Dạy học hình thành biểu tượng một số hình hình học cho học sinh các lớp 1, 2, – Tài liệu text

Dạy học hình thành biểu tượng một số hình hình học cho học sinh các lớp 1, 2, 3_Khóa luận tốt nghiệp khoa GDTH.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (313.35 KB, 57 trang )

Khoá luận tốt nghiệp
mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đầu t cho giáo dục là đầu t cho sự phát triển. Một quốc gia đang phát
triển nh Việt Nam thì việc đầu t cho giao dục là quốc sách hàng đầu. Trớc ng-
ỡng cửa của thế kỷ mới, từ tiềm năng và khát vọng của mình Việt Nam đã và
đang hoạch định một nền giáo dục dân tộc, khoa học và hiện đại, đủ sức sáng
tạo ra một mặt bằng dân trí cao, đáp ứng sự phát triển của đất nớc. Bậc học
Tiểu học là bậc học có vai trò quan trọng, là bậc học nền tảng nhằm giúp học
sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục
học ở bậc học cao hơn.
Muốn đạt đợc mục tiêu đó, cần đẩy mạnh và nâng cao toàn diện chất l-
ợng dạy và học của giáo viên và học sinh. Học sinh phải đợc học đủ 9 môn,
trong đó Toán học đóng vai trò quan trọng và cần thiết. Với t cách là một môn
khoa học nó nghiên cứu một số mặt của thế giới hiện thực. Vì vậy Toán học có
một hệ thống khái niệm, quy luật và có phơng pháp nghiên cứu riêng.
Hệ thống này luôn luôn phát triển trong quá trình nhận thức thế giới và
đa ra kết quả là những tri thức toán học để áp dụng vào cuộc sống. Trong quá
trình học tập ở nhà trờng, học sinh cần nắm vững các tri thức cơ bản và phơng
pháp nhận thức, từ đó trang bị cho mình một công cụ cần thiết để nhận thức
thế giới. Qua đó nhân cách của các em dần dần đóng vai trò chủ đạo trong
việc trang bị cho học sinh hệ thống tri thức và phơng pháp riêng, là công cụ
cần thiết đợc hình thành và phát triển. Với đặc thù riêng của môn học, toán
học thực sự đóng vai trò chủ đạo trong việc trang bị cho học sinh hệ thống tri
thức và phơng pháp riêng, là công cụ cần thiết để học sinh học các môn học
khác và phục vụ cho cấp học trên.
Các tuyến kiến thức đợc đa vào dạy ở trờng Tiểu học chia làm 5 tuyến
chính:
Số học
Các yếu tố về đại số

Các yếu tố về đại lợng
Các yếu tố về hình học
Giải toán.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
1
Khoá luận tốt nghiệp
Các tuyến kiến thức này liên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ và bổ
sung cho nhau, góp phần phát triển toàn diện năng lực toán học cho học sinh
tiểu học.
Trong SGK toán tiểu học, việc dạy học các yếu tố hình học đợc xuất
hiện từ kỳ 1 lớp 1 cho đến hết lớp 5. Các yếu tố hình học đợc giới thiệu theo
thứ tự từ đơn giản cụ thể đến trừu tợng, có xen kẻ với các mạch kiến thức khác
mà hạt nhân là Số học. Dạy học các yếu tố hình học cho học sinh Tiểu học
góp một phần không nhỏ vào việc phát triển năng lực toán học cho học sinh.
Đặc biệt là ở các lớp đầu tiểu học, dạy học các yếu tố hình học, góp phần phát
triển năng lực tởng tợng, t duy sáng tạo cho học sinh. Nó hỗ trợ cho học sinh
trong các môn học về thủ công nh cắt, xé, dán các hình, chơi các trò chơi học
tập về xếp hình hay trang trí hoạ tiết trong hội hoạ
Các tác giả viết sách cho học sinh tiểu học cũng đã quan tâm tới tuyến
kiên thức về dạy học các yếu tố hình học, nhiều tác giả cho ra các đầu sách
về cắt, ghép nhằm phát triển năng lực tởng tợng, cũng cố biểu tợng, dấu hiệu
nhận biết các hình cho học sinh. Từ đó giúp giáo viên, phụ huynh, học sinh có
điều kiện tiếp xúc với việc dạy và học dạng toán bổ ích và lý thú này.
Vì toán học là khoa học, lý thuyết gắn liền với thực hành, cho nên
song song với việc dạy, cung cấp lợng kiến thức lý thuyết cần xây dựng hệ
thống bài tập vận dụng cho học sinh. Thông qua các bài tập thực hành sẽ góp
phần cũng cố sâu hơn về biểu tợng hình hình học cho học sinh, rèn luyện năng
lực tởng tởng và tạo hứng thú học tập bộ môn.
Với mỗi yếu tố hình học mà học sinh đợc làm quen sẽ có nhiều cách
hình thành biểu tợng và cũng cố biểu tợng cho học sinh khác nhau. Nhng điều

quan trọng hơn cả là học sinh phải tởng tợng đợc trong không gian về hình
dạng tổng thể của nó. Đấy chính là mục tiêu của việc hình thành biểu tợng cho
học sinh.
Là sinh viên khoa GDTH qua đề tài Dy hc hỡnh thnh biu tng
mt s hỡnh hỡnh hc cho hc sinh cỏc lp 1, 2, 3, tôi mong muốn đợc
đóng góp một phần nhỏ của mình vào việc giúp các em học sinh có đợc năng
lực tởng tợng trong không gian về biểu tợng các hình hình học, kỹ năng vẽ
hình chính xác phù hợp với yêu cầu, đồng thời góp phần phát triển năng lực trí
tuệ cho học sinh của mình sau này.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
2
Khoá luận tốt nghiệp
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy học hình thành biểu tợng một số hình hinh học cho
học sinh các lớp 1, 2, 3.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu: có 2 nhiệm vụ
Tìm hiểu về vai trò, vị trí, mục tiêu, nội dung của việc dạy học các yếu
tố hình hình học ở các lớp 1, 2, 3.
Trình bày việc dạy học hình thành biểu tợng một số hình hình học và
bài tập củng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh các lớp 1, 2, 3.
4. Đối tợng phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu: Dạy học hình thành biểu tợng một số hình hình
học cho học sinh các lớp 1, 2, 3.
Phạm vi nghiên cứu: Các lớp 1, 2, 3.
5. Phơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận tổng hợp.
Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm.
Phơng pháp điều tra quan sát.
6. Cấu trúc đề tài
Khoá luận này gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và kết luận.

Trong đó.
Phần mở đầu:
Lý do chọn đề tài.
Mục đích nghiên cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Đối tợng Phạm vi nghiên cứu
Phơng pháp nghiên cứu
Phần nội dung:
Chơng 1: Cơ sở lý luận chung
Chơng 2: Dạy học hình thành biểu tợng một số hình hình học ở lớp 1.
Chơng 3: Dạy học hình thành một số biểu tợng hình hình học ở lớp 2.
Chợng 4: Dạy học hình thành một số biểu tợng hình hình học ở lớp 3.
Phần kết luận.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
3
Khoá luận tốt nghiệp
Nội dung
Chơng 1
Cơ sở lý luận
1. Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học ở giai đoạn các lớp 1, 2, 3
Đa số trẻ em hiện nay ở nớc ta đều có sự phát triển bình thờng về thể
chất và tâm lý. Nhìn chung ở mỗi trẻ em đều tiềm tàng những khả năng phát
triển. Khả năng đó sẽ hình thành và phát triển cụ thể nh thế nào phụ thuộc vào
môi trờng văn hoá và hoạt động của chính bản thân các em. Lứa tuổi học sinh
tiểu học, các em có hoạt động lần đầu tiên xuất hiện để tạo ra cái mới trong
tâm lý hoạt động học tập đây là hoạt động chủ đạo, quy định chiều hớng
phát triển tâm lý con ngời.
Nhờ thực hiện hoạt động học và các loại hình hoạt động khác, học sinh
Tiểu học có sự phát triển tâm lý, trình độ mới so với giai đoạn trớc tuổi đi học,
một trình độ phát triển do đợc đặt trong nền văn hoá nhà trờng và bằng phơng

pháp nhà trờng tạo ra. Trong đó đối với lớp 1 cần đợc đặc biệt chú ý. Học sinh
lớp 1 thực hiện bớc chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập với t
cách là hoạt động chủ đạo. Học sinh lớp 2, 3 khác với học sinh lớp 1 các em
không còn bỡ ngỡ với hoạt động học tập và cuộc sống nhà trờng. Lên lớp 2,
trẻ em bớc tiếp trên con đờng học tập với hành trang cần thiết đã đợc nhà tr-
ờng trang bị từ lớp 1. Lúc này, hoạt động học đợc hình thành tơng đối rõ rệt, ở
các em đã xuất hiện một số phẩm chất, một số tâm lý mới. Đến lớp 3, về cơ
bản hoạt động học đã đợc hình thành ở học sinh, tạo điều kiện cho các em
chuyển sang giai đoạn phát triển cao hơn. ở giai đoạn cuối bậc Tiểu học, hoạt
động học đã đợc hình thành trớc đây tiếp tục phát triển đạt tới trình độ nh một
năng lực của học sinh năng lực học tập. Kết thúc bậc Tiểu học học sinh
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
4
Khoá luận tốt nghiệp
hình thành đợc hệ thống thao tác trí tuệ, đạt đợc trình độ tâm lý, tạo cơ sở nền
tảng cho giai đoạn tiếp theo. Đó là giai đoạn phát triển của học sinh Trung học
cơ sở, Trung học phổ thông.
Trình độ tâm lý của học sinh có sự quyết định đến thành công của việc
dạy học cho học sinh. Vì vậy để dạy học đạt hiệu quả cao ngời giáo viên phải
nắm vững đặc điểm tâm lý của từng lứa tuổi. Với mỗi mạch kiến thức thì giáo
viên cần phải quan tâm đến đặc điểm tâm lý riêng, nó là cơ sở cho việc xác
định nội dung kiến thức vừa sức trong việc dạy học. ở đây tôi xin trình bày
một số đặc điểm tâm lý của học sinh các lớp 1, 2, 3.
1.1. Tri giác
Tri giác là hình thức nhận thức cao hơn cảm giác, phản ánh trực tiếp và
trọn vẹn sự vật, hiện tợng bên ngoài với đầy đủ các đặc tính của nó. (trích
trang 1033 Từ điển Tiếng Việt 2004 NXB Đà Nẵng).
Tri giác là quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
bề ngoài của sự vật hiện tợng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của
chúng ta. (trích tâm lý học đại cơng 1997 NXB Giáo dục).

Học sinh tiểu học tri giác mang tính chất chung chung, tính chất đại
thể, ít đi vào chi tiết và mang tính chủ định. Nét đặc trng của tri giác là tính ít
phân hoá của nó, các em phân biệt đối tợng giống nhau còn sai lầm và cha
chính xác, cha phân biệt đợc khái niệm, chẳng hạn: cái thớc với độ dài của cái
thớc; diện tích với mặt bàn
Khi tri giác sự phân tích có tính định hớng, có tổ chức và sâu sắc của
học sinh còn yếu. Cụ thể trong những năm đầu bậc tiệu học tri giác của học
sinh gắn chặt với hành động, với hoạt động thực tiễn của trẻ. Có nghĩa là chi
giác sự vật là làm một cái gì đó mà các em gặp trực tiếp trong cuộc sống và
hoạt động của các em, những cái gì mà giáo viên đặc biệt chỉ dẫn, nhấn mạnh
cho các em.
Nhớ hoạt học tập tri giác của học sinh tiểu học đợc tổ chức và phát
triển ngày cang cao dần. Giáo viên tổ chức việc tri giác của học sinh tiểu học,
giao nhiệm vụ điều chỉnh quá trình tri giác và kiểm soát kết quả của nó.
Học sinh tiểu học có thể tri giác đúng độ lớn của một vật thông thờng,
còn đối với nhiều vật quá to hoặc quá nhỏ thì các em cha tri giác đợc. Tri giác
về thời gian phát triển chậm hơn so với tri giác không gian.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
5
Khoá luận tốt nghiệp
1.2. T duy
T duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và
phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức nh biểu tợng, khái
niệm, phán đoán và suy lý. (trích trang 1070 Từ điển Tiếng Việt NXB
Đà Nẵng).
T duy là quá trình tâm lý, phản ánh các dấu hiện, các mối liên hệ và
các quan hệ bản chất của các sự vật và hiện tợng khách quan. (trích tâm lý đại
cơng 1997 NXB Giáo dục).
Từ hai định nghĩa về t duy ở trên ta thấy t duy của học sinh ở Tiểu học
chuyển dần từ tính t duy cụ thể sang t duy trừu tợng. Trong quá trình học tập,

