình Tập làm văn 9 để không như nhau nhu yếu và mức độ phântích tác phẩm trong chương trình văn học và khi làm bài Tập làm văn ở lớp 9. Tác phẩm văn học khi nào cũng là một tổng thể và toàn diện hoàn hảo giữa nội dung vàphương thức miêu tả, tức là nghệ thuật và thẩm mỹ. Nghị luận một tác phẩm truyện là trình bàynhững nhận xét, nhìn nhận của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật và thẩm mỹ của mộttác phẩm đơn cử. Những nhận xét, nhìn nhận về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốttruyện, tính cách, số phận của nhân vật và thẩm mỹ và nghệ thuật trong tác phẩm được người viếtphát hiện và khái quát. Các nhận xét, nhìn nhận về tác phẩm truyện trong bài nghị luậnphải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. Bài nghị luận về tác phẩmtruyện phải có bố cục tổng quan ngặt nghèo, mạch lạc, có lối văn chuẩn xác, quyến rũ. Như vậy, đểđáp ứng nhu yếu làm một bài văn nghị luận về tác phẩm truyện, người giáo viên cầncho học viên hiểu rõ đặc thù tổng hợp của kiểu bài nghị luận này. Giáo sư Lê Trí Viễn cũng có lời nhắn nhủ : “ Dạy văn lấy cảm làm đầu ”. Ngườigiáo viên dạy học viên giải pháp làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện khôngthể nghèo nàn cảm hứng. Bởi những trang truyện hay, những số phận của những nhân vậtPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 trong truyện đều có cuộc sống riêng, có tư tưởng, tình cảm, nội tâm … đa dạng chủng loại và đadạng. Cho nên trong hướng gợi ý học viên trình diễn những cảm nhận, nhìn nhận về nhânvật, sự kiện, chủ đề … trong tác phẩm truyện phải xuất phát từ những rung cảm chânthật, thẩm mĩ. Đồng thời biết tích hợp linh động nhiều phép lập luận ( lý giải, chứngminh, nghiên cứu và phân tích, … ). Trong khi hướng dẫn học viên cách làm bài và rèn luyện, giáo viêncần quan tâm phát huy, động viên tính tích cực, dữ thế chủ động, phát minh sáng tạo của từng học viên chứkhông gò ép theo những khuôn mẫu. Người giáo viên phải biết khơi gợi những cảmxúc của học viên, kích thích và nuôi dưỡng, tăng trưởng ở học viên những nhu yếu đồngcảm và khát vọng nhận thức cái mới qua hình tượng nhân vật, ngôn từ đối thoại, độcthoại, Vì vậy, nếu ai đó tự cho rằng mình đã gợi không thiếu những sáng tạo độc đáo của tác phẩm quatừng trang truyện thì chưa hẳn là một giáo viên dạy tốt, nắm chắc giải pháp hướngdẫn học viên cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện. II. Thực trạng ( trước khi tạo ra sáng tạo độc đáo ) 1. Thuận lợiTrong chương trình trung học cơ sở, học viên được học nhiều bộ môn khácnhau. Bên cạnh những môn khoa học tự nhiên nhiều học viên cho là khó, hóc búa, cácbộ môn khoa học xã hội được cho là dễ tiếp cận hơn. Với môn ngữ văn, nhiều học sinhcòn ngại học văn tuy nhiên không phải những em không có hứng thú bởi đây là bộ môn củanghệ thuật ngôn từ. Không ít tác phẩm đã làm say lòng những “ sĩ tử ” ngại học văn. Nhất là so với tác phẩm truyện, một trường hợp mê hoặc, một nhân vật tiêu biểu vượt trội, mộtchi tiết thắt nút, mở nút hoàn toàn có thể làm biến hóa thái độ của học viên so với môn văn. Giáo viên kích thích học viên ở những điều đó, học viên sẽ hứng thú tìm hiểu và khám phá, đánh giátác phẩm văn học hơn. Trong những cấp học đại trà phổ thông, kì thi nào cũng đụng đến môn văn. Mà đã có thiphải có học, có rèn do đó học viên không khi nào bỏ được làm bài văn nói chung vànghị luận về tác phẩm văn học nói riêng. Về phía giáo viên là người gắn bó với nghiệp văn chương, chắc như đinh sẽ yêuthích tìm tòi mày mò những điều được tác giả gửi gắm trong từng tác phẩm. Giáoviên mê hồn với nghề dạy văn là một điều kiện kèm theo thuận tiện giúp giáo viên hướng dẫn họcsinh khám phá văn học tốt hơn. 2. Khó khănHọc sinh ngại học văn, càng ngại viết văn hơn đó là khó khăn vất vả lớn nhất. Trongnhững năm gần đây, học sinh khối lớp 9 viết bài tập làm văn kiểu bài Nghị luận về tácphẩm truyện thường khô cứng, sáo rỗng, lúng túng và máy móc … Các em thường dựavào văn mẫu hoặc dựa vào những ý trong đề cương hay trong dàn ý thầy cô cho sẵn màviết lại nên rất hạn chế về mạch xúc cảm ( không chân thực, còn gượng ép … ). Rất íthọc sinh chịu khó tìm tòi, tò mò ra những ý mới, ý riêng, ý thâm thúy, ý hay do chínhbản thân những em cảm nhận, thật sự rung động với tác phẩm. Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9M ặt khác, hầu hết những em học viên thường không khám phá kĩ đề bài và tìm ý trướckhi bắt tay vào làm bài viết của mình nên thường xô lệch kiểu bài, nhầm lẫn những dạngđề. Đề bài Nghị luận về tác phẩm truyện thường có những dạng đề mệnh lệnh và “ mở ”. Các mệnh lệnh thường gặp là “ tâm lý ” ( về nhân vật, tác phẩm … ), “ cảm nhận củaem ” ( về nhân vật, tác phẩm … ). Đối tượng nghị luận hoàn toàn có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng hay những đổi thaytrong số phận nhân vật … ) theo khoanh vùng phạm vi yếu tố trong những bài đọc hiểu tác phẩm truyệnsách giáo khoa ) yên cầu những em phải có tư duy kỹ năng và kiến thức, tích hợp, tổng hợp và phântích mới bảo vệ được nhu yếu của từng đề bài văn đơn cử. Về phía giáo viên, không ít thầy cô còn lo lắng khi dạy phân môn Tập làm văn. Qua nhiều năm theo dõi trào lưu thi đua dạy giỏi những cấp và dạy tốt ở trường, giáoviên thường chỉ đăng kí dạy phân môn Giảng văn và Tiếng Việt. Bởi dạy phân mônTập làm văn nhất là kiểu bài Nghị luận về tác phẩm truyện, giáo viên phải tìm tòinghiên cứu kĩ về tác phẩm, phải thực sự nhập tâm vào diễn biến, vào nhân vật, phảiđặt mình trong thực trạng nhân vật sống, nhân vật tâm lý và hành vi … đòi hỏigiáo viên phải vận dụng, tổng hợp nhiều kỹ năng và kiến thức, kể cả vốn sống, vốn tư tưởng tìnhcảm. Thế là giáo viên phải tìm ra giải pháp tích hợp giữa văn và đời, giữa thực tạivà hư cấu … Có thực thi được như vậy, mới hoàn toàn có thể bảo vệ được đặc trưng của phânmôn : “ Dạy văn – Dạy người ” như nhà văn M. Gorki từng nói : “ Văn học là nhân học ”. Là giáo viên nhiều năm dạy Ngữ văn trong Trường trung học cơ sở, tôi luôn tâm đắc câunói của dân gian : “ Cho cá không thích bằng nhận được cần câu ”. Nếu ví bộ cần câu làphương pháp và cá ăn là kiến thức và kỹ năng thì sự nhìn nhận về vai trò, tầm quan trọng của hoạtđộng dạy và học của giáo viên và học viên là phải tìm tòi và phát minh sáng tạo. Chính vì thế, trong quy trình giảng dạy, tôi luôn trân trọng, nhìn nhận cao những bài làm có nét riêng, bộc lộ được những cảm hứng chân thực, những nhận xét, nghiên cứu và phân tích tinh khôi, sáng tạocủa những em so với một tác phẩm, một nhân vật ( một yếu tố hay một góc nhìn củavấn đề bộc lộ trong tác phẩm … ). Đó cũng chính là nguồn động viên không nhỏ giúptôi góp vốn đầu tư và quyết định hành động viết kinh nghiệm tay nghề này, góp thêm phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc của giáo viên – học viên. Đồng thời qua đây, xin được góp một tiếng nói riêng, mộtý kiến nho nhỏ cho trào lưu “ Dạy Tốt – Học Tốt ” của Trường THCS Xuân Trườngnói riêng và cho ngành Giáo dục – Đào tạo huyện Xuân Trường nói chung. III, Các giải pháp ( trọng tâm ) Ở những lớp dưới, học viên đã được học về những kiểu văn bản đơn cử. Chẳng hạnlớp 7 đã học về văn bản biểu cảm, về văn nghị luận ( trong đó có phép lập luận chứngminh và phép lập luận lý giải ). Lớp 8 học tiếp khá kĩ về văn bản nghị luận, về cáchnói và viết bài văn nghị luận có sử dụng những yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Vì thếPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 tiết dạy Cách làm bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) ở lớp 9 phải cósự thừa kế, nâng cao kỹ năng và kiến thức, kĩ năng đã rèn luyện ở những lớp trước. Sự thừa kế, nângcao