t duy của học sinh Tiểu học thay đổi rất nhiều. Nếu tri giác phát triển khá
mạnh ở lứa tuổi mẫu giáo thì ở lứa tuổi tiểu học t duy phát triển mạnh mẽ hơn.
ở đây vai trò thúc đẩy các nội dung và phơng pháp dạy học, vai trò của giáo
viên với t cách là ngời tổ chức hoạt động có tính quyết định phát triển t duy. T
duy trừu tợng bắt đầu phát triển nhng còn non yếu. Vì vậy học sinh sẽ tiếp thu
kiến thức nhanh nếu giáo viên tổ chức dạy học có kết hợp các đồ dùng trực
quan hiệu quả.
1.3. Tởng tợng
Tởng tợng là tạo ra trong trí hình ảnh những cái không có ở trớc mắt
hoặc cha hề có. (trích trang 1082 Từ điển Tiếng Việt 2004 NXB Đà
Nẵng).
Tởng tợng là quá trình nhận thức cao cấp phản ánh những cái cha có
trong kinh nghiệm cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở
hình ảnh (biểu tợng) đã có. Nội dung của tởng tợng cũng giống nh t duy: Là
có thể tạo ra những cái mới cha từng có trong kinh nghiệm của con ngời. Mặt
khác tởng tợng và t duy chỉ nảy sinh khi con ngời đứng trớc một hoàn cảnh có
vấn đề nghĩa là đứng trớc những đòi hỏi mới cha từng gặp, thực tiễn mới
cha từng gặp và động cơ thúc đẩy quá trình tởng tợng của học sinh cũng là
nhu cầu.
Sự phát triển tởng tợng của học sinh tiểu học diễn ra theo 2 giai đoạn
chủ yếu.
Lúc đầu, những hình ảnh đợc tái tạo chỉ đặc trng gần đúng cho đối t-
ợng thực, những hoạt động của các đối tợng và những mối liên hệ giữa chúng.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
6
Khoá luận tốt nghiệp
Việc xây dựng những hình ảnh đó đòi hỏi sự mô tả bằng lời hoặc bằng tranh
vẽ.
Đến giai đoạn sau (lớp 2 đến lớp 3), lúc này số lợng những dấu hiện và
những thuộc tính trong những hình ảnh tăng lên đáng kể chúng khá đầy đủ và

cụ thể. Và điều này diễn ra chủ yếu là nhờ việc tái tạo lại những hình ảnh đó,
những yếu tố hành động và mối liên hệ quan lại của bản thân các đối tợng.
Sự hình thành tởng tợng không gian có thể bắt nguồn rất sớm ở trẻ em,
bắt nguồn từ nhận thức những biểu tợng trong không gian, theo các quan hệ
thứ tự, sắp đặt các đối tợng trong không gian đến những biểu tợng không gian
hai chiều, ba chiều, rồi những biểu tợng về đo đạc, dựng hình, tính toán. Tởng
tợng có thể phát triển ở những mức độ khác nhau, ở những lứa tuổi khác nhau,
sự tích luỹ theo độ tuổi, những kiến thức, những kỹ năng, kinh nghiệm, hoạt
động thực tiễn (vẽ, gấp, cắt, gấp hình, biểu diễn hình) làm cho vốn biểu tợng
phong phú, năng động hơn nhờ đó có khả năng hoạt động trí óc theo biểu t-
ợng.
1.4. Sự chú ý và ghi nhớ
Sự chú ý là gì? Tâm lý học đại cơng đa ra định nghĩa: Chú ý là sức tập
trung của ý thức vào một hay một nhóm của sự vật hiện tợng để định hớng
hoạt động bảo đảm điều kiện, thần kinh tâm lý cần thiết cho hoạt động tiến
hành có hiệu quả. Chú ý đợc xem nh là một trạng thái tâm lý đi kèm với các
hoạt động tâm lý khác, giúp cho các hoạt động tâm lý đó có kết quả (ví dụ:
chăm chú nhìn, lắng tai nghe, tập trung suy nghĩ)
Ghi nhớ là giai đoạn đầu tiên của hoạt động nhớ. Đó là quá trình tạo
nên dấu vết của đối tợng trên cơ sở của vỏ não, đồng thời cũng là quá trình
gắn đối tợng đó với những kiến thức đã có. Quá trình ghi nhớ rất cần thiết để
tiếp thu tri thức, tích luỹ kinh nghiệm.
Vậy trí nhớ là một quá trình tâm lý phản ánh những kinh nghiệm đã có
của cá nhân dới hình thức biểu tợng. Bao gồm sự ghi nhớ gìn giữ và tái hiện
lại sau đó ở trong óc, cái mà con ngời đã cảm giác, tri giác, xúc giác, hành
động hay suy nghĩ trớc đấy. Sản phẩm của trí nhớ là biểu tợng, đó là những
hình ảnh của sự vật, hiện tợng nảy sinh trong óc chúng ta khi có sự tác động
trực tiếp của chúng ta vào giác quan.
Sự chú ý không có chủ định là đặc điểm cơ bản, khả năng điều chỉnh
chú ý một cách có ý chí hạn chế ở học sinh tiểu học. Sự chú ý có chủ định của

Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
7
Khoá luận tốt nghiệp
học sinh tiểu học đòi hỏi có một động cơ ngắn. Sự chú ý thiếu bền vững ở học
sinh tiểu học là do quá trình ức chế phát triển còn yếu. Sự chú ý có chủ định,
nỗ lực ý chí để tập trung cần đợc rèn luyện và đó cũng là đòi hỏi của quá trình
học tập ở Tiểu học, đặc biệt là ở các lớp 1, 2, 3.
ở học sinh tiểu học, ghi nhớ có chủ định và không chủ định đều đang
phát triển. Trong đó, ghi nhớ không chủ định phát triển mạnh hơn chiếm u thế
hơn so với ghi nhớ có chủ định. Đặc biệt ở các lớp 1, 2, 3 thì ghi nhớ không
chủ định là chủ yếu học sinh thờng ghi nhớ, thuộc lòng một cách máy móc.
2. Vai trò, vị trí nội dung các yếu tố hình hình học cho môn toán ở tiểu học
2.1. Vai trò
Các tuyến kiến thức đợc đa vào dạy trong ở trờng tiểu học đợc chia
làm 5 tuyến chính là:
Số học
Các yếu tố về đại số
Các yếu tố về đại lợng
Các yếu tố về hình học
Giải toán
Các tuyến kiến thức này liên quan mật thiết với nhau hỗ trợ và bổ sung
cho nhau, góp phần phát triển toàn diện năng lực toán học cho học sinh tiểu
học.
Cùng với 5 tuyến kiến thức chủ yếu của bộ môn toán thì nội dung các
yếu tố hình học đóng vai trò không thể thiếu. Nếu nh số học cung cấp cho học
sinh những kiến thức sơ giản ban đầu về số tự nhiên, số thập phân, phân số nh
phép tính cộng, trừ, nhân, chia, các dấu hiệu chia hết cho các số 2, 3, 5, 9;
Các yếu tố về đại số cung cấp cho học sinh kiến thức ban đầu về biểu thức
toán học, giải phơng trình, bất phơng trình ẩn dới dạng điền số thích hợp vào ô
trống, điền dấu thích hợp vào ô trống, tìm giá trị cha biết, so sánh, sắp xếp

theo thứ tự giảm dần hoặc tăng dần; Các yếu tố về đại lợng cung cấp cho
học sinh hệ thống các đơn vị đo lờng, từ đo độ dài đến đo khối lợng, đơn vị đo
thể tích, đơn vị đo diện tích, đơn vị đo thời gian; Thì nội dung các yếu tố
hình học cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giải ban đầu về biểu tợng
của các hình hình học, kỹ năng ban đầu về vẽ hình, các biểu tợng về kích thớc,
hình dạng trong không gian của các hình. Đây chính là nền tảng, cơ sở ban
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
8
Khoá luận tốt nghiệp
đầu để học sinh có đợc những biểu tợng của các hình trong không gian hai
chiều, ba chiều.
Thông qua nội dung Các yếu tố hình hình học giúp cho học sinh học
tốt hơn các bộ môn khác, đặc biệt là trong môn thủ công, cắt ghép hình, hội
hoạ.
Ví dụ 1:
Để cắt đợc một hình vuông, học sinh phải có biểu tợng về hình vuông
ở trong đầu thì học sinh mới có thể cắt đợc hình vuông. Hình vuông là hình có
bốn cạnh bằng nhau, có 4 góc vuông (đối với học sinh lớp 3); hoặc hình vuông
là hình giống với hình chiếc khăn mùi xoa, giống với hình tấm bìa mà giáo
viên cho quan sát (đối với học sinh lớp 1).
Ví dụ 2:
Để ghép đợc hình ngôi nhà từ bộ đồ dùng học toán thì học sinh phải có
biểu tợng về các hình tam giác, hình chữ nhật, hình vuông sau đó chọn và
ghép lại theo hớng dẫn của giáo viên.
Nhờ đợc học phần nội dung các yếu tố hình hình học mà trí tởng tợng
của học sinh tiểu học ngày dần dần đợc phát triển hơn. ở lớp 1, học sinh chỉ
nhân biết các hình (hình tròn, hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình
tứ giác) dới dạng tổng thể (chủ yếu học sinh quan sát toàn thểdới dạng của
hình rồi nêu tên hình, cha yêu cầu xét đến các yếu tố của hình hoặc xét đên
mối liên quan giữa hình dạng các hình). Nh vậy, ở lớp 1 học sinh chi thấy hình

vuông,hình tam giác, hình chữ nhật,hình trònlà hình có hình dạng giống với
hình mà giáo viên cho quan sát,học sinh phải đối chiếu một cách toàn thể với
vật mẫu. Nhng đến lớp 3, khi nhận dạng hình vuông, chữ nhật, ngoài xét
tổng thể học sinh đã biết dựa vào các đặc điểm về yếu tố cạnh, góc, đỉnh
của hình để nhận dạng, nêu tên hình. Chẳng hạn đến lớp 3, học sinh có thể
tởng tợng trong óc mình hình vuông là hình có 4 cạnh bằng nhau và có 4 góc
vuông, hình chữ nhật là hình có 4 góc vuông có 2 cạnh dài bằng nhau và 2
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
9
Khoá luận tốt nghiệp
cạnh ngắn bằng nhau. Và khi đã tởng tợng đợc thì học sinh có thể vẽ một cách
chính xác các hình, gọi tên chính xác các hình.
Nh vậy có thể nói nội dung các yếu tố hình học đóng vai trò quan
trọng to, lớn đối với việc phát triển t duy,trí tởng tợng, năng lực học toán của
học sinh, góp phần phát triển năng lực toàn diện về học tập cho học sinh tiểu
học.Nó hỗ trợ đắc lực cho các môn học khác nh môn thủ công (cắt,xé, dán,
gấp hình), môn Tự nhiên và Xã hội.
2.2. Vị trí
Việc dạy học các yếu tố hình học trong bộ môn Toán ở tiểu học có vị
trí quan trọng, không thể thiếu, là một trong những tuyến kiến thức quan
trọng trong việc dạy học toán cho học sinh tiểu học, góp phần phát triển một
cách toàndiện năng lực học toáncho học sinh. Những kiến thức, kỹ năng hình
học mà học sinh tích luỹ đợc rất cần thiết cho cuộc sống, rất hữu ích cho việc
học các tuyến kiến thức khác trong môn toán ở Tiểu học nh Số học, Đo đại l-
ợng, Giải toán; cũng nh việc học các môn Vẽ,Tập viết, Tự nhiên và Xã
hội(Địa lý), Thủ công (căt, xé, dán,).
Ngoài ra khi học nội dung các yếu tố hính học giúp học sinh phát
triển đợc nhiều năng lực trí tuệ; rèn luyện đợc nhiều đức tính và phẩm chất tốt
nh: cẩn thận, chu đáo, khéo léo, a thích sự chính xác, làm việc có kế hoạch,
nhờ đó mà học sinh có nhiều tiền đề để học các môn khác ở Tiểu học cũng nh

nền tảng cho bậc học cao hơn.
3. Mục tiêu và nội dung dạy học các yếu tố hình học ở các lớp 1, 2, 3
3.1.Mục tiêu.
3.1.1. Mục tiêu dạy học các yếu tố hình học ở lớp 1.
Mục tiêu của việc dạy học các yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 1
là giúp học sinh:
Hình thành biểu tợng ban đầu về một số hình đơn giản: điểm, đoạn
thẳng, hình vuông, hình tròn, hình tam giác, điểm ở trong một hình, điểm ở
ngoài một hình.
Bớc đầu rèn luyện các kỹ năng: nhận dạng hình, vẽ đoạn thẳng có đọ
dài cho trớc.
Bớc đầu rèn luyện óc quan sát, trí tởng tợng, phát triển vốn từ vựng về
hình học.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
10
Khoá luận tốt nghiệp
3.1.2. Mục tiêu dạy học các yếu tố hình học ở lớp 2
Mục tiêu của viẹc dạy học các yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 2
là giúp học sinh:
Nhận dạng và gọi tên đúng: Hình chữ nhật, hình tứ giác, đờng thẳng, đ-
ờng gấp khúc (nhận dạng hình tổng thể, cha yêu cầu nhận ra hình chữ nhật
cũng là hình tứ giác; hình vuông cũng là hình chữ nhật).
Biết tính độ dài đờng gấp khúc khi cho độ dài mỗi đoạn thẳng của nó,
tính chu vi khi cho độ dài đoạn thẳng của hình tam giác, hình tam giac.
Biết thực hành vẽ hình (theo mẫu) trên giấy kẻ ô vuông, xếp ghép các
hình đơn giản.
Bớc đầu làm quen với các thao tác chọn, phân tích, tổng hợp phát triển
t duy, trí tởng tợng không gian
3.1.3. Mục tiêu dạy học các yếu tố hình học ở lớp 3
Mục tiêu của việc dạy học các yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 3

là giúp học:
Có đợc một số biểu tợng về góc, gócvuông, góc không vuông; về trung
điểm của đoạn thẳng; về hình tròn, tâm, bán kính,đờng kính của hình
tròn.Nắm đợc một đặc điểm về các yếu tố về cạnh, góc,đỉnh của hình chữ
nhật, hình vuông.
Biết nhận dạng các hình chữ nhật, hình vuông theo đặc điểm về các yếu
tố góc, cạnh của hình đó; nhận biết (xác định) trung điểm của đoạn thẳng
(theo mức độ yêu cầu của lớp 3). Biết vẽ hình tròn bằng compa, biết kiểm tra
góc vuông bằng êke,biết vẽ trang trí hình tròn (đơn giản) và biết gấp hình
(theo yêu cầu ở lớp 3). Biết tính chu vi và diện tích hình chữ nhật,hình
vuông(theo quy tắc).
Học sinh tích cực, hứng thú học tập trên cơ sở phát triển các năng lực trí
tuệ, đặc biệt là phát triển trí tởng tợng không gian (thông qua các bai toán vẽ
hình, vẽ trang trí hình tròn về xếp ghép, phân tích, tổng hợp).
3.2. Nội dung.
3.2.1. Nội dung dạy học các yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 1.
Nhận dạng bớc đầu về hình vuông, hình tam giác, hính tròn.
Giới thiệu về điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình; đoạn thẳng.
Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông, gấp, cắt hình.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
11
Khoá luận tốt nghiệp
3.2.2. Nội dung dạy học các yếu tố hình học trong mon toán ở lơp 2.
Giới thiệu về đờng gấp khúc, tính độ dài đờng gấp khúc; giới thiệu về đ-
ờng thẳng, ba điểm thẳng hàng.
Giới thiệu hình tứ giác, hình chữ nhật, vẽ hình trên giấy ô vuông.
Giới thiệu khái niệm ban đầu về chu vi của một hình đơn giản. Tính chu
vi hình tam giác, hình tứ giác.
3.2.3. Nội dung dạy học các yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 3.
Giới thiệu góc vuông, góc không vuông,thực hành nhận biết và vẽ góc

vuông bằng êke.
Điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng.
Giới thiệu đỉnh, góc, cạnh của hình đã học.
Hình tròn, tâm, đờng kính của hình tròn.Vẽ trang trí hình tròn.
Hình chữ nhật, hình vuông.Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông.
Giới thiệu diện tích của một hình, tính diện tích hình chữ nhật và diện
tích hình vuông.
4. Trình độ phát triển t duy về hình dạng không gian ở học sinh Tiểu học
Qua những công trình nghiên cứu về lĩnh vực t duy hình học, ngời ta đã
nêu lên đợc trình độ phát triển t duy hình học ở học sinh Tiểu học nh sau.
4.1.Giai đoạn thứ nhất.
ở giai đoạn này, các hình hình học đợc tri giác nh là một cái toàn thể
và chúng chỉ khác nhau về hình dạng.Chẳng hạn, nếu chỉ cho trẻ em 6 – 7 tuổi
xem vài ba lần hình tròn, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật, giới thiệu
tên gọi tứng loại hình thì sau đó các em co thể nhận diện các hình theo hình
dạng theo một cáchtrực giác. Việc nhận dạng hình ở giai đoạn này cha gắn với
việc phân tích đặc điểm của hình đó.
4.2. Giai đoạn thứ hai
ở giai đoạn này, học sinh đã có thể tiến hành nhận diện hình hìh học
qua việc phân tích đặc điểm của các hình bằng con đờng trực giác. Chẳng hạn,
nhờ việc kiểm tra góc vuông bằng êke và đo cạnh bằng thớc mà thấy đợc hình
vuông có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau; hình chữ nhật có 4 góc vuông và
có 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau. Tuy nhiên, các tính chất của
các hình cha đợc sắp xếp một cách lôgic, bản thân các hình cũng cha đợc sắp
xêp theo trật tự lôgic, chúng chỉ đợc mô tả chứ cha đợc định nghĩa. Quan hệ
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
12
Khoá luận tốt nghiệp
lôgic của các hình cũng cha đợc nêu lên ở giai đoạn này, chẳng hạn cha thấy
đợc quan hệ lôgic giữa hình vuông và hình chữ nhật.

Chơng 2
Dạy học hình thành biểu tợng
một số hình hình học ở lớp 1
1. Cơ sở tâm lý của học sinh lớp 1
Học sinh lơp 1 thực hiện bớc chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt
đông học tập với t cách là hoạt đọng chủ đạo.Lúc này, hoạt động học tập bắt
đầu đợc hình thành. Vì vậy, các tiết học phải đợc tổ chức theo hình thức vừa
học vừa chơi. Nội dung các yếu tố hình họcđợc đa vào chơng trình lớp 1
với t cách là một tuyến kiến thức không thể thiếu trong môn toán lớp 1.
1.1. Tri giác
Lớp 1 là lớp đầu tiên của bâc học tiểu học, các hình thức hoạt động học
tập đang bắt đầu đợc hình thành. Tri giác của học sinh lớp 1 chủ yếu là tri giac
chung chung đại thể, cha đi vào chi tiêt sự vật hiện tợng, tri giác phân biệt bắt
đầu đợc hình thành nhng còn non yếu.
Ví dụ:
Khi học về hình tròn, học sinh đợc quan sát bánh xe, quan sát ông sữa
có dạng hình tròn, từ đó học sinh tri giác một cách đại thể và sau đó có biểu t-
ợng về hình tròn, nhng vật có hình dạng nh vậy đợc gọi là hình tròn.
1.2. T duy
Nếu nh ở lứa tuổi mẫu giáo, tri giác của học sinh phát triển khá mạnh
thì bắt đầu lên lớp 1 t duy của học sinh bắt đầu đợc phát triển. Học sinh lớp
1chủ yếu là t duy cụ thể, t duy kinh nghiệm. Vì vậy những tiết học ở lớp 1,
giáo viên sử dụng phơng tiện dạy học trực quan hợp lý thì tiết học sẽ rất hiệu
quả, gây hứng thú học tập cho học simh.
Ví dụ:
Khi dạy bài Hình tròn, giáo viên không chỉ sử dụng đồ dùng trực quan
các miếng bìa, hình vẽ mà có thể su tâm nhng vật thật có dạng hình tròn học
sinh có thể gặp trong cuộc sống (miệng bát, bánh xe, ống sữa) cho học sinh
quan sát, và giới thiệu cho học sinh đó là hình tròn.
Những hình ảnh gắn với cuộc sống thực tiễn của các em sẽ thu hút, gây

hứng thú học tập, từ đó kích thích sự t duy của các em.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
13
Khoá luận tốt nghiệp
1.3. Chú ý và ghi nhớ
Học sinh lớp 1 mới bắt đầu đợc làm quen với hoạt động học, vì vậy sự
chú ý, ghi nhớ của học sinh cha phát triển. Sự chú ý, ghi nhớ chủ yếu là cha có
chủ định. Để học sinh lĩnh hội kiến thức, giáo viên phải thiết kế phơng tiện
dạy học trực quan mang tính thẩm mỹ, nhng vẫn đảm bảo nội dung kiến thức
thì mới thu hút đợc học sinh vào tiết học.
Trên cơ sở tìm hiểu tâm lý của học sinh lớp 1, trong chơng này tôi xin
trình bày các bớc dạy học hình thành biểu tợng một số hình hình học cho học
sinh lớp 1.
2. Dạy học hình thành biểu tợng một số hình hình học ở lớp 1
ở lớp 1, học sinh đợc hình thành biểu tợng về hình vuông, hình tròn,
hình tam giác nh một toàn thể, gắn liền với hình dạng của chúng, tức là
không yêu cầu phân tích các yếu tố, đặc điểm của hình.
Việc hình thành biểu tợng về các hình nói trên đợc tiến hành trong một
số tiết về các yếu tố hình học ở phần biểu tợng ban đầu, sau đó đợc tiến
hành xen kẽ với việc dạy các kiến thức khác trong suốt chơng trình lớp 1 và
các lớp trên thông qua các bài luyện tập.
Có thể tiến hành giảng dạy theo trình tự sau khi dạy các bài hình thành
biểu tợng hình hình học cho học sinh lớp 1.
Bớc 1: Giáo viên cho học sinh quan sát một số mẫu vật có màu sắc,
kích thớc, vị trí đăt hình, chất liệu khác nhau và giới thiệu tên hình.
Bớc 2: Học sinh chọn hình đang học trong số nhiều hình đã học.
Bớc 3: Học sinh tự tìm ví dụ trong thực tế về hình đang học.
Bớc 4: Học sinh tự tạo hình chẳng hạn:
Tô màu hình (để có toàn bộ hình)
Tô theo nét đứt để có biên của hình.

Dùng que tính hoặc tăm để xếp hình.
Nối các điểm đã cho sẵn để có hình.
Cắt, ghép hoặc gấp hình
Đây chỉ là một trong những cách mà giáo viên có thể sử dụng để hình
thành biểu tợng hình hình học cho học sinh lớp 1.Trong chơng này tôi xin
trình bày các bớc dạy học hình thành biểu tợng hình tam giác, điểm và đoạn
thẳng cho học sinh lớp 1.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
14
Khoá luận tốt nghiệp
2.1. Dạy học hình thành biểu tợng hình tam giác.
Cách 1.
Bớc 1:
Giáo viên đính một hình tam giác lên bảng, nói Đây là hình tam giác,
nhằm giúp học sinh nhận ra một vật mẫu. Sau đó, giáo viên cho vài học sinh
rồi cả lớp lặp lại.
Giáo viên xoay hình tam giác và hỏi: Đây là hình gì?, học sinh trả lời
Hình tam giác.Vài học sinh lặp lại.
Sau đó giáo viên dịch chuyển vật mẫu đến vị trí khác nhau, hoặc đa ra
một số hình tam giác có kích thớc khác nhau, hoặc màu sắc khác nhau. Cho
học sinh quan sát và trả lời đợc Đó cũng là hình tam giác.
Bớc 2:
Giáo viên yêu cầu học sinh chọn trong hộp đồ dùng học toán một số
hình tam giác và gọi một số học sinh giơ hình tam giác lên và hỏi Đây là
hình gì?. Khi đó học sinh trả lời Đây là hình tam giác. Sau đó cho học sinh
tìm trong thực tế những đồ vật co hình dạng là hình tam giác.
Bớc 3:
Giáo viên cho học sinh nêu ví dụ về hình tam giác trong thực tế, chẳng
hạn: lá cớ thể thao (có) hình tam giác, cái êke (có) hình tam giác, bảng chỉ
dẫn đờng vòng (có) hình tam giác

Bớc 4.
Giáo viên cho học sinh mở Vở bài tập in sẵn và giải các bài tập :
Tô màu hình tam giác, tô nét đứt để có hình tam giác, nối các điểm (đã
có sẵn) để có hình tam giác.
Giáo viên cho học sinh dùng que tính (hoặc tăm) để xếp hình tam giác.
Giáo viên hớng dẫn học sinh lấy giấy bìa gấp rồi cắt ra một hình tam
giác v v.
Học sinh thao tác và quan sát trên các vật mẫu đồng thời tiếp nhận
thông tin của giáo viên, từ đó có biểu ợng cụ thể về hình tam giác một cách
toán thể.
Giáo viên vẽ hình tam giác lên bảng và nói hình tam giác trên cơ sở
đó học sinh tri giác trên những mô hình hình học. Trong khi giáo viên chú ý
xếp đặt các hình cạnh nhau (ví dụ hình vuông đặt cạnh hình tròn, hình tam
giác đặt cạnh hình vuông) để học sinh tập so sánh đối chiếu.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
15
Khoá luận tốt nghiệp
Ví dụ:
Cách 2:
Cũng có thể dạy bài này theo một cách khác nhng các bớc cơ bản cũng
giống nh cách ở trên.
Bớc 1: Giáo viên gắn lên bảng các tấm bìa có hình dạng khác nhau
(trong đó có các hình đã đợc học nh hình vuông, hình tròn và hình cha học nh
hình tam giác). Sau đó giáo viên sẽ yêu cầu học sinh chỉ ra hình đã học (hình
vuông, hình tròn). Tiêp tục giáo viên hỏi học sinh em còn biết hình nào nữa
không?. Nếu học sinh trả lời đợc hình tam giác thì giáo viên cho các học sinh
khác nhắc lại. Nếu học sinh không trả lời đợc thì giáo viên giới thiệu với học
sinh trên bảng cô còn có hình tam giác, giáo viên vừa nói, vừa chỉ vào hình
tam giác, sau đó cho học sinh nhắc lại.
Bớc 2: Tổ chức cho học sinh xem các hình tam giác trong các hình tam