này cần bộc lộ rõ nhất ở việc nhấn mạnh vấn đề tính tổng hợp của tri thức, của kĩ năngvà tăng cường hoạt động giải trí thực hành thực tế của học viên. Thật ra trong một bài nghị luận vănhọc, người viết thường vận dụng nhiều thao tác, kĩ năng ( lý giải, chứng tỏ, phântích, bình giảng ) và nhiều khi khó hoàn toàn có thể tách bạch một cách rạch ròi những thao tác, kĩnăng. Trong thao tác nghị luận này đã có hoặc đang sử dụng thao tác nghị luận kia. Giáo viên cần chỉ rõ cho học viên thực tiễn ấy, từ đó giúp những em biết trình diễn một cáchcó lí lẽ, mê hoặc những cảm nhận, tâm lý, nhìn nhận của mình về một yếu tố văn học. Bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) thuộc nghị luận văn học làbài văn nhận xét, nhìn nhận về nhân vật, sự kiện chủ đề hay thẩm mỹ và nghệ thuật của tác phẩmtruyện ( hoặc đoạn trích ). Đề bài nghị luận hoàn toàn có thể đưa ra về nhân vật, về chủ đề, về cốttruyện hay về nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm. Đề bài nghị luận này cũng có những dạng : đề mệnh lệnh và đề “ mở ”. Các mệnh lệnhthường gặp là “ tâm lý ” ( về nhân vật, tác phẩm ), “ cảm nhận của em ” ( về nhânvật, tác phẩm ). Đối tượng nghị luận hoàn toàn có thể là tác phẩm, nhân vật, tư tưởng haynhững thay đổi trong số phận nhân vật ( theo khoanh vùng phạm vi yếu tố trong những bài đọc hiểutác phẩm truyện ở sách giáo khoa ). Cần cho học viên hiểu rõ đặc thù tổng hợp của kiểu bài nghị luận về một tácphẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) : – Trình bày những cảm nhận, nhìn nhận phải có lí lẽ, lập luận, đồng thời phảiqua nghiên cứu và phân tích, chứng tỏ bằng những dẫn chứng đơn cử. – Kết hợp đồng thời, linh động nhiều phép lập luận ( lý giải, chứng tỏ, nghiên cứu và phân tích, ). Trong khi hướng dẫn cách làm bài và rèn luyện, giáo viên cần quan tâm phát huyđộng viên tính tích cực phát minh sáng tạo của học viên, rất nên khuyến khích những tâm lý, những cách trình diễn có sắc tố riêng của những em, tránh gò ép xu thế quá rõ chohọc sinh theo những khuôn mẫu. A. Hướng dẫn học viên nghiên cứu và phân tích đềĐây là khâu vô cùng quan trọng, trước kia khi chưa vận dụng ý tưởng sáng tạo kinhnghiệm này tôi thường xem nhẹ khâu này vì vậy trong quy trình làm bài vẫn còn hiệntượng 1 số ít học viên làm sai đề, lạc đề. Một đề bài Tập làm văn còn được xem làmột bài toán thẩm mỹ và nghệ thuật ngôn từ. Bởi khi nào trong một đề bài Tập làm văn cũng cónhững nhu yếu bắt buộc mà người triển khai đề bài phải tìm ra chiêu thức giải. Vìthế, bước nghiên cứu và phân tích đề được xem là khâu tiên phong, có vai trò quyết định hành động “ dẫn đường, chỉ lối ” cho người làm bài. Nếu nghiên cứu và phân tích đúng nhu yếu của đề bài thì sẽ tìm ra đượchướng đi đúng. Ngược lại, nếu nghiên cứu và phân tích sai thì sẽ không cung ứng được nhu yếu của đề, đôi lúc còn bị lệch đề, lạc đề. Chính do đó mà người giáo viên phải hướng dẫn họcPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 sinh phải ghi nhận nghiên cứu và phân tích kĩ đề. Một đề bài văn Nghị luận về tác phẩm truyện không baogiờ như nhau một dạng đề đơn điệu. Trái lại, nó có rất nhiều dạng, nhưng hầu hết ỏlớp 9 dạng thường gặp 3 dạng đề cơ bản sau đây : Dạng đề I : Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một góc nhìn nhânvật, tác phẩm. Ví dụ như những đề + Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn : “ Làng ” của Kim Lân ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ) + Suy nghĩ của em về truyện ngắn “ Lão Hạc ” của Nam Cao ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 66 ) Dạng đề II : Phân tích đặc thù nhân vật, tác phẩm hoặc một khía cạnhvề nhân vật, tác phẩm. Ví dụ như những đề : + Phân tích diễn biến diễn biến trong truyện ngắn Làng củaKim Lân ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ) + Phân tích tâm trạng của Kiều trong đoạn trích : ” Mã GiámSinh mua Kiều ” ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 66 ) Dạng đề III : Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một vấnđề. Ví dụ như những đề : + Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật VũNương ở truyện Người con gái Nam Xương ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ). + Suy nghĩ về đời sống tình cảm mái ấm gia đình trong cuộc chiến tranh qua tuyện ngắnChiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ) Tuỳ theo mỗi dạng đề bài mà giáo viên hướng dẫn học viên những thao tác làmbài khác nhau. Đối với dạng đề I và dạng đề II học viên thường hay nhầm lẫn, giáo viên phảihướng dẫn cho học viên biết phân biệt rõ thế nào là tâm lý về nhân vật, về tác phẩm ? Thế nào là nghiên cứu và phân tích nhân vật, tác phẩm ? Suy nghĩ về nhân vật, tác phẩm hoặc một góc nhìn về nhân vật, tác phẩmlà nghiêng về cảm nhận chủ quan của người viết về nhân vật, tác phẩm hay một khíacạnh nào đó về nhân vật, tác phẩm ( không nhất thiết phải nghiên cứu và phân tích khá đầy đủ từng đặcđiểm của nhân vật hoặc rất đầy đủ giá trị nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm, hoàn toàn có thể chọnnhững gì mình cảm nhận thâm thúy nhất mà thôi. Ví dụ đề bài : Suy nghĩ về nhân vật ôngHai trong truyện ngắn : ” Làng ” của Kim Lân, giáo viên hoàn toàn có thể hướng dẫn học viên cảmnhận, tâm lý về nét điển hình nổi bật của nhân vật này là tình yêu làng quyện với lòng yêunước và ý thức kháng chiến được thể hiện trong trường hợp nào ? Tình cảm ấy có đặcđiểm gì ở thực trạng đơn cử lúc bấy giờ ? ( Thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp ? ) Những cụ thể thẩm mỹ và nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động. mê hoặc tình yêulàng và lòng yêu nước ấy ( về tâm trạng, cử chỉ, lời nói … ) Trong khi đó nhu yếu củaPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 dạng đề II ( nghiên cứu và phân tích nhân vật, tác phẩm hay một góc nhìn về nhân vật, tác phẩm ) làyêu cầu người viết tìm hiểu và khám phá, nhìn nhận và nhận xét rất đầy đủ từng đặc thù nhân vật, từnggiá trị nội dung, thẩm mỹ và nghệ thuật của tác phẩm. Đối với dạng đề III : Phân tích để nêu ra nhận xét hoặc làm sáng tỏ một yếu tố, người giáo viên phải biết tích hợp những kỹ năng và kiến thức chương trình Tập làm văn ở những lớpdưới để nâng cao nhu yếu xử lý đề bài văn dạng này. Ví dụ so với đề bài : “ Suynghĩ về đời sống tình cảm mái ấm gia đình trong cuộc chiến tranh qua tuyện ngắn : ” Chiếc lược ngà ” của Nguyễn Quang Sáng ( Sách giáo khoa Ngữ văn 9 trang 65 ), học viên không phảiđơn thuần tập trung chuyên sâu nghiên cứu và phân tích những biểu lộ đơn cử tình cảm cha con của hai nhân vậtông Sáu và bé Thu mà còn phải trình diễn những cảm nhận của mình về tình cảm chacon rất là cảm động trong thực trạng éo le của thời cuộc chiến tranh : chịu đựng nhiều thiệtthòi mất mát … ; khơi gợi nhiều xúc cảm cho người đọc niềm cảm động, khâm phục, quý mến … Từ đó tâm lý về tình cảm cha con, tình cảm mái ấm gia đình trong hoàn cảnhhiện tại : phải biết trân trọng, giữ gìn, vun đắp … Từ việc nghiên cứu và phân tích ba dạng đề nêu trên, giáo viên giúp học viên nhận thức được tầmquan trọng của việc nghiên cứu và phân tích, khám phá đề và biết vận dụng thành thạo, linh động đểhình thành những thao tác và kĩ năng nghiên cứu và phân tích đề đúng chuẩn, làm cơ sở cho việc tìm ý. Tuỳ theo nhu yếu của mỗi dạng đề ( như nghị luận hàng loạt tác phẩm, nghị luận một vấnđề trong tác phẩm hay nghị luận có phối hợp xử lý một yếu tố có tương quan ) mà xácđịnh nội dung và trình tự nghiên cứu và phân tích ( khái quát – nghiên cứu và phân tích – tổng hợp ). Căn cứ vào nộidung và trình tự nghiên cứu và phân tích, đặt ra và vấn đáp những câu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ của bài văn. B. Hướng dẫn học viên tìm ý : Một bài nghị luận tác phẩm văn học nói chung và nghị luận về tác phẩm truyệnnói riêng hay, trước hết phải có ý hay. Vậy ý hay là gì ? Và thế nào là ý hay ? Làm thếnào để tìm ra được những ý hay cho bài. Theo định nghĩa của sách giáo khoa Tiếng Việt 8 ( Nhà xuất bản Giáo Dục ) trước đây thì ý là nội dung ta tâm lý, nhìn nhận, tìm hiểu và khám phá, nhìn nhận … về sự vật, sựviệc được phản ánh, gồm có cả cách nhìn nhận sự vật, vấn đề và tình cảm, cảmxúc, Ý hoàn toàn có thể diễn đạt thành nhiều lời. Còn ý hay thì theo đặc san văn học và tuổi trẻ ( số 68 tháng 2/2002 ) ; Giáo sưNguyễn Đăng Mạnh cho rằng : “ Ý hay trước hết phải là ý đúng, ý sâu, ý mới, ý riêng. Ý đúng, ý sâu phải là ý của mình mày mò mới hay. Cho nên tìm ra ý mới, ý riêng, ýđúng, ý sâu là việc làm quyết định hành động nhất và tất yếu cũng là khó khăn vất vả nhất ”. Tác phẩm văn học nhất là tác phẩm truyện là tấm gương phản ánh hiện thực củacuộc sống muôn màu, muôn vẻ trải qua những hình tượng nhân vật với không thiếu tưtưởng, tình cảm nội tâm đa dạng và phong phú, đặt trong những trường hợp, thực trạng có vấn đềmấu chốt, đơn cử, tiêu biểu vượt trội … đại diện thay mặt cho một những tầng lớp nào đó trong đời sống đờithường. Vì thế, muốn tìm được ý đúng, ý hay, ý thâm thúy, người giáo viên phải hướngPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 học viên đọc hiểu tác phẩm truyện. Đọc hiểu trước hết là phải đọc kĩ tác phẩm để nắmcốt truyện, chủ đề, những ý chính, những chi tiết cụ thể tiêu biểu vượt trội của từng ý, những dẫn chứng thuyếtphục … Không đọc kĩ tác phẩm, học viên khó lòng nắm được ý đồ của tác giả, dễ dàngbỏ qua những điểm rực rỡ về nội dung cũng như thẩm mỹ và nghệ thuật của tác phẩm ; từ đó phântích hời hợt, nhìn nhận chung chung. Bởi để viết ra được một tác phẩm, người nghệ sĩ đãphải trải qua những trăn trở, họ tự đặt ra những nhu yếu, những xu thế khắc nghiệt : Viết về yếu tố gì ? Viết về đối tượng người tiêu dùng nào ? Viết cho ai ? Viết như thế nào ? Họ đã phảithay nghén tác phẩm truyện – đứa con ý thức của họ – suốt bao tháng, bao năm. Họđã phải lựa chọn từng hình ảnh có thực trong trong thực tiễn rồi khái quát lên thành nhân vật, dùng ngòi bút vẽ nên bức chân dung của xã hội sao cho tương thích với từng thời điểmlịch sử. Họ phải nghiền ngẫm từng chi tiết cụ thể, đắn đo từng câu, chữ, từng lời ăn lời nói, từng hành vi của mỗi nhân vật … đặt trong những trường hợp đơn cử, mấu chốt củatác phẩm. Ví dụ với đề bài : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng củaKim Lân. Nếu học viên không đọc kĩ tác phẩm này, thì không hề tìm ra được những ýhay, ý rực rỡ. Các em sẽ thuận tiện rơi vào công thức chung chung, tâm lý hời hợt, không tò mò ra nét mới trong tình cảm so với làng quê của nhân vật ông Hai. Đólà một trường hợp tiêu biểu vượt trội cho những chuyển biến mới trong đời sống tình cảm củangười nông dân Nước Ta thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. Tình cảm gắn bósâu nặng với quê nhà là một đặc thù có tính truyền thống lịch sử nhưng nét đăc sắc ở đâylà nhà văn Kim Lân, bằng vốn sống, vốn am hiểu về tâm lí của người nông dân đã đặtông Hai vào một trường hợp gay cấn, thử thách lòng yêu nước tuyệt đối của nhân vật, để buộc nhân vật phải đấu tranh tư tưởng gay go, kinh khủng để lựa chọn một trong haigiữa tình yêu làng và tình yêu nước, trung thành với chủ với kháng chiến, với Bác Hồ. Nếu họcsinh không đọc kĩ từng trang truyện, thì làm thế nào đồng cảm được nỗi lòng của ông Haivới cuộc đấu tranh nội tâm đau đớn, vật vã … để ở đầu cuối nhân vật mới đi đến quyếtđịnh dứt khoát : “ Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù ”. Rõ ràngđể có được những tâm lý và nhận xét thâm thúy về nhân vật ông Hai trong truyện ngắnLàng làm thế nào những em hoàn toàn có thể không đọc kĩ tác phẩm. Có đọc kĩ tác phẩm những em mớicảm thụ hết những trường hợp mê hoặc, những chi tiết cụ thể hay trong tác phẩm. Từ đó ý tứ mớituôn trào, tâm lý về nhân vật mới thâm thúy. Sau khi đọc kĩ tác phẩm truyện, tò mò ra được cái hay, cái đẹp, cái đăc sắctrong từng yếu tố nội dung, thẩm mỹ và nghệ thuật và nhân vật, học viên tự đặt ra và vấn đáp nhữngcâu hỏi để có những ý lớn, ý nhỏ … của bài văn. Dưới đây là những dạng câu hỏi gợi ý, giúp học viên tìm ý : Câu hỏi tìm hiểu và khám phá tác giả, nguồn gốc, thực trạng sáng tác : Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9T ác giả của tác phẩm truyện sẽ nghị luận là ai ? Có những nét gì điển hình nổi bật trongcuộc đời và sự nghiệp sáng tác ? Sống trong thời kì nào ? Có nét riêng, nét độc lạ gì vềphong cách cá thể ? Chuyên sáng tác về mảng đề tài nào ? Sự nghiệp sáng tác thế nào ? Tác phẩm truyện trên được trích từ đâu ? Được sáng tác trong thực trạng nào ? Tác phẩm được nhìn nhận như thế nào ? Có phải là tác phẩm tiêu biểu vượt trội cho sự sáng tácvăn chương của tác giả không ? … Câu hỏi khám phá giá trị nội dung : Đề bài gồm mấy ý ? Ý nghĩa đơn cử, ý nghĩa khái quát là gì ? Những ý nào tậptrung bộc lộ chủ đề, tư tưởng của truyện ? Nội dung có bộc lộ được những vấn đềlớn, bức xúc mà xã hội chăm sóc hay không ? Có giá trị nhân văn như thế nào ? Nhân vật chính của truyện là ai ? Đại diện cho từng lớp con người nào trong xãhội ? Có những nét tính cách như thế nào ? Nét tính cách nào là tiêu biểu vượt trội nhất ? Nét tínhcách đó được biểu lộ qua những cụ thể nào ? ( diện mạo, cử chỉ, lời nói, hành vi, tưtëng tình cảm, nội tâm … ? ) Câu hỏi khám phá giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật : Tác phẩm truyện được viết theo phong thái nào ? Có nét gì phát minh sáng tạo riêng trongnghệ thuật tạo trường hợp ? Có hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật nào độc lạ ? Ngôn ngữ diễn đạt, cấu trúc bố cục tổng quan của truyện có rực rỡ ? Tác phẩm truyện trên có tiêu biểu vượt trội cho phong thái nghệ thuật và thẩm mỹ của tác giảkhông ? Có biểu lộ được bản lĩnh phát minh sáng tạo của một nhà văn đầy năng lực và tâm huyếtcho một thời đại, một trào lưu văn học không ? Câu hỏi gợi mở những hướng xem xét mới : Có thể so sánh, so sánh với những tác giả, tác phẩm nào để nghiên cứu và phân tích tácphẩm được sâu rộng, tổng lực hơn ? Tác phẩm truyện có ảnh hưởng tác động gì trong thời đại tác giả đương sống và đối vớicác thời đại sau này ? Tại sao tác phẩm được mọi người yêu thích ? Với ngần ấy câu hỏi, không thể nào giáo viên giảng giải một cách cặn kẽ, tỉ mỉtrong quy trình nghiên cứu và phân tích một đề bài trên lớp. Do đó yên cầu người giáo viên phải biếtchọn lựa nhưng câu hỏi tìm ý cho tương thích, có tính năng khơi nguồn cảm hứng cho cácem học viên. Hay nói cách khác, người giáo viên phải biết chọn điểm nâng tầm. Bởi mỗitác phẩm truyện ( dù là ngắn hay dài ) đều là một kho tàng vừa lộ thiên vừa bí hiểm về nộidung và thẩm mỹ và nghệ thuật. Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp cho những em học viên biếtcách mày mò và đột nhập kho tàng ấy, nhất là phần phát minh sáng tạo kì công của tác giả. Nhưng mở màn từ đâu và như thế nào ? Đây là yếu tố nghệ thuật và thẩm mỹ giảng dạy. Nếukhéo léo mày mò sẽ có được nhiều xúc cảm, hứng thú gợi mở cho những em học sinhniềm yêu quý, tích cực tư duy làm bài. Bài nghị luận của những em sẽ thâm thúy, tinh xảo vàPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngHướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 chân thực. Nếu không khéo sẽ làm cho những em nhàm chán và bài viết của những em trởnên lạc lõng, hời hợt, tẻ nhạt. * Sau đây là những việc làm đơn cử mà tôi hướng dẫn học viên tìm ý cho đề bài : “ Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân ” Khi tìm ý cho đề văn trên, giáo viên nên gợi cho học viên tâm lý theo những câuhỏi sau : + Nhà văn Kim Lân có sở trường gì trong sáng tác truyện ngắn ? + Làng là một truyện ngắn sinh ra trong thực trạng nào ? Có những thành cônggì về nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật ? + Truyện có cấu trúc ra làm sao ? Xoay quanh nhân vật nào ? Nhân vật có nhữngđặc điểm gì điển hình nổi bật ? Tình yêu làng được biểu lộ như thế nào ? Tình yêu làng, yêunước của nhân vật ông Hai được thể hiện trong trường hợp nào ? Tình cảm ấy có đặcđiểm gì mới so với vẻ đẹp trong nét tính cách truyền thống cuội nguồn của người nông dân ? ( cụthể lúc bấy giờ – thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ) ? Những chitiết thẩm mỹ và nghệ thuật nào chứng tỏ một cách sinh động, mê hoặc tình yêu làng và lòng yêu nướcấy ? ( Về tâm trạng, cử chỉ, hành vi, lời nói ? ) + Em có nhận xét, nhìn nhận tâm lý gì về tư tưởng tình cảm của người nôngdân trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp qua nhân vật Ông Hai ? ( Nhữngnhận thức, tình cảm đúng đắn cao đẹp : Sự nhiệt tình, nhiệt huyết tham gia kháng chiến, lòng tin cậy tuyệt đối vào kháng chiến vào lãnh tụ … ) + Nhân vật ông Hai đã để lại những tình cảm gì trong lòng em ? ( Sự yêu quý, trân trọng và cảm phục, tự hào … ) + Với những câu hỏi tìm ý gợi mở trên, người hoàn toàn có thể yên tâm học viên sẽ đảmbảo phân phối tốt nội dung đề bài. Tương tự như thế học viên hoàn toàn có thể tự tìm và vấn đáp cáccâu hỏi tìm ý cho bất kể đề bài văn nghị luận nào. Sau khi đã có được ý, bước sau đó giáo viên phải hướng dẫn cho những em biết cách sắpxếp những ý ( vấn đề, luận chứng, luận cứ … theo một trình tự hợp lý. Việc làm này gọi làlập dàn ý. C. Hướng dẫn học viên lập dàn ý : Như đã nói ở trên lập dàn ý là sắp xếp những ý đã tìm được ở bước tìm ý theo mộttrình tự thích phải chăng và xác lập mức độ trinh bày mỗi ý theo tỉ lệ thoả đáng giữa những ý. Nếu một bài văn hoàn hảo được ví như một ngôi nhà thì dàn ý là cái sườn thiết kếnên ngôi nhà ấy. Viết một bài văn nghị luận cũng thế. Muốn có một bài văn nghị luậnhay, bảo vệ cung ứng những nhu yếu của đề bài một cách rõ ràng, ngặt nghèo, có mạng lưới hệ thống, mạch lạc, lập luận thuyết phục … người giáo viên phải hướng dẫn học viên làm tốtbước lập dàn ý này. Có thể hướng dẫn học viên sắp xếp những ý theo trình tự nội dung, Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường10Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 nghệ thuật và thẩm mỹ, rồi đến nhận xét, nhìn nhận, tâm lý của bản thân, nhưng hoàn toàn có thể sắp xếp đanxen giữa nôi dung, thẩm mỹ và nghệ thuật và nhận xét, nhìn nhận, tâm lý của bản thân. Cũng cókhi việc sắp xếp không bị gò bó theo một trật tự cố định và thắt chặt nào. Trong trường hợp này, yên cầu học viên phải có bản lĩnh viết văn, phải có dụng ý thẩm mỹ và nghệ thuật trong cách sắpxếptrình bày lập luận để đạt được mục tiêu yêu cấu của đề bài, làm sáng tỏ yếu tố. Thôngthường dàn bài chung cho bài văn nghị luận về tác phẩm truyện theo một trình tựnhư sau : 1. Mở bài : Giới thiệu tác phẩm truyện hay một đoạn trích ( tuỳ theo yêucầu đơn cử của đề bài ) và nêu quan điểm nhìn nhận sơ bộ của mình. 2. Thân bài : Nêu những vấn đề chính về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của tácphẩm ; có nghiên cứu và phân tích, chứng tỏ bằng những luận cứ tiêu biểu vượt trội và xác nhận. 3. Kết bài : Nêu đánh giá và nhận định, nhìn nhận chung của mình về tác phẩm truyệnhoặc đoạn trích. Điểm chú ý quan tâm trong cách làm bài văn nghị luận là trong bài văn không phải baogiờ những ý cũng được trình diễn dàn đều nhau mà nên có chỗ đậm, chỗ nhạt, chỗ nói kĩ, chỗ nói lướt qua. Cho nên, ngay ở khâu lập dàn ý, sau khi sắp xếp ý, ta nên xem xét, định trước tỉ lệ dành cho mỗi ý trong bài để dữ thế chủ động thiết kế xây dựng một bài văn cân đối, cóchiều sâu, tạo được điểm nhấn mê hoặc, hấp dẫn người đọc. Thông thường ý được nóikĩ là trọng tâm. Ví như với đề bài : “ Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân ”, giáoviên hoàn toàn có thể hướng dẫn học viên lập dàn bài như sau : 1. Mở bài : Giới thiệu truyện ngắn Làng và nhân vật ông Hai – nhân vật chínhcủa tác phẩm, một trong những nhân vật thành công xuất sắc bậc nhất của văn học thời kì khángchiến chống Pháp. 2. Thân bài : a. Triển khai những nhận định và đánh giá về tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ôngHai và thẩm mỹ và nghệ thuật rực rỡ của nhà văn. * Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai là tình cảm nổi bậtxuyên suốt toàn truyện + Chi tiết đi tản cư nhớ làng + Theo dõi tin tức kháng chiến + Tâm trạng khi nghe tin làng Chợ Dầu theo Tây + Niềm vui tin đồn thổi được cải chính * Nghệ thuật thiết kế xây dựng nhân vật + Chọn trường hợp lời đồn thổi thất thiệt để bộc lộ diễn biến tâm trạngnhân vậtPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường11Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 + Các chi tiết cụ thể miêu tả nhân vật + Các hình thức trần thuật ( đối thoại, độc thoại … ) b. Nhận xét, nhìn nhận về nhân vật : Nhân vật ông Hai đã có những chuyển biến mới trong tình cảm của ngườinông dân ( Những nhận thức mới, những tình cảm mới lạ : Sự nhiệt tình, nhiệt huyết thamgia kháng chiến, lòng tin yêu tuyệt đối vào kháng chiến, vào lãnh tụ … ). Tình yêu làng đã được nâng lên thành tình yêu nước, sẵn sàng chuẩn bị quyết tử tìnhcảm riêng, của cải riêng ( nhà ông bị Tây đốt nhẵn ông vẫn vui sướng, tự hào ). Là nhân vật để lại nhiều tình cảm đẹp trong lòng người đọc : Sự yêu dấu, trân trong và cảm phục. 3. Kết bài : Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật. Thành công của nhà văn khi xâydựng hình tượng nhân vật ông Hai. Bên trên là một dàn ý tiêu biểu vượt trội cho một bài văn nghị luận về tác phẩmtruyện, hoc sinh hoàn toàn có thể dựa vào ý trên để thiết lập cho những bài văn đơn cử khác. Lưuý khi lập dàn ý cần tránh những lỗi sau : – Lạc ý : Là những ý không đúng với nhu yếu về nội dung và giải pháp nghị luậnnêu trong đề bài. Ví dụ : Yêu cầu của một bài văn nghị luận là những vấn đề luậncứ, luận chứng mà học viên lại nêu ý miêu tả hoặc kể chuyện. – Ý không tương thích với nội dung : Ví dụ : Đề nhu yếu nêu tâm lý về nhân vật màdàn bài lại đưa ra ý phê phán thái độ của nhân vật hoặc đề ra phương hướng giải quyếtkhác như nêu ý niệm sống, đấu tranh chống chủ nghĩa cá thể xấu đi hay sa vàobình luận về giá trị tác phẩm và những góp phần của tác giả. – Thiếu ý : Có thể thiếu 1 số ít ý lớn so với nhu yếu đề bài hoặc một số ít ý nhỏ. Ví dụ : Tình yêu làng yêu nước của nhận vật ông Hai trong truyện ngắn làng của tác giả KimLân được tiến hành thành bốn ý nhỏ mà dàn ý chỉ có ba hoặc hai. – Lặp ý : Là ý sau lặp lại trọn vẹn ý trước. Ví dụ : Với đề bài : “ Suy nghĩ về tình chacon trong cuộc chiến tranh qua truyện ngắn Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng nếuhọc sinh không khéo tiến hành tình cảm của bé Thu với cha và ngược lại tình cảm củaông Sáu với bé Thu thì sẽ dễ lặp ý. – Sắp xếp ý lộn xộn : Là sắp xếp không theo thứ tự nào, đảo lộn cả giá trị nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ. Đây là hiện tượng kỳ lạ viết văn tuỳ tiện, gặp đâu nói đấy, không chuẩn bị sẵn sàng kỹdàn ý. Khi đã có cái để viết, có dàn ý, bước sau đó, giáo viên hướng dẫn học viên chuyểnsang phần luyện viết văn với mục tiêu để rèn kĩ năng diễn đạt của những em. D. Hướng dẫn học viên viết đoạn và link đoạn : Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường12Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9T ừ dàn ý đã có sẵn, những em hoàn toàn có thể viết thành