giác trong sách giáo khoa, giáo viên vẽ hình tam giác lên bảng và gọi tên
hình tam giác. Khi đó học sinh tri giác trên mô hình của hình tam giác và từ
đó học sinh có biểu tợng về hình tam giác.
Bớc 3: Tổ chức cho học sinh tìm trong hộp đồ dùng học toán một số
hình tam giác và gọi một số học sinh giơ hình tam giác lên và hỏi đây là hình
gì?. Khi đó học sinh trả lời: đây là hình tam giác. Cho học sinh thực hiện
nhiều lần.
Bớc 4: Giáo viên cho học sinh nêu ví dụ về hình tam giác trong thức tế
chẳng hạn: lá cờ thể thao (có) hình tam giác, khăn quàng đỏ (có) hình tam
giác
Bớc 5: Tổ chức cho học sinh làm bài tập tơng tự nh bớc 4 ở cách 1.
Trên đây là 2 trong nhiều cách mà chúng ta có thể sử dụng để hình
thành biểu tợng hình hình học cho học sinh. Để hình thành biểu tợng về hình
vuông, hình tròn cho học sinh ta cũng có thể tiến hành tơng tự theo cách 1
hoặc cách 2 hoặc có những cách khác, tuỳ thuộc vào trình độ của học sinh lớp
mình dạy. Nhng ở lớp 1 thì cách 1 thờng đợc nhiều giáo viên lựa chọn nhất vì
nó phù hợp với mọi đối tợng học sinh.
Bên cạnh việc hình thành biểu tợng về hình vuông, hình tròn, hình tam
giác, học sinh lớp một còn đợc hình thành biểu tợng về điểm, đoạn thẳng.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
16
Khoá luận tốt nghiệp
2.2. Hình thành biểu tợng về điểm, đoạn thẳng
Học sinh nhận biết đợc điểm, đoạn thẳng một cách trực tiếp, thông qua
những hình ảnh cụ thể. Tập đọc tên các điểm và đoạn thẳng.
Chẳng hạn, giáo viên chấm một chấm tròn trên bảng, viết bên cạnh
chấm tròn chữ A (A ) và hớng dẫn học sinh đọc điểm A. Cho học sinh đọc
lại nhiều lần, sau đó cho cả lớp đọc lại.
Hoặc giáo viên chấm 2 điểm A và B, dùng thớc nối 2 điểm A và B hớng
dẫn học sinh đọc đoạn thằng AB.

Giáo viên hớng dẫn học sinh đọc tên các điểm: B đọc là bê, C đọc là xê,
D đọc là đê, đoạn thẳng BC đọc là đoạn thằng bê xê.
Việc hình thành biểu tợng hình hình học cho học sinh ở lớp 1 là rất
quan trọng. Nó cùng cấp cho học sinh hình ảnh tổng thể của một hình. Tuy
nhiên để cũng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh thì hệ thống các bài
tập lại đóng vai trò quyết định rất lớn. Vì vậy để học sinh lớp một có đợc biểu
tợng về hình hình học thì giáo viên cần phải xây dựng, thống kê hệ thống bài
tập luyện tập cho học sinh.
3. Bài tập cũng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh lớp 1
3.1. Dạng bài tập về nhận dạng hình
3.1.1. Tô màu các hình có hình dạng theo yêu cầu
Đây là dạng bài tập nhằm cũng cố biểu tợng của hình hình học mà học
sinh đã đợc học. Để làm đợc bài tập này, học sinh phải có biểu tợng của hình
đó ở trong đầu, phân biệt hình dạng của các hình khác nhau.
Ví dụ: (bài 1 – trang 10 – toán 1).
Tô màu và các hình: Cùng hình dạng thì tô cùng màu.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
17
A B
Khoá luận tốt nghiệp
Bài giải
Khi làm bài tập này yêu cầu học sinh phải tô đợc màu các hình: cùng
hình dạng thì tô cùng màu. Chẳng hạn:
3.1.2. Cho sẵn số lợng hình cần nhận dạng, học sinh chỉ việc đếm đủ số hình
đó
Đây là dạng bài tập nhận dạng hình tơng tự với dạng ở trên. Tuy nhiên
yêu cầu của dạng này là học sinh phải phân biệt đợc hình dạng tổng thể của
các hình. Bài tập này chỉ phù hợp với yêu cầu làm miệng trên bảng cũng cố
ngay tại phần luyện tập sau khi hình thành kiến thức mới hoặc là ở tiết luyện
tập.

Ví dụ: Tìm trên hình vẽ bên 1 hình vuông và 2 hình tam giác.
Bài giải
Với bài toán này học sinh sẽ chỉ trực tiếp trên hình vẽ hoặc cũng có thể
tô màu để phân biệt nh sau:
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
18
Khoá luận tốt nghiệp
3.1.3. Đếm số lợng hình cần nhận dạng
Đối với loại bài tập về đếm các hình trong các hình trong đó có những
hình mà bản thân nó lại chứa nhiều hình khác (cấu hình) thì ngoài khả năng
đếm chính xác, học sinh còn phải biết phân tích và tổng hợp hình thì mới đếm
đủ số hình. ở tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 1 có thể tiến hành nhận dạng
hình hình học theo những thao tác: cắt và ghép hình, phân tích và tổng hợp
hình nhờ việc ghi số, kết hợp các yếu tố.
Ví dụ: (bài 5 trang 42 Toán 1).
Hình bên có mấy hình tam giác?
Bài giải
Cách 1: Với bài tập này giáo viên có thể cho học sinh lấy bút màu tô
mày khác nhau vào mỗi hình tam giác nhỏ rồi cắt rời ra để thấy có 2 hình tam
giác: hình b (Tam giác đỏ và tam giác vàng), sau đó ghép chúng lại để có tam
giác thứ 3 (hình c)
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
19
Hình a
Hình b
Hình c
Khoá luận tốt nghiệp
ở đây quá trình phân tích cho ta 2 hình tam giác, quá trình tổng hợp
thêm 1 hình tam giác nữa. Do đó trong hình a có tất cả 3 hình tam giác.
Cách 2: Bài toán này có thể hớng dẫn học sinh làm theo cách ghi số nh

sau:
Hình tam giác Số lợng
Ghi số 1, ghi số 2 2 hình
Ghi số 1 và 2 1 hình
Vậy có tất cả 3 hình tam giác.
3.1.4. Cho sẵn vài tình huống về số lợng hình cần nhận dạng, trong đó có
một tình huống đúng và các tình huống còn lại sai. Học sinh phải xác định đợc tình
huống đúng sai.
Ví dụ: Đúng ghi đ, sai ghi s.
Hình bên có:
4 hình vuông
5 hình vuông
Bài giải
Hình bên có:
4 hình vuông
5 hình vuông
Đây là dạng toán đếm hình, học sinh cần phải đếm chính xác các hình
trong cấu hình. Có thể đếm theo cách ghi số hoặc tô màu.
3.1.5. Sử dụng các trò chơi học tập
Đối với học sinh lớp 1, tiết học cần kết hợp tổ chức các trò chơi nh vậy
sẽ giảm đi sự căng thẳng của tiết học, gây hứng thú học tập cho học sinh thực
hiện đợc mục tiêu chơi mà học, học mà chơi. Những tiết học nào, giáo viên
có kinh nghiệm kết hợp một cách khéo léo giữa nội dung kiến thức và các trò
chơi, học sinh sẽ rất hào hứng tham gia kết quả là chúng ta sẽ có 1 tiết học vừa
nhẹ nhàng, hứng thú, đảm bảo đợc kiến thức cung cấp cho học sinh. Đối với
nội dung dạy học các yếu tố hình học thì việc sử dụng trò chơi học tập có
vai trò không nhỏ, góp phần vào việc cũng cố biểu tợng hình hình học cho học
sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng.
Ví dụ: Trò chơi
Đồ vật và hình dạng của chúng.

Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
20
1 2
đ
s
Khoá luận tốt nghiệp
Sau khi học sinh đợc học hình tròn, hình chữ nhật, hình vuông, hình
tam giác giáo viên có thể sử dụng trò chơi này. Giáo viên chuẩn bị lên giấy
khổ lớn 2 nhóm hình nh sau: Yêu cầu học sinh quan sát kỹ các hình rồi nối
mỗi đồ vật với hình vẽ thích hợp (theo mẫu).
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
21

Khoá luận tốt nghiệp
Bài giải
3.2. Dạng bài tập vẽ hình
Việc vẽ hình ở lớp 1 bao gồm: vec hình không dùng thớc (thờng gọi là
vẽ bằng tay) và vẽ hình bằng thớc.
Khi hớng dẫn học sinh vẽ hình giáo viên cần làm mẫu trớc yêu cầu trẻ
bắt trtơc làm theo. Phải hết sức lu ý hớng dẫn trẻ cầm bút đúng và ngồi đúng t
thế.
Việc hớng dẫn học sinh vẽ bằng thớc thực ra chỉ là hớng dẫn trẻ nối hai
điểm để có đoạn thẳng. Vì vậy ở lơp 1 ta thờng gặp các dạng bài tập về vẽ
hình để củng cố biểu tợng hình hình học nh sau.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
22

Khoá luận tốt nghiệp
3.2.1. Cho trớc các điểm, yêu cầu dùng thớc nối các điểm để đợc hình cần
tạo

Bài tập này học sinh phải có biểu tợng về hình sau đó dùng thớc và bút
chì nối các điểm cho trớc. Sau đó kiểm tra lại xem số lợng hình đã đúng theo
yêu cầu của đề bài cha?
Ví dụ: (Bài 1, trang 146 Toán 1)
Dùng thớc và bút chì nối các điểm để có hai hình vuông.

Bài gải
Vời bài tập này, học sinh sẽ dùng thớc, bút chì lần lợt nối các điểm để
có 2 hình vuông và mong muốn của giáo viên là học sinh có thể nối đợc nh
sau:
3.2.2. Kẻ thêm đoạn thẳng vào hình cho trớc để có các hình theo yêu cầu
Đây là dạng bài tập có phần nâng cao hơn một chút so với trình độ của
học sinh lớp 1, Để kẻ thêm vào hình mà sau đó có đợc số hình theo yêu cầu
theo yêu cầu, đòi hỏi học sinh phải có biểu tợng của các hình ở trong đầu xem
cần phải kể thêm đoạn thẳng nh thế nào.
Ví dụ: (Bài 1, trang 169 – Toán 1)
Kẻ thêm một đoạn thẳng để có:
a. hình vuông và một hình tam giác. b. Hai hình tam giác
Bài giải
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
23
Khoá luận tốt nghiệp
Với yêu cầu của bài tập này thì học sinh có thể dùng bút chì kẻ thêm
đoạn thẳng để có:
a. Một hình vuông và
một hình tam giác.
b. Hai hình tam giác
3. 2. 3. Đa ra tình huống, yêu cầu học sinh tìm cách giải quyết để có đợc

hình hình học mà bài tập yêu cầu
Ví dụ: (B ài 4, trang 8 Toán 1)
Làm thế nào để có các hình vuông?
Bài giải
Với bài tập này, học sinh dùng thớc kẻ, bút chì để kẻ thêm các đoạn
thẳng vào hình. Đây là dạng bài tập tơng tự với dạng bài tập ở trên. Yêu cầu
học sinh phải làm đợc là:
3.3. Xếp hình theo mẫu
Để củng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh thì dạng toán xếp
hình theo mẫu đợc đa vào chơng trình Toán 1. ở dạng bài tập này, yêu cầu
học sinh lựa chọn các hình trong hộp đồ dùng học sinh sắp xếp theo mẫu.
Ví dụ 1.(Bài 5, trang 41 Toán 1)
Xếp hình theo mẫu sau.
Ví dụ 2: (Bài 5, trang 91 – Toán 1)
Xếp hình theo mẫu dới đây.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
24
Khoá luận tốt nghiệp
3.4. Xếp hình bằng que diêm (que tính)
Dạng bài tập thực hành này, giáo viên có thể sử dụng ngay trong tiét
hình thành kiến thức mới hoặc là tiết luyện tập.
Trong tiết hình thành kiến thức mới giáo viên có thể yêu cầu học sinh
sử dụng que tính để xếp một hình hình học.
Ví dụ trong tiết Hình tam giác giáo viên có thể cho học sinh sử dụng
3 que tính và xếp thành hình tam giác.
Hoặc trong tiết luyện tập thực hành giáo viên có thể yêu cầu.
Ví dụ
a. Dùng 6 que diêm đẻ xếp tạo dáng một ngôi nhà có mái lợp, vẽ phác
hoạ ra giấy ngôi nhà đó.
b. Dùng 8 que diêm xếp tạo dáng một con bớm, một con cá cảnh đang