đoạn, thành bài. Các em được giáoviên hướng dẫn viết từng đoạn tiêu biểu vượt trội : Đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài. 1. Đoạn mở bài : Là đoạn văn khởi đầu của bất kỳ bài văn nào. Nó là đoạn giớithiệu yếu tố được nghị luận trong bài văn, đồng thời khơi gợi, hấp dẫn người đọc sựchú ý so với yếu tố đó. a. Nguyên tắc mở bài : – Cần nêu đúng yếu tố đặt ra trong đề bài. – Chỉ được phép nêu những ý khái quát ( học viên không được lấn sang phầnthân bài : Giảng giải, minh hoạ hay nhận xét, nhìn nhận quan điểm nêu trong đề bài. b. Cách mở bài : Có rất nhiều cách mở bài. Tuỳ dụng ý của người làm mà có thểvận dụng một trong những cách sau đây : – Mở bài trực tiếp : Giới thiệu ngay yếu tố cần nghị luận ( còn gọi làtrực khởi ) – Mở bài gián tiếp : Nêu ra những quan điểm có tương quan đến yếu tố cần nghịluận ( từ khái quát đến đơn cử, so sánh so sánh, tương đương, tương phản … ) Sau đây là mấy cách mở bài tìm hiểu thêm cho đề bài : “ Suy nghĩ về nhânvật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân ”. + Cách trực tiếp : Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là người nông dân cótinh yêu làng quyện với lòng yêu nước, trung thành với chủ với kháng chiến và lãnh tụ. Đó lànét mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Nước Ta thời kì đầu cuộc khángchiến chống Pháp đã để lại trong lòng người đọc những ấn tượng thâm thúy. + Cách gián tiếp : ( hoàn toàn có thể trình làng cho học viên nhiều cách gián tiếp, sau đây làhai cách cho học viên tìm hiểu thêm ) Cách 1 : Trong nền văn học Nước Ta văn minh, Kim Lân là một khuôn mặt độc lạ. Dohoàn cảnh sống của mình, ông am hiểu thâm thúy hoạt động và sinh hoạt, tâm ý của người nông dân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Nước Ta với nhữngvẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “ Làng ” là một truyên ngắn rực rỡ nhất của Kim Lân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, biểu lộ một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở người nôngdân. Ai đến với “ Làng ”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dân mangnhững nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân. Cách 2 : Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường13Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9T ình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng ở conngười Nước Ta nói chung, đặc biệt quan trọng ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn học dântộc từng kiến thiết xây dựng thành công xuất sắc nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhân vậtông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợp như vậy. Sau khi đã hướng dẫn đơn cử cho học viên những cách mở bài trên, giáo viên tiếnhành cho học viên rèn viết đoạn mở bài và tin chắc rằng học viên sẽ viết tốt. Bước tiếp nối, giáo viên sẽ hướng dẫn học viên viết phần thân bài ( gồm nhiềuđoạn, giáo viên hoàn toàn có thể chọn cho học viên viết một đoạn tiêu biểu vượt trội ). 2. Đoạn thân bài : Trước hết, giáo viên nên xác lập vai trò của phần thân bài cho học viên nhậnthức rất đầy đủ tầm quan trọng của nó trong một bài văn. Phần thân bài sẽ lần lượt trìnhbày, lý giải, nhận xét, nhìn nhận … những vấn đề của yếu tố được đặt ra trong đề bài ( triển khai vừa đủ, không thiếu, không thừa những trách nhiệm đã đề ra ở phần mở bài ). Ở từng vấn đề, cần có sự nghiên cứu và phân tích, chứng tỏ đơn cử, đúng chuẩn bằng nhữngdẫn chứng sinh động trong tác phẩm. Giữa những vấn đề, đoạn văn cần có sự link, chuyển tiếp một cách linh động, uyển chuyển, tránh gò bó, máy móc, công thức. Dưới đây là một trong những đoạn thân bài của đề bài : “ Suy nghĩ về nhân vậtông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân ” mà giáo viên hoàn toàn có thể ra mắt cho họcsinh tìm hiểu thêm. Lòng yêu nước, yêu làng của nhân vật ông Hai được bộc lộ một cách cảmđộng qua diễn biến tâm trạng của ông. Tác giả đã phát minh sáng tạo ra một trường hợp giật mình, đầy kịch tính thử thách tình yêu làng của ông Hai là có tin đồn thổi về làng Chợ Dầu đãtheo giặc. Ông Hai vô cùng đau xót : “ Cổ ông lão nghẹn ắng hẵn lại, da mặt tê rânrân, ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được … Ông cúi gầm mặt xuống mà đi ”. Về đến nhà, ông nằm vật ra giường không dám đi đâu. Ông buồn, ông xấu hổ. Ông tựtranh luận với mình, tự dằn vặt mình hoặc đâm cáu gắt với vợ … Đêm, ông trằn trọckhông sao ngủ được ; ông hết trở mình bên này, lại trở mình bên kia thở dài, chântay ông lão nhũn ra, … Tin đồn loang xa, mụ chủ nhà hay được lại đuổi khéo gia đìnhông. Ông Hai rơi vào thực trạng bế tắc. Ông có nghĩ đến việc trở về làng nhưng liềnsau đó ông phản kháng lại ngay, ông phẫn uất nói : “ Làng thì yêu thật nhưng làng theoTây rồi thì phải thù ”. Thật là tuyệt đường sinh sống ! Ông quyết không trở về làng vì vềlàng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ông chỉ còn biết tâm sự với đứa con nhỏ ngây thơ. Qua những lời tâm sự mộc mạc, chân thực đầy cảm động với con, ta thấy được tấmlòng yêu nước cao đẹp của người nông dân này. Như nhà văn hào I-li-a Ê-ren-bua cónói : “ Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu nước ”. Ông Haiđúng là một con người như vậy – một con người thiết tha yêu làng, vì yêu làng nên ôngyêu nước, kính yêu cụ Hồ, quyết trung thành với chủ với kháng chiến. Đó chính là nét đẹp mớiPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường14Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 trong đời sống tình cảm của người nông dân Nước Ta thời kì đầu cuộc kháng chiếnchống Pháp. Bên trên chỉ là một đoạn tiêu biểu vượt trội của phần thân bài ( gồm nhiều đoạn ), giáoviên hoàn toàn có thể hướng dẫn học viên viết những đoạn khác nhau của những đề khác. Dù là đoạnvăn nào thì giáo viên cũng phải nghiên cứu và phân tích cho học viên thấy rõ những cách trình diễn nộidung một đoạn văn. Thế là phải tích hợp với kỹ năng và kiến thức Tiếng Việt 8 ở lớp dưới. Giáoviên nhắc lại những cách trình diễn tiêu biểu vượt trội mà học viên thường vận dụng viết đoạn vănnghị luận ( gồm 4 cách : diễn dịch, qui nạp, móc xích và song hành ) nhưng nhiều lúc đểnhấn mạnh ý chính, ý khái quát của yếu tố cần nghiên cứu và phân tích, ta cũng hoàn toàn có thể viết đoạn vănhỗn hợp như đoạn văn thân bài trên. Đoạn thân bài trên được nghiên cứu và phân tích cách trình bàynhư sau : Đoạn văn trên gồm 17 câu. Câu ( 1 ) là câu diễn đạt ý chính của đoạn : nêu khái quát đặc thù yêu nước, yêulàng của nhân vật ông Hai. ( Câu này còn gọi là câu chủ đề ). Từ câu ( 2 ) đến câu ( 16 ) là những câu diễn giải cho ý chính ( lòng yêu nước củanhân vật ông Hai ). Đó là những lí lẽ và dẫn chứng đơn cử, tiêu biểu vượt trội, đúng chuẩn, sinh động. Câu ( 17 ) ( câu cuối ) là câu khẳng định chắc chắn lại và nâng cao lòng yêu nước của nhânvật ông Hai ( là vẻ đẹp mới trong đời sống tình cảm của người nông dân Nước Ta thờikì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ). Từ việc nghiên cứu và phân tích cách viết đoạn trên, giáo viên hoàn toàn có thể minh hoạ bằng sơ đồđoạn văn nghị luận như sau : Ý DIỄN GIẢI, DẪN CHỨNG TIÊU BIỂUPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngPHÂN TÍCHKHÁI QUÁT15Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9M ục đích của bài văn nghị luận về tác phẩm truyện là trình diễn những nhận xét, nhìn nhận của mình về nhân vật, sự kiện hay chủ đề, tư tưởng và nghệ thuật và thẩm mỹ của một tácphẩm đơn cử. Cho nên sau khi đã thực thi được những trách nhiệm đó ở phần thân bài, giáoviên thực thi hướng dẫn học viên chứng minh và khẳng định lại yếu tố ở đoạn kết bài. 3. Đoạn kết bài : Đoạn kết bài phải biểu lộ đúng quan điểm đã