bơi.
Bài giải
Với dạng toán này sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh, vì trẻ em thờng
thích tự làm và thích khám phá. Đồng thời dạng toán này sẽ kích thích sự sáng
tạo, tự lập của từng học sinh.
Sinh viên: Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH
25
Các yếu tố về đại lợngCác yếu tố về hình họcGiải toán. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệpCác tuyến kỹ năng và kiến thức này tương quan mật thiết với nhau, tương hỗ và bổsung cho nhau, góp thêm phần tăng trưởng tổng lực năng lượng toán học cho học sinhtiểu học. Trong SGK toán tiểu học, việc dạy học những yếu tố hình học đợc xuấthiện từ kỳ 1 lớp 1 cho đến hết lớp 5. Các yếu tố hình học đợc ra mắt theothứ tự từ đơn thuần đơn cử đến trừu tợng, có xen kẻ với những mạch kỹ năng và kiến thức khácmà hạt nhân là Số học. Dạy học những yếu tố hình học cho học sinh Tiểu họcgóp một phần không nhỏ vào việc tăng trưởng năng lượng toán học cho học sinh. Đặc biệt là ở những lớp đầu tiểu học, dạy học những yếu tố hình học, góp thêm phần pháttriển năng lượng tởng tợng, t duy phát minh sáng tạo cho học sinh. Nó tương hỗ cho học sinhtrong những môn học về bằng tay thủ công nh cắt, xé, dán những hình, chơi những game show họctập về xếp hình hay trang trí hoạ tiết trong hội hoạCác tác giả viết sách cho học sinh tiểu học cũng đã chăm sóc tới tuyếnkiên thức về dạy học những yếu tố hình học, nhiều tác giả cho ra những đầu sáchvề cắt, ghép nhằm mục đích tăng trưởng năng lượng tởng tợng, cũng cố biểu tợng, dấu hiệunhận biết những hình cho học sinh. Từ đó giúp giáo viên, cha mẹ, học sinh cóđiều kiện tiếp xúc với việc dạy và học dạng toán hữu dụng và lý thú này. Vì toán học là khoa học, triết lý gắn liền với thực hành thực tế, cho nênsong tuy nhiên với việc dạy, phân phối lợng kiến thức và kỹ năng triết lý cần kiến thiết xây dựng hệthống bài tập vận dụng cho học sinh. Thông qua những bài tập thực hành thực tế sẽ gópphần cũng cố sâu hơn về biểu tợng hình hình học cho học sinh, rèn luyện nănglực tởng tởng và tạo hứng thú học tập bộ môn. Với mỗi yếu tố hình học mà học sinh đợc làm quen sẽ có nhiều cáchhình thành biểu tợng và cũng cố biểu tợng cho học sinh khác nhau. Nhng điềuquan trọng hơn cả là học sinh phải tởng tợng đợc trong khoảng trống về hìnhdạng tổng thể và toàn diện của nó. Đấy chính là tiềm năng của việc hình thành biểu tợng chohọc sinh. Là sinh viên khoa GDTH qua đề tài Dy hc hỡnh thnh biu tngmt s hỡnh hỡnh hc cho hc sinh cỏc lp 1, 2, 3, tôi mong ước đợcđóng góp một phần nhỏ của mình vào việc giúp những em học sinh có đợc nănglực tởng tợng trong khoảng trống về biểu tợng những hình hình học, kỹ năng và kiến thức vẽhình đúng mực tương thích với nhu yếu, đồng thời góp thêm phần tăng trưởng năng lượng trítuệ cho học sinh của mình sau này. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệp2. Mục đích nghiên cứuNghiên cứu việc dạy học hình thành biểu tợng một số ít hình hinh học chohọc sinh những lớp 1, 2, 3.3. Nhiệm vụ nghiên cứu và điều tra : có 2 nhiệm vụTìm hiểu về vai trò, vị trí, tiềm năng, nội dung của việc dạy học những yếutố hình hình học ở những lớp 1, 2, 3. Trình bày việc dạy học hình thành biểu tợng một số ít hình hình học vàbài tập củng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh những lớp 1, 2, 3.4. Đối tợng khoanh vùng phạm vi nghiên cứuĐối tợng điều tra và nghiên cứu : Dạy học hình thành biểu tợng một số ít hình hìnhhọc cho học sinh những lớp 1, 2, 3. Phạm vi điều tra và nghiên cứu : Các lớp 1, 2, 3.5. Phơng pháp nghiên cứuNghiên cứu lý luận tổng hợp. Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm tay nghề. Phơng pháp tìm hiểu quan sát. 6. Cấu trúc đề tàiKhoá luận này gồm 3 phần : phần khởi đầu, phần nội dung và Kết luận. Trong đó. Phần mở màn : Lý do chọn đề tài. Mục đích điều tra và nghiên cứu. Nhiệm vụ điều tra và nghiên cứu. Đối tợng Phạm vi nghiên cứuPhơng pháp nghiên cứuPhần nội dung : Chơng 1 : Cơ sở lý luận chungChơng 2 : Dạy học hình thành biểu tợng 1 số ít hình hình học ở lớp 1. Chơng 3 : Dạy học hình thành một số ít biểu tợng hình hình học ở lớp 2. Chợng 4 : Dạy học hình thành 1 số ít biểu tợng hình hình học ở lớp 3. Phần Kết luận. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệpNội dungChơng 1C ơ sở lý luận1. Đặc điểm tâm ý học sinh tiểu học ở tiến trình những lớp 1, 2, 3 Đa số trẻ nhỏ lúc bấy giờ ở nớc ta đều có sự tăng trưởng bình thờng về thểchất và tâm ý. Nhìn chung ở mỗi trẻ nhỏ đều tiềm tàng những năng lực pháttriển. Khả năng đó sẽ hình thành và tăng trưởng đơn cử nh thế nào nhờ vào vàomôi trờng văn hoá và hoạt động giải trí của chính bản thân những em. Lứa tuổi học sinhtiểu học, những em có hoạt động giải trí lần tiên phong Open để tạo ra cái mới trongtâm lý hoạt động giải trí học tập đây là hoạt động giải trí chủ yếu, pháp luật chiều hớngphát triển tâm ý con ngời. Nhờ thực thi hoạt động học và những mô hình hoạt động giải trí khác, học sinhTiểu học có sự tăng trưởng tâm ý, trình độ mới so với quá trình trớc tuổi đi học, một trình độ tăng trưởng do đợc đặt trong nền văn hoá nhà trờng và bằng phơngpháp nhà trờng tạo ra. Trong đó so với lớp 1 cần đợc đặc biệt quan trọng quan tâm. Học sinhlớp 1 thực thi bớc chuyển từ hoạt động giải trí đi dạo sang hoạt động giải trí học tập với tcách là hoạt động giải trí chủ yếu. Học sinh lớp 2, 3 khác với học sinh lớp 1 những emkhông còn kinh ngạc với hoạt động giải trí học tập và đời sống nhà trờng. Lên lớp 2, trẻ nhỏ bớc tiếp trên con đờng học tập với hành trang thiết yếu đã đợc nhà tr-ờng trang bị từ lớp 1. Lúc này, hoạt động giải trí học đợc hình thành tơng đối rõ ràng, ởcác em đã Open một số ít phẩm chất, một số ít tâm ý mới. Đến lớp 3, về cơbản hoạt động học đã đợc hình thành ở học sinh, tạo điều kiện kèm theo cho những emchuyển sang quá trình tăng trưởng cao hơn. ở quy trình tiến độ cuối bậc Tiểu học, hoạtđộng học đã đợc hình thành trớc đây liên tục tăng trưởng đạt tới trình độ nh mộtnăng lực của học sinh năng lượng học tập. Kết thúc bậc Tiểu học học sinhSinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệphình thành đợc mạng lưới hệ thống thao tác trí tuệ, đạt đợc trình độ tâm ý, tạo cơ sở nềntảng cho tiến trình tiếp theo. Đó là quá trình tăng trưởng của học sinh Trung họccơ sở, Trung học đại trà phổ thông. Trình độ tâm ý của học sinh có sự quyết định hành động đến thành công xuất sắc của việcdạy học cho học sinh. Vì vậy để dạy học đạt hiệu suất cao cao ngời giáo viên phảinắm vững đặc thù tâm ý của từng lứa tuổi. Với mỗi mạch kiến thức và kỹ năng thì giáoviên cần phải chăm sóc đến đặc thù tâm ý riêng, nó là cơ sở cho việc xácđịnh nội dung kiến thức và kỹ năng vừa sức trong việc dạy học. ở đây tôi xin trình bàymột số đặc thù tâm ý của học sinh những lớp 1, 2, 3.1.1. Tri giácTri giác là hình thức nhận thức cao hơn cảm xúc, phản ánh trực tiếp vàtrọn vẹn sự vật, hiện tợng bên ngoài với rất đầy đủ những đặc tính của nó. ( tríchtrang 1033 Từ điển Tiếng Việt 2004 NXB TP. Đà Nẵng ). Tri giác là quy trình tâm ý phản ánh một cách toàn vẹn những thuộc tínhbề ngoài của sự vật hiện tợng đang trực tiếp ảnh hưởng tác động vào những giác quan củachúng ta. ( trích tâm lý học đại cơng 1997 NXB Giáo dục đào tạo ). Học sinh tiểu học tri giác mang đặc thù chung chung, đặc thù đạithể, ít đi vào cụ thể và mang tính chủ định. Nét đặc trng của tri giác là tính ítphân hoá của nó, những em phân biệt đối tợng giống nhau còn sai lầm đáng tiếc và chachính xác, cha phân biệt đợc khái niệm, ví dụ điển hình : cái thớc với độ dài của cáithớc ; diện tích quy hoạnh với mặt bànKhi tri giác sự nghiên cứu và phân tích có tính định hớng, có tổ chức triển khai và thâm thúy củahọc sinh còn yếu. Cụ thể trong những năm đầu bậc tiệu học tri giác của họcsinh gắn chặt với hành vi, với hoạt động giải trí thực tiễn của trẻ. Có nghĩa là chigiác sự vật là làm một cái gì đó mà những em gặp trực tiếp trong đời sống vàhoạt động của những em, những cái gì mà giáo viên đặc biệt quan trọng hướng dẫn, nhấn mạnhcho những em. Nhớ hoạt học tập tri giác của học sinh tiểu học đợc tổ chức triển khai và pháttriển ngày cang cao dần. Giáo viên tổ chức triển khai việc tri giác của học sinh tiểu học, giao trách nhiệm kiểm soát và điều chỉnh quy trình tri giác và trấn áp tác dụng của nó. Học sinh tiểu học hoàn toàn có thể tri giác đúng độ lớn của một vật thông thờng, còn so với nhiều vật quá to hoặc quá nhỏ thì những em cha tri giác đợc. Tri giácvề thời hạn tăng trưởng chậm hơn so với tri giác khoảng trống. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệp1. 2. T duyT duy là quy trình tiến độ cao của quy trình nhận thức, đi sâu vào thực chất vàphát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức nh biểu tợng, kháiniệm, phán đoán và suy lý. ( trích trang 1070 Từ điển Tiếng Việt NXBĐà Nẵng ). T duy là quy trình tâm ý, phản ánh những dấu hiện, những mối liên hệ vàcác quan hệ thực chất của những sự vật và hiện tợng khách quan. ( trích tâm ý đạicơng 1997 NXB Giáo dục đào tạo ). Từ hai định nghĩa về t duy ở trên ta thấy t duy của học sinh ở Tiểu họcchuyển dần từ tính t duy đơn cử sang t duy trừu tợng. Trong quy trình học tập, t duy của học sinh Tiểu học đổi khác rất nhiều. Nếu tri giác tăng trưởng khámạnh ở lứa tuổi mẫu giáo thì ở lứa tuổi tiểu học t duy tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ hơn. ở đây vai trò thôi thúc những nội dung và phơng pháp dạy học, vai trò của giáoviên với t cách là ngời tổ chức triển khai hoạt động giải trí có tính quyết định hành động tăng trưởng t duy. Tduy trừu tợng khởi đầu tăng trưởng nhng còn non yếu. Vì vậy học sinh sẽ tiếp thukiến thức nhanh nếu giáo viên tổ chức triển khai dạy học có tích hợp những vật dụng trựcquan hiệu suất cao. 1.3. Tởng tợngTởng tợng là tạo ra trong trí hình ảnh những cái không có ở trớc mắthoặc cha hề có. ( trích trang 1082 Từ điển Tiếng Việt 2004 NXB ĐàNẵng ). Tởng tợng là quy trình nhận thức hạng sang phản ánh những cái cha cótrong kinh nghiệm tay nghề cá thể bằng cách kiến thiết xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sởhình ảnh ( biểu tợng ) đã có. Nội dung của tởng tợng cũng giống nh t duy : Làcó thể tạo ra những cái mới cha từng có trong kinh nghiệm tay nghề của con ngời. Mặtkhác tởng tợng và t duy chỉ phát sinh khi con ngời đứng trớc một thực trạng cóvấn đề nghĩa là đứng trớc những yên cầu mới cha từng gặp, thực tiễn mớicha từng gặp và động cơ thôi thúc quy trình tởng tợng của học sinh cũng lànhu cầu. Sự tăng trưởng tởng tợng của học sinh tiểu học diễn ra theo 2 giai đoạnchủ yếu. Lúc đầu, những hình ảnh đợc tái tạo chỉ đặc trng gần đúng cho đối t-ợng thực, những hoạt động giải trí của những đối tợng và những mối liên hệ giữa chúng. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệpViệc thiết kế xây dựng những hình ảnh đó yên cầu sự diễn đạt bằng lời hoặc bằng tranhvẽ. Đến tiến trình sau ( lớp 2 đến lớp 3 ), lúc này số lợng những dấu hiện vànhững thuộc tính trong những hình ảnh tăng lên đáng kể chúng khá khá đầy đủ vàcụ thể. Và điều này diễn ra đa phần là nhờ việc tái tạo lại những hình ảnh đó, những yếu tố hành vi và mối liên hệ quan lại của bản thân những đối tợng. Sự hình thành tởng tợng khoảng trống hoàn toàn có thể bắt nguồn rất sớm ở trẻ nhỏ, bắt nguồn từ nhận thức những biểu tợng trong khoảng trống, theo những quan hệthứ tự, sắp xếp những đối tợng trong khoảng trống đến những biểu tợng không gianhai chiều, ba chiều, rồi những biểu tợng về đo đạc, dựng hình, thống kê giám sát. Tởngtợng hoàn toàn có thể tăng trưởng ở những mức độ khác nhau, ở những lứa tuổi khác nhau, sự tích luỹ theo độ tuổi, những kỹ năng và kiến thức, những kỹ năng và kiến thức, kinh nghiệm tay nghề, hoạtđộng thực tiễn ( vẽ, gấp, cắt, gấp hình, màn biểu diễn hình ) làm cho vốn biểu tợngphong phú, năng động hơn nhờ đó có năng lực hoạt động giải trí trí óc theo biểu t-ợng. 1.4. Sự quan tâm và ghi nhớSự quan tâm là gì ? Tâm lý học đại cơng đa ra định nghĩa : Chú ý là sức tậptrung của ý thức vào một hay một nhóm của sự vật hiện tợng để định hớnghoạt động bảo vệ điều kiện kèm theo, thần kinh tâm ý thiết yếu cho hoạt động giải trí tiếnhành có hiệu suất cao. Chú ý đợc xem nh là một trạng thái tâm ý đi kèm với cáchoạt động tâm ý khác, giúp cho những hoạt động giải trí tâm ý đó có hiệu quả ( ví dụ : chú ý nhìn, lắng tai nghe, tập trung chuyên sâu tâm lý ) Ghi nhớ là quá trình tiên phong của hoạt động giải trí nhớ. Đó là quy trình tạonên dấu vết của đối tợng trên cơ sở của vỏ não, đồng thời cũng là quá trìnhgắn đối tợng đó với những kỹ năng và kiến thức đã có. Quá trình ghi nhớ rất thiết yếu đểtiếp thu tri thức, tích luỹ kinh nghiệm tay nghề. Vậy trí nhớ là một quy trình tâm ý phản ánh những kinh nghiệm tay nghề đã cócủa cá thể dới hình thức biểu tợng. Bao gồm sự ghi nhớ gìn giữ và tái hiệnlại sau đó ở trong óc, cái mà con ngời đã cảm xúc, tri giác, xúc giác, hànhđộng hay tâm lý trớc đấy. Sản phẩm của trí nhớ là biểu tợng, đó là nhữnghình ảnh của sự vật, hiện tợng phát sinh trong óc tất cả chúng ta khi có sự tác độngtrực tiếp của tất cả chúng ta vào giác quan. Sự chú ý quan tâm không có chủ định là đặc thù cơ bản, năng lực điều chỉnhchú ý một cách có ý chí hạn chế ở học sinh tiểu học. Sự chú ý quan tâm có chủ định củaSinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệphọc sinh tiểu học yên cầu có một động cơ ngắn. Sự chú ý quan tâm thiếu vững chắc ở họcsinh tiểu học là do quy trình ức chế tăng trưởng còn yếu. Sự quan tâm có chủ định, nỗ lực ý chí để tập trung chuyên sâu cần đợc rèn luyện và đó cũng là yên cầu của quá trìnhhọc tập ở Tiểu học, đặc biệt quan trọng là ở những lớp 1, 2, 3. ở học sinh tiểu học, ghi nhớ có chủ định và không chủ định đều đangphát triển. Trong đó, ghi nhớ không chủ định tăng trưởng mạnh hơn chiếm u thếhơn so với ghi nhớ có chủ định. Đặc biệt ở những lớp 1, 2, 3 thì ghi nhớ khôngchủ định là đa phần học sinh thờng ghi nhớ, thuộc lòng một cách máy móc. 2. Vai trò, vị trí nội dung những yếu tố hình hình học cho môn toán ở tiểu học2. 1. Vai tròCác tuyến kỹ năng và kiến thức đợc đa vào dạy trong ở trờng tiểu học đợc chialàm 5 tuyến chính là : Số họcCác yếu tố về đại sốCác yếu tố về đại lợngCác yếu tố về hình họcGiải toánCác tuyến kiến thức và kỹ năng này tương quan mật thiết với nhau tương hỗ và bổ sungcho nhau, góp thêm phần tăng trưởng tổng lực năng lượng toán học cho học sinh tiểuhọc. Cùng với 5 tuyến kiến thức và kỹ năng hầu hết của bộ môn toán thì nội dung cácyếu tố hình học đóng vai trò không hề thiếu. Nếu nh số học phân phối cho họcsinh những kiến thức và kỹ năng sơ giản bắt đầu về số tự nhiên, số thập phân, phân số nhphép tính cộng, trừ, nhân, chia, những tín hiệu chia hết cho những số 2, 3, 5, 9 ; Các yếu tố về đại số phân phối cho học sinh kiến thức và kỹ năng khởi đầu về biểu thứctoán học, giải phơng trình, bất phơng trình ẩn dới dạng điền số thích hợp vào ôtrống, điền dấu thích hợp vào ô trống, tìm giá trị cha biết, so sánh, sắp xếptheo thứ tự giảm dần hoặc tăng dần ; Các yếu tố về đại lợng phân phối chohọc sinh mạng lưới hệ thống những đơn vị chức năng đo lờng, từ đo độ dài đến đo khối lợng, đơn vị chức năng đothể tích, đơn vị chức năng đo diện tích quy hoạnh, đơn vị chức năng đo thời hạn ; Thì nội dung những yếu tốhình học phân phối cho học sinh những kiến thức và kỹ năng sơ giải bắt đầu về biểu tợngcủa những hình hình học, kiến thức và kỹ năng khởi đầu về vẽ hình, những biểu tợng về kích thớc, hình dạng trong khoảng trống của những hình. Đây chính là nền tảng, cơ sở banSinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệpđầu để học sinh có đợc những biểu tợng của những hình trong khoảng trống haichiều, ba chiều. Thông qua nội dung Các yếu tố hình hình học giúp cho học sinh họctốt hơn những bộ môn khác, đặc biệt quan trọng là trong môn thủ công bằng tay, cắt ghép hình, hộihoạ. Ví dụ 1 : Để cắt đợc một hình vuông vắn, học sinh phải có biểu tợng về hình vuôngở trong đầu thì học sinh mới hoàn toàn có thể cắt đợc hình vuông vắn. Hình vuông là hình cóbốn cạnh bằng nhau, có 4 góc vuông ( so với học sinh lớp 3 ) ; hoặc hình vuônglà hình giống với hình chiếc khăn mùi xoa, giống với hình tấm bìa mà giáoviên cho quan sát ( so với học sinh lớp 1 ). Ví dụ 2 : Để ghép đợc hình ngôi nhà từ bộ đồ dùng học toán thì học sinh phải cóbiểu tợng về những hình tam giác, hình chữ nhật, hình vuông vắn sau đó chọn vàghép lại theo hớng dẫn của giáo viên. Nhờ đợc học phần nội dung những yếu tố hình hình học mà trí tởng tợngcủa học sinh tiểu học ngày từ từ đợc tăng trưởng hơn. ở lớp 1, học sinh chỉnhân biết những hình ( hình tròn trụ, hình vuông vắn, hình tam giác, hình chữ nhật, hìnhtứ giác ) dới dạng tổng thể và toàn diện ( hầu hết học sinh quan sát toàn thểdới dạng củahình rồi nêu tên hình, cha nhu yếu xét đến những yếu tố của hình hoặc xét đênmối tương quan giữa hình dạng những hình ). Nh vậy, ở lớp 1 học sinh chi thấy hìnhvuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình trònlà hình có hình dạng giống vớihình mà giáo viên cho quan sát, học sinh phải so sánh một cách toàn thể vớivật mẫu. Nhng đến lớp 3, khi nhận dạng hình vuông vắn, chữ nhật, ngoài xéttổng thể học sinh đã biết dựa vào những đặc thù về yếu tố cạnh, góc, đỉnhcủa hình để nhận dạng, nêu tên hình. Chẳng hạn đến lớp 3, học sinh có thểtởng tợng trong óc mình hình vuông vắn là hình có 4 cạnh bằng nhau và có 4 gócvuông, hình chữ nhật là hình có 4 góc vuông có 2 cạnh dài bằng nhau và 2S inh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTHKhoá luận tốt nghiệpcạnh ngắn bằng nhau. Và khi đã tởng tợng đợc thì học sinh hoàn toàn có thể vẽ một cáchchính xác những hình, gọi tên đúng mực những hình. Nh vậy hoàn toàn có thể nói nội dung những yếu tố hình học đóng vai trò quantrọng to, lớn so với việc tăng trưởng t duy, trí tởng tợng, năng lực học toán củahọc sinh, góp thêm phần tăng trưởng năng lượng tổng lực về học tập cho học sinh tiểuhọc. Nó tương hỗ đắc lực cho những môn học khác nh môn thủ công bằng tay ( cắt, xé, dán, gấp hình ), môn Tự nhiên và Xã hội. 2.2. Vị tríViệc dạy học những yếu tố hình học trong bộ môn Toán ở tiểu học có vịtrí quan trọng, không hề thiếu, là một trong những tuyến kỹ năng và kiến thức quantrọng trong việc dạy học toán cho học sinh tiểu học, góp thêm phần tăng trưởng mộtcách toàndiện năng lực học toáncho học sinh. Những kiến thức và kỹ năng, kiến thức và kỹ năng hìnhhọc mà học sinh tích luỹ đợc rất thiết yếu cho đời sống, rất hữu dụng cho việchọc những tuyến kỹ năng và kiến thức khác trong môn toán ở Tiểu học nh Số học, Đo đại l-ợng, Giải toán ; cũng nh việc học những môn Vẽ, Tập viết, Tự nhiên và Xãhội ( Địa lý ), Thủ công ( căt, xé, dán, ). Ngoài ra khi học nội dung những yếu tố hính học giúp học sinh pháttriển đợc nhiều năng lượng trí tuệ ; rèn luyện đợc nhiều đức tính và phẩm chất tốtnh : cẩn trọng, chu đáo, khôn khéo, a thích sự đúng mực, thao tác có kế hoạch, nhờ đó mà học sinh có nhiều tiền đề để học những môn khác ở Tiểu học cũng nhnền tảng cho bậc học cao hơn. 3. Mục tiêu và nội dung dạy học những yếu tố hình học ở những lớp 1, 2, 33.1. Mục tiêu. 3.1.1. Mục tiêu dạy học những yếu tố hình học ở lớp 1. Mục tiêu của việc dạy học những yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 1 là giúp học sinh : Hình thành biểu tợng khởi đầu về 1 số ít hình đơn thuần : điểm, đoạnthẳng, hình vuông vắn, hình tròn trụ, hình tam giác, điểm ở trong một hình, điểm ởngoài một hình. Bớc đầu rèn luyện những kỹ năng và kiến thức : nhận dạng hình, vẽ đoạn thẳng có đọdài cho trớc. Bớc đầu rèn luyện óc quan sát, trí tởng tợng, tăng trưởng vốn từ vựng vềhình học. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH10Khoá luận tốt nghiệp3. 1.2. Mục tiêu dạy học những yếu tố hình học ở lớp 2M ục tiêu của viẹc dạy học những yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 2 là giúp học sinh : Nhận dạng và gọi tên đúng : Hình chữ nhật, hình tứ giác, đờng thẳng, đ-ờng gấp khúc ( nhận dạng hình toàn diện và tổng thể, cha nhu yếu nhận ra hình chữ nhậtcũng là hình tứ giác ; hình vuông vắn cũng là hình chữ nhật ). Biết tính độ dài đờng gấp khúc khi cho độ dài mỗi đoạn thẳng của nó, tính chu vi khi cho độ dài đoạn thẳng của hình tam giác, hình tam giac. Biết thực hành thực tế vẽ hình ( theo mẫu ) trên giấy kẻ ô vuông, xếp ghép cáchình đơn thuần. Bớc đầu làm quen với những thao tác chọn, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp phát triểnt duy, trí tởng tợng không gian3. 1.3. Mục tiêu dạy học những yếu tố hình học ở lớp 3M ục tiêu của việc dạy học những yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 3 là giúp học : Có đợc một số ít biểu tợng về góc, gócvuông, góc không vuông ; về trungđiểm của đoạn thẳng ; về hình tròn trụ, tâm, nửa đường kính, đờng kính của hìnhtròn. Nắm đợc một đặc thù về những yếu tố về cạnh, góc, đỉnh của hình chữnhật, hình vuông vắn. Biết nhận dạng những hình chữ nhật, hình vuông vắn theo đặc thù về những yếutố góc, cạnh của hình đó ; phân biệt ( xác lập ) trung điểm của đoạn thẳng ( theo mức độ nhu yếu của lớp 3 ). Biết vẽ hình tròn trụ bằng compa, biết kiểm tragóc vuông bằng êke, biết vẽ trang trí hình tròn trụ ( đơn thuần ) và biết gấp hình ( theo nhu yếu ở lớp 3 ). Biết tính chu vi và diện tích quy hoạnh hình chữ nhật, hìnhvuông ( theo quy tắc ). Học sinh tích cực, hứng thú học tập trên cơ sở tăng trưởng những năng lượng trítuệ, đặc biệt quan trọng là tăng trưởng trí tởng tợng khoảng trống ( trải qua những bai toán vẽhình, vẽ trang trí hình tròn trụ về xếp ghép, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp ). 3.2. Nội dung. 3.2.1. Nội dung dạy học những yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 1. Nhận dạng bớc đầu về hình vuông vắn, hình tam giác, hính tròn. Giới thiệu về điểm ở trong, điểm ở ngoài một hình ; đoạn thẳng. Thực hành vẽ đoạn thẳng, vẽ hình trên giấy kẻ ô vuông, gấp, cắt hình. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH11Khoá luận tốt nghiệp3. 2.2. Nội dung dạy học những yếu tố hình học trong mon toán ở lơp 2. Giới thiệu về đờng gấp khúc, tính độ dài đờng gấp khúc ; ra mắt về đ-ờng thẳng, ba điểm thẳng hàng. Giới thiệu hình tứ giác, hình chữ nhật, vẽ hình trên giấy ô vuông. Giới thiệu khái niệm bắt đầu về chu vi của một hình đơn thuần. Tính chuvi hình tam giác, hình tứ giác. 3.2.3. Nội dung dạy học những yếu tố hình học trong môn toán ở lớp 3. Giới thiệu góc vuông, góc không vuông, thực hành thực tế phân biệt và vẽ gócvuông bằng êke. Điểm ở giữa, trung điểm của đoạn thẳng. Giới thiệu đỉnh, góc, cạnh của hình đã học. Hình tròn, tâm, đờng kính của hình tròn trụ. Vẽ trang trí hình tròn trụ. Hình chữ nhật, hình vuông vắn. Chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông vắn. Giới thiệu diện tích quy hoạnh của một hình, tính diện tích quy hoạnh hình chữ nhật và diệntích hình vuông vắn. 4. Trình độ tăng trưởng t duy về hình dạng khoảng trống ở học sinh Tiểu họcQua những khu công trình nghiên cứu và điều tra về nghành nghề dịch vụ t duy hình học, ngời ta đãnêu lên đợc trình độ tăng trưởng t duy hình học ở học sinh Tiểu học nh sau. 4.1. Giai đoạn thứ nhất. ở quy trình tiến độ này, những hình hình học đợc tri giác nh là một cái toàn thểvà chúng chỉ khác nhau về hình dạng. Chẳng hạn, nếu chỉ cho trẻ nhỏ 6 – 7 tuổixem vài ba lần hình tròn trụ, hình tam giác, hình vuông vắn, hình chữ nhật, giới thiệutên gọi tứng mô hình thì sau đó những em co thể nhận diện những hình theo hìnhdạng theo một cáchtrực giác. Việc nhận dạng hình ở tiến trình này cha gắn vớiviệc nghiên cứu và phân tích đặc thù của hình đó. 4.2. Giai đoạn thứ haiở quá trình này, học sinh đã hoàn toàn có thể triển khai nhận diện hình hìh họcqua việc nghiên cứu và phân tích đặc thù của những hình bằng con đờng trực giác. Chẳng hạn, nhờ việc kiểm tra góc vuông bằng êke và đo cạnh bằng thớc mà thấy đợc hìnhvuông có 4 góc vuông và 4 cạnh bằng nhau ; hình chữ nhật có 4 góc vuông vàcó 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau. Tuy nhiên, những đặc thù củacác hình cha đợc sắp xếp một cách lôgic, bản thân những hình cũng cha đợc sắpxêp theo trật tự lôgic, chúng chỉ đợc diễn đạt chứ cha đợc định nghĩa. Quan hệSinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH12Khoá luận tốt nghiệplôgic của những hình cũng cha đợc nêu lên ở quy trình tiến độ này, ví dụ điển hình cha thấyđợc quan hệ lôgic giữa hình vuông vắn và hình chữ nhật. Chơng 2D ạy học hình thành biểu tợngmột số hình hình học ở lớp 11. Cơ sở tâm ý của học sinh lớp 1H ọc sinh lơp 1 triển khai bớc chuyển từ hoạt động giải trí đi dạo sang hoạtđông học tập với t cách là hoạt đọng chủ yếu. Lúc này, hoạt động giải trí học tập bắtđầu đợc hình thành. Vì vậy, những tiết học phải đợc tổ chức triển khai theo hình thức vừahọc vừa chơi. Nội dung những yếu tố hình họcđợc đa vào chơng trình lớp 1 với t cách là một tuyến kỹ năng và kiến thức không hề thiếu trong môn toán lớp 1.1.1. Tri giácLớp 1 là lớp tiên phong của bâc học tiểu học, những hình thức hoạt động giải trí họctập đang mở màn đợc hình thành. Tri giác của học sinh lớp 1 hầu hết là tri giacchung chung đại thể, cha đi vào chi tiêt sự vật hiện tợng, tri giác phân biệt bắtđầu đợc hình thành nhng còn non yếu. Ví dụ : Khi học về hình tròn trụ, học sinh đợc quan sát bánh xe, quan sát ông sữacó dạng hình tròn trụ, từ đó học sinh tri giác một cách đại thể và sau đó có biểu t-ợng về hình tròn trụ, nhng vật có hình dạng nh vậy đợc gọi là hình tròn trụ. 1.2. T duyNếu nh ở lứa tuổi mẫu giáo, tri giác của học sinh tăng trưởng khá mạnhthì mở màn lên lớp 1 t duy của học sinh mở màn đợc tăng trưởng. Học sinh lớp1chủ yếu là t duy đơn cử, t duy kinh nghiệm tay nghề. Vì vậy những tiết học ở lớp 1, giáo viên sử dụng phơng tiện dạy học trực quan hài hòa và hợp lý thì tiết học sẽ rất hiệuquả, gây hứng thú học tập cho học simh. Ví dụ : Khi dạy bài Hình tròn, giáo viên không chỉ sử dụng vật dụng trực quancác miếng bìa, hình vẽ mà hoàn toàn có thể su tâm nhng vật thật có dạng hình tròn trụ họcsinh hoàn toàn có thể gặp trong đời sống ( miệng bát, bánh xe, ống sữa ) cho học sinhquan sát, và ra mắt cho học sinh đó là hình tròn trụ. Những hình ảnh gắn với đời sống thực tiễn của những em sẽ lôi cuốn, gâyhứng thú học tập, từ đó kích thích sự t duy của những em. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH13Khoá luận tốt nghiệp1. 3. Chú ý và ghi nhớHọc sinh lớp 1 mới khởi đầu đợc làm quen với hoạt động học, thế cho nên sựchú ý, ghi nhớ của học sinh cha tăng trưởng. Sự chú ý quan tâm, ghi nhớ đa phần là cha cóchủ định. Để học sinh lĩnh hội kỹ năng và kiến thức, giáo viên phải phong cách thiết kế phơng tiệndạy học trực quan mang tính nghệ thuật và thẩm mỹ, nhng vẫn bảo vệ nội dung kiến thứcthì mới lôi cuốn đợc học sinh vào tiết học. Trên cơ sở khám phá tâm ý của học sinh lớp 1, trong chơng này tôi xintrình bày những bớc dạy học hình thành biểu tợng 1 số ít hình hình học cho họcsinh lớp 1.2. Dạy học hình thành biểu tợng một số ít hình hình học ở lớp 1 ở lớp 1, học sinh đợc hình thành biểu tợng về hình vuông vắn, hình tròn trụ, hình tam giác nh một toàn thể, gắn liền với hình dạng của chúng, tức làkhông nhu yếu nghiên cứu và phân tích những yếu tố, đặc thù của hình. Việc hình thành biểu tợng về những hình nói trên đợc triển khai trong mộtsố tiết về những yếu tố hình học ở phần biểu tợng khởi đầu, sau đó đợc tiếnhành xen kẽ với việc dạy những kiến thức và kỹ năng khác trong suốt chơng trình lớp 1 vàcác lớp trên trải qua những bài rèn luyện. Có thể thực thi giảng dạy theo trình tự sau khi dạy những bài hình thànhbiểu tợng hình hình học cho học sinh lớp 1. Bớc 1 : Giáo viên cho học sinh quan sát 1 số ít vật mẫu có sắc tố, kích thớc, vị trí đăt hình, vật liệu khác nhau và ra mắt tên hình. Bớc 2 : Học sinh chọn hình đang học trong số nhiều hình đã học. Bớc 3 : Học sinh tự tìm ví dụ trong trong thực tiễn về hình đang học. Bớc 4 : Học sinh tự tạo hình ví dụ điển hình : Tô màu hình ( để có toàn bộ hình ) Tô theo nét đứt để có biên của hình. Dùng que tính hoặc tăm để xếp hình. Nối những điểm đã cho sẵn để có hình. Cắt, ghép hoặc gấp hìnhĐây chỉ là một trong những cách mà giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng để hìnhthành biểu tợng hình hình học cho học sinh lớp 1. Trong chơng này tôi xintrình bày những bớc dạy học hình thành biểu tợng hình tam giác, điểm và đoạnthẳng cho học sinh lớp 1. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH14Khoá luận tốt nghiệp2. 1. Dạy học hình thành biểu tợng hình tam giác. Cách 1. Bớc 1 : Giáo viên đính một hình tam giác lên bảng, nói Đây là hình tam giác, nhằm mục đích giúp học sinh nhận ra một vật mẫu. Sau đó, giáo viên cho vài học sinhrồi cả lớp lặp lại. Giáo viên xoay hình tam giác và hỏi : Đây là hình gì ?, học sinh trả lờiHình tam giác. Vài học sinh lặp lại. Sau đó giáo viên di dời vật mẫu đến vị trí khác nhau, hoặc đa ramột số hình tam giác có kích thớc khác nhau, hoặc sắc tố khác nhau. Chohọc sinh quan sát và vấn đáp đợc Đó cũng là hình tam giác. Bớc 2 : Giáo viên nhu yếu học sinh chọn trong hộp vật dụng học toán một sốhình tam giác và gọi một số ít học sinh giơ hình tam giác lên và hỏi Đây làhình gì ?. Khi đó học sinh vấn đáp Đây là hình tam giác. Sau đó cho học sinhtìm trong trong thực tiễn những vật phẩm co hình dạng là hình tam giác. Bớc 3 : Giáo viên cho học sinh nêu ví dụ về hình tam giác trong thực tiễn, chẳnghạn : lá cớ thể thao ( có ) hình tam giác, cái êke ( có ) hình tam giác, bảng chỉdẫn đờng vòng ( có ) hình tam giácBớc 4. Giáo viên cho học sinh mở Vở bài tập in sẵn và giải những bài tập : Tô màu hình tam giác, tô nét đứt để có hình tam giác, nối những điểm ( đãcó sẵn ) để có hình tam giác. Giáo viên cho học sinh dùng que tính ( hoặc tăm ) để xếp hình tam giác. Giáo viên hớng dẫn học sinh lấy giấy bìa gấp rồi cắt ra một hình tamgiác v v. Học sinh thao tác và quan sát trên những vật mẫu đồng thời tiếp nhậnthông tin của giáo viên, từ đó có biểu ợng đơn cử về hình tam giác một cáchtoán thể. Giáo viên vẽ hình tam giác lên bảng và nói hình tam giác trên cơ sởđó học sinh tri giác trên những quy mô hình học. Trong khi giáo viên chú ýxếp đặt những hình cạnh nhau ( ví dụ hình vuông vắn đặt cạnh hình tròn trụ, hình tamgiác đặt cạnh hình vuông vắn ) để học sinh tập so sánh so sánh. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH15Khoá luận tốt nghiệpVí dụ : Cách 2 : Cũng hoàn toàn có thể dạy bài này theo một cách khác nhng những bớc cơ bản cũnggiống nh cách ở trên. Bớc 1 : Giáo viên gắn lên bảng những tấm bìa có hình dạng khác nhau ( trong đó có những hình đã đợc học nh hình vuông vắn, hình tròn trụ và hình cha học nhhình tam giác ). Sau đó giáo viên sẽ nhu yếu học sinh chỉ ra hình đã học ( hìnhvuông, hình tròn trụ ). Tiêp tục giáo viên hỏi học sinh em còn biết hình nào nữakhông ?. Nếu học sinh vấn đáp đợc hình tam giác thì giáo viên cho những học sinhkhác nhắc lại. Nếu học sinh không vấn đáp đợc thì giáo viên trình làng với họcsinh trên bảng cô còn có hình tam giác, giáo viên vừa nói, vừa chỉ vào hìnhtam giác, sau đó cho học sinh nhắc lại. Bớc 2 : Tổ chức cho học sinh xem những hình tam giác trong những hình tamgiác trong sách giáo khoa, giáo viên vẽ hình tam giác lên bảng và gọi tênhình tam giác. Khi đó học sinh tri giác trên quy mô của hình tam giác và từđó học sinh có biểu tợng về hình tam giác. Bớc 3 : Tổ chức cho học sinh tìm trong hộp vật dụng học toán một sốhình tam giác và gọi một số ít học sinh giơ hình tam giác lên và hỏi đây là hìnhgì ?. Khi đó học sinh vấn đáp : đây là hình tam giác. Cho học sinh thực hiệnnhiều lần. Bớc 4 : Giáo viên cho học sinh nêu ví dụ về hình tam giác trong thức tếchẳng hạn : lá cờ thể thao ( có ) hình tam giác, khăn quàng đỏ ( có ) hình tamgiácBớc 5 : Tổ chức cho học sinh làm bài tập tơng tự nh bớc 4 ở cách 1. Trên đây là 2 trong nhiều cách mà tất cả chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng để hìnhthành biểu tợng hình hình học cho học sinh. Để hình thành biểu tợng về hìnhvuông, hình tròn trụ cho học sinh ta cũng hoàn toàn có thể triển khai tơng tự theo cách 1 hoặc cách 2 hoặc có những cách khác, tuỳ thuộc vào trình độ của học sinh lớpmình dạy. Nhng ở lớp 1 thì cách 1 thờng đợc nhiều giáo viên lựa chọn nhất vìnó tương thích với mọi đối tợng học sinh. Bên cạnh việc hình thành biểu tợng về hình vuông vắn, hình tròn trụ, hình tamgiác, học sinh lớp một còn đợc hình thành biểu tợng về điểm, đoạn thẳng. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH16Khoá luận tốt nghiệp2. 2. Hình thành biểu tợng về điểm, đoạn thẳngHọc sinh phân biệt đợc điểm, đoạn thẳng một cách trực tiếp, thông quanhững hình ảnh đơn cử. Tập đọc tên những điểm và đoạn thẳng. Chẳng hạn, giáo viên chấm một chấm tròn trên bảng, viết bên cạnhchấm tròn chữ A ( A ) và hớng dẫn học sinh đọc điểm A. Cho học sinh đọclại nhiều lần, sau đó cho cả lớp đọc lại. Hoặc giáo viên chấm 2 điểm A và B, dùng thớc nối 2 điểm A và B hớngdẫn học sinh đọc đoạn thằng AB.Giáo viên hớng dẫn học sinh đọc tên những điểm : B đọc là bê, C đọc là xê, D đọc là đê, đoạn thẳng BC đọc là đoạn thằng bê xê. Việc hình thành biểu tợng hình hình học cho học sinh ở lớp 1 là rấtquan trọng. Nó cùng cấp cho học sinh hình ảnh tổng thể và toàn diện của một hình. Tuynhiên để cũng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh thì mạng lưới hệ thống những bàitập lại đóng vai trò quyết định hành động rất lớn. Vì vậy để học sinh lớp một có đợc biểutợng về hình hình học thì giáo viên cần phải kiến thiết xây dựng, thống kê mạng lưới hệ thống bàitập rèn luyện cho học sinh. 3. Bài tập cũng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh lớp 13.1. Dạng bài tập về nhận dạng hình3. 1.1. Tô màu những hình có hình dạng theo yêu cầuĐây là dạng bài tập nhằm mục đích cũng cố biểu tợng của hình hình học mà họcsinh đã đợc học. Để làm đợc bài tập này, học sinh phải có biểu tợng của hìnhđó ở trong đầu, phân biệt hình dạng của những hình khác nhau. Ví dụ : ( bài 1 – trang 10 – toán 1 ). Tô màu và những hình : Cùng hình dạng thì tô cùng màu. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH17A BKhoá luận tốt nghiệpBài giảiKhi làm bài tập này nhu yếu học sinh phải tô đợc màu những hình : cùnghình dạng thì tô cùng màu. Chẳng hạn : 3.1.2. Cho sẵn số lợng hình cần nhận dạng, học sinh chỉ việc đếm đủ số hìnhđóĐây là dạng bài tập nhận dạng hình tơng tự với dạng ở trên. Tuy nhiênyêu cầu của dạng này là học sinh phải phân biệt đợc hình dạng tổng thể và toàn diện củacác hình. Bài tập này chỉ tương thích với nhu yếu làm miệng trên bảng cũng cốngay tại phần rèn luyện sau khi hình thành kỹ năng và kiến thức mới hoặc là ở tiết luyệntập. Ví dụ : Tìm trên hình vẽ bên 1 hình vuông vắn và 2 hình tam giác. Bài giảiVới bài toán này học sinh sẽ chỉ trực tiếp trên hình vẽ hoặc cũng có thểtô màu để phân biệt nh sau : Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH18Khoá luận tốt nghiệp3. 1.3. Đếm số lợng hình cần nhận dạngĐối với loại bài tập về đếm những hình trong những hình trong đó có nhữnghình mà bản thân nó lại chứa nhiều hình khác ( thông số kỹ thuật ) thì ngoài khả năngđếm đúng mực, học sinh còn phải biết nghiên cứu và phân tích và tổng hợp hình thì mới đếmđủ số hình. ở tiểu học, đặc biệt quan trọng là học sinh lớp 1 hoàn toàn có thể thực thi nhận dạnghình hình học theo những thao tác : cắt và ghép hình, nghiên cứu và phân tích và tổng hợphình nhờ việc ghi số, tích hợp những yếu tố. Ví dụ : ( bài 5 trang 42 Toán 1 ). Hình bên có mấy hình tam giác ? Bài giảiCách 1 : Với bài tập này giáo viên hoàn toàn có thể cho học sinh lấy bút màu tômày khác nhau vào mỗi hình tam giác nhỏ rồi cắt rời ra để thấy có 2 hình tamgiác : hình b ( Tam giác đỏ và tam giác vàng ), sau đó ghép chúng lại để có tamgiác thứ 3 ( hình c ) Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH19Hình aHình bHình cKhoá luận tốt nghiệpở đây quy trình nghiên cứu và phân tích cho ta 2 hình tam giác, quy trình tổng hợpthêm 1 hình tam giác nữa. Do đó trong hình a có toàn bộ 3 hình tam giác. Cách 2 : Bài toán này hoàn toàn có thể hớng dẫn học sinh làm theo cách ghi số nhsau : Hình tam giác Số lợngGhi số 1, ghi số 2 2 hìnhGhi số 1 và 2 1 hìnhVậy có toàn bộ 3 hình tam giác. 3.1.4. Cho sẵn vài trường hợp về số lợng hình cần nhận dạng, trong đó cómột trường hợp đúng và những trường hợp còn lại sai. Học sinh phải xác lập đợc tìnhhuống đúng sai. Ví dụ : Đúng ghi đ, sai ghi s. Hình bên có : 4 hình vuông5 hình vuôngBài giảiHình bên có : 4 hình vuông5 hình vuôngĐây là dạng toán đếm hình, học sinh cần phải đếm đúng mực những hìnhtrong thông số kỹ thuật. Có thể đếm theo cách ghi số hoặc tô màu. 3.1.5. Sử dụng những game show học tậpĐối với học sinh lớp 1, tiết học cần phối hợp tổ chức triển khai những game show nh vậysẽ giảm đi sự căng thẳng mệt mỏi của tiết học, gây hứng thú học tập cho học sinh thựchiện đợc tiềm năng chơi mà học, học mà chơi. Những tiết học nào, giáo viêncó kinh nghiệm tay nghề phối hợp một cách khôn khéo giữa nội dung kiến thức và kỹ năng và những tròchơi, học sinh sẽ rất hào hứng tham gia tác dụng là tất cả chúng ta sẽ có 1 tiết học vừanhẹ nhàng, hứng thú, bảo vệ đợc kỹ năng và kiến thức cung ứng cho học sinh. Đối vớinội dung dạy học những yếu tố hình học thì việc sử dụng game show học tập cóvai trò không nhỏ, góp thêm phần vào việc cũng cố biểu tợng hình hình học cho họcsinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng. Ví dụ : Trò chơiĐồ vật và hình dạng của chúng. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH201 2K hoá luận tốt nghiệpSau khi học sinh đợc học hình tròn trụ, hình chữ nhật, hình vuông vắn, hìnhtam giác giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng game show này. Giáo viên chuẩn bị sẵn sàng lên giấykhổ lớn 2 nhóm hình nh sau : Yêu cầu học sinh quan sát kỹ những hình rồi nốimỗi vật phẩm với hình vẽ thích hợp ( theo mẫu ). Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH21Khoá luận tốt nghiệpBài giải3. 2. Dạng bài tập vẽ hìnhViệc vẽ hình ở lớp 1 gồm có : vec hình không dùng thớc ( thờng gọi làvẽ bằng tay ) và vẽ hình bằng thớc. Khi hớng dẫn học sinh vẽ hình giáo viên cần làm mẫu trớc nhu yếu trẻbắt trtơc làm theo. Phải rất là lu ý hớng dẫn trẻ cầm bút đúng và ngồi đúng tthế. Việc hớng dẫn học sinh vẽ bằng thớc thực ra chỉ là hớng dẫn trẻ nối haiđiểm để có đoạn thẳng. Vì vậy ở lơp 1 ta thờng gặp những dạng bài tập về vẽhình để củng cố biểu tợng hình hình học nh sau. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH22Khoá luận tốt nghiệp3. 2.1. Cho trớc những điểm, nhu yếu dùng thớc nối những điểm để đợc hình cầntạoBài tập này học sinh phải có biểu tợng về hình sau đó dùng thớc và bútchì nối những điểm cho trớc. Sau đó kiểm tra lại xem số lợng hình đã đúng theoyêu cầu của đề bài cha ? Ví dụ : ( Bài 1, trang 146 Toán 1 ) Dùng thớc và bút chì nối những điểm để có hai hình vuông vắn. Bài gảiVời bài tập này, học sinh sẽ dùng thớc, bút chì lần lợt nối những điểm đểcó 2 hình vuông vắn và mong ước của giáo viên là học sinh hoàn toàn có thể nối đợc nhsau : 3.2.2. Kẻ thêm đoạn thẳng vào hình cho trớc để có những hình theo yêu cầuĐây là dạng bài tập có phần nâng cao hơn một chút ít so với trình độ củahọc sinh lớp 1, Để kẻ thêm vào hình mà sau đó có đợc số hình theo yêu cầutheo nhu yếu, yên cầu học sinh phải có biểu tợng của những hình ở trong đầu xemcần phải kể thêm đoạn thẳng nh thế nào. Ví dụ : ( Bài 1, trang 169 – Toán 1 ) Kẻ thêm một đoạn thẳng để có : a. hình vuông vắn và một hình tam giác. b. Hai hình tam giácBài giảiSinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH23Khoá luận tốt nghiệpVới nhu yếu của bài tập này thì học sinh hoàn toàn có thể dùng bút chì kẻ thêmđoạn thẳng để có : a. Một hình vuông vắn vàmột hình tam giác. b. Hai hình tam giác3. 2. 3. Đa ra trường hợp, nhu yếu học sinh tìm cách xử lý để có đợchình hình học mà bài tập yêu cầuVí dụ : ( B ài 4, trang 8 Toán 1 ) Làm thế nào để có những hình vuông vắn ? Bài giảiVới bài tập này, học sinh dùng thớc kẻ, bút chì để kẻ thêm những đoạnthẳng vào hình. Đây là dạng bài tập tơng tự với dạng bài tập ở trên. Yêu cầuhọc sinh phải làm đợc là : 3.3. Xếp hình theo mẫuĐể củng cố biểu tợng hình hình học cho học sinh thì dạng toán xếphình theo mẫu đợc đa vào chơng trình Toán 1. ở dạng bài tập này, yêu cầuhọc sinh lựa chọn những hình trong hộp vật dụng học sinh sắp xếp theo mẫu. Ví dụ 1. ( Bài 5, trang 41 Toán 1 ) Xếp hình theo mẫu sau. Ví dụ 2 : ( Bài 5, trang 91 – Toán 1 ) Xếp hình theo mẫu dới đây. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH24Khoá luận tốt nghiệp3. 4. Xếp hình bằng que diêm ( que tính ) Dạng bài tập thực hành thực tế này, giáo viên hoàn toàn có thể sử dụng ngay trong tiéthình thành kỹ năng và kiến thức mới hoặc là tiết rèn luyện. Trong tiết hình thành kỹ năng và kiến thức mới giáo viên hoàn toàn có thể nhu yếu học sinhsử dụng que tính để xếp một hình hình học. Ví dụ trong tiết Hình tam giác giáo viên hoàn toàn có thể cho học sinh sử dụng3 que tính và xếp thành hình tam giác. Hoặc trong tiết rèn luyện thực hành thực tế giáo viên hoàn toàn có thể nhu yếu. Ví dụa. Dùng 6 que diêm đẻ xếp tạo dáng một ngôi nhà có mái lợp, vẽ pháchoạ ra giấy ngôi nhà đó. b. Dùng 8 que diêm xếp tạo dáng một con bớm, một con cá cảnh đangbơi. Bài giảiVới dạng toán này sẽ tạo hứng thú học tập cho học sinh, vì trẻ nhỏ thờngthích tự làm và thích mày mò. Đồng thời dạng toán này sẽ kích thích sự sángtạo, tự lập của từng học sinh. Sinh viên : Lê Thị Sen – Lớp K30B Khoa GDTH25

Source: https://evbn.org
Category: Học Sinh