trình diễn ở phần thân bài : Chỉ nêu những ý nhận xét, nhìn nhận khái quát, không trình diễn lan man hay lặp lạiý diễn giải, minh hoạ, đơn cử, chi tiết cụ thể. Cũng không nên lặp lại nguyên văn lời lẽ củaphần mở bài. Khác với mở bài, phần kết bài thiên về nhìn nhận, tổng kết yếu tố. Có nhiều cách kết bài khác nhau, tuỳ theo dụng ý của người viết. Có khi kết bài làtóm tắt, chứng minh và khẳng định lại giá trị nội dung, thẩm mỹ và nghệ thuật của tác phẩm. Có khi kết bài là tổnghợp những cảm nhận thâm thúy về nhân vật, tác giả, tác phẩm. Có khi kết bài lại là liêntưởng đến những yếu tố khác có tương quan. Thế nên, để hướng dẫn học viên viết được những kết bài thâm thúy, người giáo viêncần phải giúp học viên nhận thức được tầm quan trọng của đoạn kết bài ( không chỉkhép lại, hoàn hảo bài văn mà còn làm cho bài văn thêm khái quát, nâng cao về mọimặt : Tư tưởng, tình cảm, chủ đề, ý niệm sống tốt đẹp … ) Dưới đây là hai cách kết bài cho đề bài văn : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trongtruyện ngắn Làng của Kim Lân. Cách 1 : Đánh giá nhân vật và khẳng định chắc chắn giá trị tác phẩmÔng Hai trong truyện ngắn Làng là một nhân vật tạo ấn tượng thâm thúy đối vớingười đọc. Qua truyện này, bằng những trường hợp, cụ thể chân thực, mê hoặc, bằngnghệ thuật miêu tả tâm lí sinh động, Kim Lân đã đem đến cho tất cả chúng ta một hình tượnghấp dẫn về người nông dân Nước Ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tình yêuthiết tha, sự gắn bó sâu năng với làng quê, quốc gia của nhân vật ông Hai luôn luôncó ý nghĩa giáo dục thấm thía so với những thế hệ bạn đọc. Cách 2 : Cảm nhận thâm thúy về nhân vật và tác giả, tác phẩmTrong số rất nhiều nhân vật nông dân từ những trang truyện đi vào lòng ngườiđọc và đã chiếm được tình cảm yêu thương, quý mến, trân trọng nơi trái timsâu kín của mỗi người, hoàn toàn có thể nói người đọc khó hoàn toàn có thể quên được nhân vật ông Haitrong tác phẩm Làng của Kim Lân – một người nông dân thuần phác, yêu làng, yêunước chứa chan, sâu nặng, một lòng trung thành với chủ với kháng chiến, với cụ Hồ – đã trởPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân TrườngTỔNG HỢP16Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 thành hình tượng nhân vật tiêu biểu vượt trội cho người nông dân Nước Ta trong thời kì đầucủa cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhà văn Kim Lân đã miêu tả được diễn biến tâm líphức tạp của nhân vật bằng vật liệu ngôn từ bình dị, mộc mạc, tạo được tình huốngbất ngờ, mê hoặc. Chính cho nên vì thế, nhà văn Kim Lân được nhìn nhận là cây bút số 1 vềđề tài nông thôn và người nông dân. Có thể nói, hướng dẫn học viên cách làm bài văn Nghị luận về tác phẩm truyệntức là đi tìm và tò mò ra cái hay, cái đẹp trong văn chương thẩm mỹ và nghệ thuật. Từ khâuphân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn và link đoạn là cả một quy trình lao độngnghệ thuật phát minh sáng tạo. Giúp những em hiểu ra chân lí ấy sẽ là con đường ngắn nhất hướngcác em thương mến văn chương và có hứng thú khi làm bài tập làm văn kiểu bài Nghịluận về tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm truyện nói riêng. Sau đây tôi xin ra mắt giáo án của tiết dạy này : CÁCH LÀM BÀI NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN ( HOẶC ĐOẠN TRÍCH ) I – Mục tiêu cần đạt : Giúp học viên biết viết bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích chođúng nhu yếu của kiểu bài. Rèn luyện kĩ năng triển khai những bước khi làm bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ), cách tổ chức triển khai tiến hành những vấn đề. Rèn luyện năng lượng tư duy tổng hợp và nghiên cứu và phân tích khi viết văn nghị luận. Tích hợp với Văn qua những văn bản truyện đã học ở học kì I.II – Chuẩn bị – Thầy : + Sưu tầm, ra đề bài nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích tương thích vớinăng lực học sinh + Nêu hướng xử lý những đề bài đã ra. – Trò : + Ôn lại nội dung tiết học trước để nắm chắc nội dung và giải pháp của kiểubài về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích. + Ôn lại những tác phẩm truyện đã học ở học kì I.III – Tiến trình tổ chức triển khai những hoạt động giải trí dạy và học. * Ổn định tổ chức triển khai * Kiểm tra : Giáo viên : Thế nào là nghị luận về tác phẩm truyện ? Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường17Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9H ọc sinh : Nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) là trình diễn nhữngnhận xét, nhìn nhận của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật và thẩm mỹ của một tácphẩm đơn cử. Giáo viên : Cơ sở nào giúp em đưa ra những nhận xét nhìn nhận trên ? Học sinh : Những nhận xét, nhìn nhận về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốttruyện, tính cách, số phận của nhân vật và thẩm mỹ và nghệ thuật trong tác phẩm được người viếtphát hiện và khái quát. Giáo viên : Các nhận xét và nhìn nhận đó phải bảo vệ những nhu yếu gì ? Học sinh : Các nhận xét, nhìn nhận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) trong bàinghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục. Giáo viên : Nhận xét về bố cục tổng quan, lời văn của bài văn nghị luận về tác phẩm truyệnhoặc đoạn trích ? Học sinh : Bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) cần có bố cục tổng quan mạch lạc, lời văn chuẩn xác, quyến rũ. * Bài mớiI – Đề bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) Đọc những đề bài 1, 2, 3, 4 trong sách giáo khoa trang 64, 65. Đề 1 : Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật VũNương ở Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ. Đề 2 : Phân tích diễn biến diễn biến trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Đề 3 : Suy nghĩ về thân phận Thúy Kiều trong đoạn trích Mã Giám Sinh mua Kiềucủa Nguyễn Du. Đề 4 : Suy nghĩ về đời sống tình cảm mái ấm gia đình trong cuộc chiến tranh qua truyện ngắnChiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng. Câu hỏi 1 : Các đề bài trên đã nêu ra những vấn đề nghị luận nào về tác phẩm truyện ? Yêu cầu địa thế căn cứ vào đâu để nghị luận ? Trả lời : Đề 1 : – Vấn đề nghị luận : Thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ. – Yêu cầu : Qua nhân vật Vũ Nương đề xuất kiến nghị những nhận xét về thân phận người phụ nữtrong xã hội cũ. Đề 2 : – Vấn đề nghị luận : Cốt truyện trong truyện ngắn : Làng – Kim Lân. – Yêu cầu : Phân tích những đặc thù điển hình nổi bật trong diễn biến của tác phẩm. Đề 3 : – Vấn đề nghị luận : Thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích. Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường18Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – Yêu cầu : nêu tâm lý của bản thân về thân phận Thuý Kiều trong đoạn trích ( mởrộng ra thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ ) VD : Quyền sống của con người, địa vịcủa người phụ nữ trong xã hội cũ. Đề 4 : – Vấn đề nghị luận : Đời sống tình cảm mái ấm gia đình. – Yêu cầu : Nêu những tâm lý của bản thân về một yếu tố có tính khái quát : đời sốngtình cảm mái ấm gia đình trong cuộc chiến tranh. Câu hỏi 2 : Các từ tâm lý, nghiên cứu và phân tích trong những đề bài trên yên cầu bài làm phải khácnhau như thế nào ? Trả lời : – Suy nghĩ là xuất phát từ sự cảm, hiểu của mình để nhận xét, nhìn nhận tác phẩm. – Phân tích là xuất phát từ tác phẩm ( diễn biến, nhân vật, sự viêc, diễn biến ) để lậpluận và sau đó nhận xét, nhìn nhận tác phẩm. Giáo viên chú ý quan tâm học viên đây không phải là hai kiểu bài nghị luậnII – Các bước làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) Đề bài : Suy nghĩ về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “ Làng ” – Kim Lân. 1 / Tìm hiểu đề, tìm ý * Yêu cầu khám phá đề : – Đọc kĩ đề và gạch chân những từ quan trọng. – Xác định thể loại, đối tượng người dùng nội dung của đề. + Thể loại : Nghị luận. + Đối tượng : Nhân vật ông Hai. + Nội dung : Truyện ngắn Làng – Kim Lân. * Tìm ý : Câu hỏi 1 : Phẩm chất điển hình nổi bật nhất ở nhân vật ông Hai là gì ? Trả lời : Tình yêu làng hoà quyện với tình yêu nước của ông Hai ( nét mới trong đời sốngtinh thần của người dân trong kháng chiến chống Pháp ). Câu hỏi 2 : Tình yêu làng, yêu nước thể hiện trong những trường hợp nào ? Trả lời : Tình huống bộc lộ : + Khi nghe tin đồn làng theo giặc. + Khi nghe tin cải chính làng kháng chiến. Câu hỏi 3 : Các cụ thể thẩm mỹ và nghệ thuật nào chứng tỏ tình yêu làng, yêu nước của ông Hai ? Trả lời : + Khi tản cư, ông Hai nghĩ đến những ngày hoạt động giải trí kháng chiến giữ làng cùng anhem, đồng đội, điều đó chứng tỏ tình yêu làng của ông gắn bó với tình cảm kháng chiến. Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường19Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 Ông không chỉ là một công dân của làng mà còn là một chiến sỹ đã từng tham gia đánhgiặc giữ làng. + Khi vô tình nghe tin làng theo giặc ông sững sờ nghẹ ngào và có mặc cảm xấu hổ bẽbàng với ý nghĩ : “ Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù ! ” + Khi lời đồn thổi được cải chính thì ông Hai lại rạng rỡ, lại hào hứng kể chuyện Làng vàrất tự hào về cái làng của mình. Câu hỏi 4 : Ý nghĩa của tình cảm mới mẻ và lạ mắt ấy của nhân vật ? Trả lời : Khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật ông Hai và của những người nôngdân Bắc Bộ trong kháng chiến chống Pháp. Đồng thời chứng minh và khẳng định thành công xuất sắc của tácgiả trong việc thiết kế xây dựng tính huống truyện, kiến thiết xây dựng nhân vật. 2 / Lập dàn bàiCâu hỏi 1 : Thông thường một bài văn gồm mấy phần ? Là những phần nào ? Nhiệm vụtừng phần ? Trả lời : Gồm 3 phần : Mở bài, thân bài, kết bài. – Mở bài : Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm, yếu tố cần nghị luận. – Thân bài : Triển khai những vấn đề để làm rõ yếu tố. – Kết bài : Nêu nhận định và đánh giá nhìn nhận chung về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ). Câu hỏi 2 : Dựa vào những ý đã tìm được ở trên hãy lập thành dàn bài cho đề văn trên ? A. Mở bài : Giới thiệu khái quát : – Tác giả Kim Lân. – Tác phẩm : Làng – Nhân vật ông Hai. B. Thân bài : a. Tình yêu làng gắn bó hòa quyện với lòng yêu nước : – Khi tản cư, ông Hai nghĩ đến những ngày hoạt động giải trí kháng chiến giữ làng cùng anhem, đồng đội, điều đó chứng tỏ tình yêu làng của ông gắn bó với tình cảm kháng chiến. Ông không chỉ là một công dân của làng mà còn là một chiến sỹ đã từng tham gia đánhgiặc giữ làng. – Khi vô tình nghe tin làng theo giặc ông sững sờ nghẹn ngào và có mặc cảm xấu hổbẽ bàng với ý nghĩ : “ Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù ! ” – Khi lời đồn thổi được cải chính thì ông Hai lại rạng rỡ, lại hào hứng kể chuyện Làng vàrất tự hào về cái làng của mình. b. Nghệ thuật thiết kế xây dựng nhân vật : – Chọn trường hợp lời đồn thổi thất thiệt để bộc lộ nhân vật : Tình cờ nghe tin làng ChợDầu theo Tây. – Các cụ thể miêu tả hành vi nhân vật : Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường20Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 + Khi nghe tin làng theo giặc. + Khi chuyện trò với bà Hai. + Khi nghe mụ chủ nhà chuyện trò với vợ mình. + Khi trò chuyện với con trai út. – Các chi tiết cụ thể miêu tả nội tâm nhân vật ông Hai + Thông qua đối thoại với những nhân vật khác. + Thông qua độc thoại và độc thoại nội tâm. C. Kết bài : – Sức hấp dẫn của hình tượng nhân vật ông Hai : Thể hiện tình yêu làng, yêu nướcmột nét mới trong tâm hồn của người nông dân. – Thành công của nhà văn trong việc kiến thiết xây dựng trường hợp truyện, kiến thiết xây dựng nhân vật. 3 / Hướng dẫn học viên viết bài. A. Mở bài : Câu hỏi : Thông thường có những cách mở bài như thế nào ? Trả lời : Có nhiều cách mở bài, thường thì có 2 cách sau : – Cách 1 : Đi từ khái quát đến đơn cử ( từ nhà văn đến tác phẩm và nhân vật ). – Cách 2 : Nêu trực tiếp những tâm lý của người viết. Giới thiệu 2 đoạn mở bài mẫu theo 2 cách trên : Cách 1 : Trong nền văn học Nước Ta văn minh, Kim Lân là một khuôn mặt độc lạ. Do thực trạng sống của mình, ông am hiểu thâm thúy hoạt động và sinh hoạt, tâm ý của người nôngdân. Kim Lân được xem là nhà văn của nông thôn, của người dân quê Nước Ta vớinhững vẻ đẹp mộc mạc mà đậm đà. “ Làng ” là một truyên ngắn rực rỡ nhất của KimLân. Tác phẩm này được viết trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dânPháp, bộc lộ một cách sinh động vẻ đẹp của tình yêu làng, lòng yêu nước ở ngườinông dân. Ai đến với “ Làng ”, chắc khó quên được ông Hai – một nhân vật nông dânmang những nét đẹp thật đáng yêu qua ngòi bút khắc hoạ tài tình của Kim Lân. Cách 2 : Tình yêu làng, sự gắn bó nơi chôn nhau cắt rốn là một tình cảm sâu nặng ởcon người Nước Ta nói chung, đặc biệt quan trọng ở người nông dân nói riêng. Lịch sử văn họcdân tộc từng kiến thiết xây dựng thành công xuất sắc nhiều nhân vật mang tình cảm đáng quý ấy. Nhânvật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân là một trong những trường hợpnhư thế. Hướng dẫn học viên viết, sau đó trình diễn mở bài của mình, giáo viên nhu yếu họcsinh khác nhận xét thay thế sửa chữa. B. Thân bài : Lần lượt trình diễn những vấn đề về nhân vật ông Hai theo dàn bài. Trong quy trình làm bài, cần chú ý quan tâm : Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường21Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – Nêu rõ những nhận xét, quan điểm của mình về tình yêu làng lòng yêu nước của nhânvật ông Hai, về cách biểu lộ rực rỡ của Kim Lân. – Ở từng vấn đề, cần có sự nghiên cứu và phân tích chứng tỏ đơn cử, đúng mực bằngnhững dẫn chứng trong tác phẩm ( về tâm trạng, tâm lý ; về lời nói, cử chỉ, hành vi ; về thái độ của ông Hai so với những nhân vật khác, ). – Giữa những vấn đề, đoạn văn cần có sự link, chuyển tiếp. ( 1 ) Tình yêu làng gắn bó với lòng yêu nước : + Khi nghe tin đồn làng theo giặc : “ Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt mộtcái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi ”. + Với niềm tin và niểm tự hào về cái làng của mình, ông Hai đã tự vấn : “ Ông lão bỗngngừng lại, ngờ ngợ như lời mình không được đúng lắm. Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đốnđến thế được. Ông kiểm điểm từng người trong óc. Không mà, họ toàn là những ngườicó niềm tin cả mà. Họ đã ở lại làng, quyết tâm một sống, một chết với giặc, có đời nàolại can tâm làm điều nhục nhã ấy ! ”. + Khi lời đồn thổi được cải chính, ông Hai mừng đến nỗi cứ “ múa tay lên ” mà khoe về cáilàng mình, ông hồn nhiên cả khi báo tin nhà mình bị Tây đốt : “ Bác Thứ đâu rồi ? BácThứ làm gì đấy ? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn ! Ông quản trị làng tôi vừa mớilên trên này cải chính, ông ấy cho biết cải chính cái làng Chợ Dầu chúng tôi đi Việtgian ấy mà. Láo ! Láo hết ! Toàn là sai sự mục tiêu cả ”. ( 2 ) Nghệ thuật kiến thiết xây dựng nhân vật ông Hai : + Những hành vi : Miêu tả đúng những “ phản ứng ” bằng hành vi của một ngườinông dân hiền lành, chất phác và chưa đọc thông viết thạo. Khi muốn biết tin tức thì : “ Ông cứ đứng vờ vờ xem tranh vẽ chờ người khácđọc rồi nghe lỏm ”. Khi nghe tin làng theo giặc thì : “ Ông Hai cúi gằm mặt xuống đất mà đi ”, rồi “ nắm chặt hai tay mà rít lên : “ Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đilàm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này ? ”. Khi tin đồn thổi được cải chính thì : “ Ông lão cứ múa tay lên mà khoe cái tin ấy vớimọi người ”. + Tâm trạng : Miêu tả đúng tâm trạng của một người nông dân yêu làng, yêu nước mộtcách hồn nhiên trong sáng. Khi nghe tin làng theo giặc thì bị dằn vặt đau khổ : “ Đã ba bốn thời điểm ngày hôm nay, ông Haikhông bước chân ra đến ngoài, cả đến bên bác Thứ ông cũng không dám sang. Suốtngày ông chỉ quanh quẩn trong cái gian nhà eo hẹp ấy mà nghe ngóng. Nghe ngóngxem binh tình bên ngoài ra sao. Một đám đông túm lại, ông cũng chú ý, dăm bảy tiếngcười nói xa xa, ông cũng chột dạ. Lúc nào ông cũng nơm nớp tưởng như người ta đangPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường22Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 chú ý, người ta đang buôn chuyện đến “ cái chuyện ấy ”. Cứ thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam – nhông là ông lủi ra một góc nhà, nín thít. Thôi lại chuyện ấy rồi ! ”. Khi tin đồn thổi được cải chính thì : “ Cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng vui tươi, rạngrỡ hẳn lên ”. + Ngoài ra, còn phải kể đến những hành vi, lời nói, tâm lý của nhân vật ông Haitrong mối quan hệ với những nhân vật khác như : bà Hai, những con, mụ chủ nhàC. Kết bài : Ông Hai trong “ Làng ” là một nhân vật tạo được ấn tượng thâm thúy so với người đọc. Qua truyện ngắn này, tác giả đã khắc họa thành công xuất sắc hình tượng một người nông dânyêu làng, yêu nước, hồn nhiên, chất phác nhưng rất xúc động. Hình tượng nhân vật ôngHai vừa phản ánh chân thực những nếp cảm, nếp nghĩ của người nông dân Việt Namtrong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, vừa có ý nghĩa giáo dục sâu sắcvới nhiều thế hệ bạn đọc. 4 / Hướng dẫn học viên đọc lại bài và sửa chữa thay thế : – Gọi học viên trình diễn bài viết của mình. – Nhận xét bài làm của học viên về những mặt sau. + Cấu trúc của bài văn đã đủ ba phần rõ ràng chưa. + Sự link giữa những câu, đoạn trong văn bản đã ngặt nghèo, lôgic chưa. + Có lỗi dùng từ, đặt câu, lỗi chính tả nào cần sửa. – Yêu cầu học viên thay thế sửa chữa, giáo viên nhận xét, cho điểm bài làm tốt. GHI NHỚCâu hỏi 1 : Từ việc khám phá trên hãy rút ra cách làm văn nghị luận về chủ đề tác phẩmtruyện ( hoặc đoạn trích ) ? Trả lời : Bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) hoàn toàn có thể bàn về chủ đề nhânvật, diễn biến, thẩm mỹ và nghệ thuật của truyện. Câu hỏi 2 : Bài nghị luận về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ) gồm có mấy phần ? Nhiệm vụ từng phần ? Trả lời : Gồm ba phần : – Mở bài : Giới thiệu tác giả tác phẩm và quan điểm nhìn nhận khái quát của mình. – Thân bài : nêu những vấn đề chính về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm ( cóphân tích, chứng tỏ bằng những luận cứ tiêu biểu vượt trội và xác nhận ). – Kết bài : Nêu đánh giá và nhận định nhìn nhận chung của mình về tác phẩm. GV chú ý quan tâm thêm cần trình diễn sự cảm thụ quan điểm riêng của người viết. Có sự liên kếttự nhiên, phải chăng những phần, những đoạn. Gọi một học viên đọc phần ghi nhớ SGK trang 68. Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường23Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9III – Luyện tậpĐọc đề bài : “ Suy nghĩ của em về truyện Lão Hạc của Nam Cao ” Yêu cầu : Viết phần Mở bài và một đoạn phần Thân bài1. Tìm hiểu đề, tìm ýCâu hỏi 1 : Xác định thể loại và nhu yếu của đề bài ? Trả lời : – Thể loại : Nghị luận – Nội dung : Truyện ngắn Lão Hạc. Câu hỏi 2 : Với đề bài trên, cần bảo vệ những ý chính nào ? * Nội dung – Cuộc sống của Lão Hạc – Vẻ đẹp tâm hồn Lão Hạc * Nghệ thuật – Xây dựng trường hợp. – Xây dựng nhân vật. 2. Lập dàn ý. Hãy lập dàn ý đại cương cho đề bài trên ? A. Mở bài : + Giới thiệu tác giả – tác phẩm. + Ý kiến nhìn nhận sơ bộB. Thân bài : – Luận điểm 1 : Cuộc sống của Lão Hạc. + Hoàn cảnh mái ấm gia đình của Lão Hạc + Tình thế lựa chọn của Lão Hạc. – Luận điểm 2 : Vẻ đẹp tâm hồn Lão Hạc + Giàu tình yêu thương : con trai, cậu Vàng. + Giàu lòng tự trọng. + Tấm lòng hi sinh cao quý. C. Kết bài : – Đánh giá nhân vật Lão Hạc – Thành công của nhà văn3. Hướng dẫn học viên viết phần mở bài và một đoạn phần thân bài cho đề bài trên : Gợi ý : a. Mở bàiPhan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường24Hướng dẫn học viên cách làm bài nghị luận về tác phẩm ( hoặc đoạn trích ) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 – Mở bài trực tiếp : Truyện ngắn “ Lão Hạc ” của Nam Cao đã để lại cho em nhữngsuy nghĩ thâm thúy về số phận của người nông dân trong xã hội cũ. Lão Hạc không chỉ làmột người nông dân bị bần cùng hóa vì đói nghèo, tối tăm như bao nhiêu người nôngdân khác, mà có lẽ rằng lão còn là một kiểu “ nạn nhân ” của bổn phận làm cha. Đây chínhlà tấn thảm kịch niềm tin đầy nước mắt của người nông dân nghèo nhưng giàu lòng tựtrọng và luôn tự vấn lương tâm mình một cách nghiêm khắc. – Mở bài gián tiếp : Có một nhà văn đã nói : “ Xúc động trước một nhân vật nào đótức là ta đã sống thêm một cuộc sống mà ta chưa từng sống và sẽ không khi nào đượcsống, nếu ta không đọc tác phẩm văn học ! ”. Ta hoàn toàn có thể thương cảm xót xa với tấn bikịch ý thức của nhân vật Hộ trong truyện ngắn “ Đời thừa ”, hoàn toàn có thể rơi nước mắt vớitấn thảm kịch hoàn lương của nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn “ Chí Phèo ” và giờđây, ta xúc động nghẹn ngào với tấn thảm kịch làm cha của nhân vật Lão Hạc trongtruyện ngắn cùng tên của Nam Cao. Với lão Hạc có lẽ rằng ấn tượng thâm thúy nhất đối vớingười đọc chính là cái chết kinh hoàng của lão bởi đó là một cái chết có hình thức giốngnhư cái chết của một con vật vô chủ. Nhưng về thực chất, đó chính là sự quyết tử tuyệtđối của một người cha cho một người con mà cả hai cha con đều là những kẻ bấthạnh. b. Một đoạn thân bài : Vẻ đẹp tâm hồn lão Hạc : Tấm lòng Nam Cao luôn hé mở để ngòi bút thâm thúy tìm đến biết bao phẩm chấttốt đẹp của lão Hạc, như ánh lửa toả sáng trong bóng tối bần hàn, đơn độc. Khác vớiChí Phèo khi say rượu thường đến nhà Bá Kiến doạ dẫm, xin tiền, lão Hạc phải càythuê phải cuốc mướn, tất bật mới kiếm được miếng ăn qua ngày. Tuy khó khăn vất vả, khókhăn nhưng có lẽ rằng bản tính chịu khó, siêng năng không được cho phép lão ngửa tay xin đồng tiềnthiên hạ bố thí. Thật đáng khâm phục. Và lòng khâm phục sâu đậm hơn khi nào hếtnếu ta biết được lão yêu con lão đến nhường nào. Vợ mất, lão sẵn sàng chuẩn bị hi sinh quãngđời còn lại nuôi con khôn lớn. Vậy mà không lấy được vợ, con trai lão bỏ đi phu caosu, lão chẳng trách con một lời, chỉ khóc : “ Tháng mười năm ấy con kia lấy chồng. Thằng con tôi đâm quẫn chí, ra tỉnh kí giấy xin làm đồn điền cao su đặc. Tôi chỉ biết khócchứ còn biết làm thế nào nữa ”. Từ đó, bao nhiêu tiền bòn vườn, lão dành hết cho con. Cuộc đời đau khổ, tối tăm, mù mịt càng tôn thêm vẻ đẹp tâm hồn lão. Trong cảnh côđơn, hưu quạnh, lão chỉ có cậu Vàng kỉ vật của con làm bầu bạn. “ Cậu Vàng ” – tiếnggọi sao tình cảm tha thiết đến thế ! Phải chăng, trong câu truyện nói với Vàng, lão vẫnấp ủ hy vọng con trai sẽ trở lại : “ Cậu có nhớ bố cậu không, hả cậu Vàng ? Bố cậu lâulắm không viết thư. Chẳng biết cuối năm nay có về không ? ” Và, với trái tim nhân hậu, lão quyết tâm để lại cho mảnh vườn, dù phải hi sinh quãng đời còn lại. Thật là một conngười đáng kính trọng biết nhường nào. Kết thúc thiên truyện ngắn, tấm lòng chânthành hết mực của tác giả đã viết lên trang sách những lời thiêng liêng : Lão Hạc ơi ! Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt. Đến khi con trai lão về, tôi sẽ trao lại cho hắn và bảo : Phan Thị Vân – Trường trung học cơ sở Xuân Trường25
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


