Phạm vi, giới hạn luận văn – Tài liệu text

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản khá đầy đủ của tài liệu tại đây ( 3.69 MB, 49 trang )

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

5. Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệu, số liệu đã có từ những đề tài

nghiên cứu ứng dụng thiết lập quy hoạch, khảo sát đánh giá hiện trạng, các báo cáo tổng

hợp v.v… đúc kết các thông tin tin cậy để tổng hợp ra những diễn biến của việc thay đổi

chất lượng nước trên lưu vực sông Đồng Nai do các tác động của nguồn thải gây ra.

 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu, thống kê, so sánh

– Phương pháp xử lý số liệu: Nhập, xử lý các số liệu điều tra, các số liệu phân

tích bằng EXCEL, WORD. Nhập các kết quả thống kê được thực hiện trên các kết quả

phân tích mẫu và xử lý để đưa ra nhận định.

– Phương pháp thống kê: sử dụng trong phân tích, xử lý số liệu, truy vấn dữ liệu

trong đánh giá công tác quản lý môi trường.

– Phương pháp so sánh: Thu thập những thông tin liên quan và những quy định,

quy chuẩn hiện có của Nhà nước về quản lý môi trường để so sánh và phát hiện những

vấn đề còn thiếu sót hoặc chưa phù hợp.

 Phương pháp mô hình hoá

– Ứng dụng mô hình MCCRB để tính toán việc phân chia tải lượng phát thải một

cách phù hợp trong khai thác lưu vực sông Đồng Nai để phát triển bền vững.

– Sử dụng mô hình MIKE 11 để đánh giá chất lượng nước theo mô hình phân

chia tải lượng phát thải.

 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã

tham khảo ý kiến của các chuyên gia tại phòng Tin học – Môi trường, Viện Môi trường

và Tài nguyên TP.HCM, các chuyên gia về quản lý chất lượng nước, về mô hình cũng

như từ các nhà quản lý tại các đơn vị có liên quan. Trong đó, tiêu biểu là các đề tài khoa

học cấp nhà nước và cấp bộ.

5

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.1. Vị trí địa lí

 Đồng Nai

Hình 1 Bản đồ quy hoạch tỉnh Đồng Nai

Tỉnh Đồng Nai nằm trong vùng địa lý – kinh tế Đông Nam bộ (gồm 8 tỉnh, thành

Đông Nam bộ) và tham gia vào vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (gồm 8 tỉnh, thành

Đông và Tây Nam bộ) là vùng kinh tế động lực trọng điểm quan trọng nhất của cả nước.

– Tọa độ vị trí địa lý của tỉnh đồng Nai: từ 10 o31’17” đến 11o34’49” vĩ độ Bắc và

o

từ 106 44’45” đến 107o34’50” kinh độ Đông. Tỉnh có diện tích tự nhiên lớn nhất trong

vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (590.215,47 ha) và có các tiếp giáp ranh giới cụ thể

bao gồm:

+ Phía Đông giáp với tỉnh Bình Thuận.

+ Phía Đông Bắc giáp với tỉnh Lâm Đồng.

+ Phía Tây Bắc giáp với các tỉnh Bình Dương và Bình Phước.

6

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

+ Phía Tây giáp với thành phố Hồ Chí Minh.

+ Phía Nam giáp với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

– Tỉnh có hệ thống giao thông đường bộ và đường sắt phát triển như: Quốc

lộ 1A, 20, 51 và đường sắt Bắc – Nam; có sân bay quân sự Biên Hòa rộng 40

km2 và đã quy hoạch xây dựng sân bay Quốc tế Long Thành rộng 50 km 2, đồng

thời có hệ thống giao thông đường thủy quan trọng như: sông Đồng Nai, Đồng

Tranh và Thị Vải, tạo nên nhiều lợi thế giao lưu kinh tế – văn hóa với các tỉnh,

thành khác trong phạm vi cả nước.

– Tỉnh là một địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị và an ninh – quốc phòng, có

vị trí rất quan trọng trong sự phát triển của cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và sự

thật tỉnh đã sớm tận dụng được một số lợi thế so sánh của vùng trong công cuộc đổi mới

kinh tế hiện nay để đạt được những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội rất đáng kể

trong thời kỳ 1995 – 2005.

 Bình Dương

Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước,

phía nam và tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía

đông giáp Đồng Nai. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một,

cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km.

7

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

:

Hình 1 Bản đồ quy hoạch tỉnh Bình Dương

– Tọa độ địa lý: vĩ độ Bắc: 110°52′ – 120°18′, kinh độ Đông: 106°45′ 107°67’30”.

– Diện tích tự nhiên 2.681,01km2 (chiếm 0,83% diện tích cả nước và xếp thứ

42/64 về diện tích tự nhiên).

Trên địa bàn Bình Dương có nhiều sông lớn chảy qua, nhưng quan trọng

nhất là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai là một trong những sông

lớn của Việt Nam, có tổng chiều dài 450 km, trong đó chảy qua Bình Dương 84

km.

 TP.HCM

8

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

Hình 1 Bản đồ quy hoạch Tp.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10′ – 10°38′ Bắc và 106°22′ –

106°54′ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh,

Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu,

Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam,

Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành

phố cách cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí tâm điểm của

khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan

trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng

và còn là một cửa ngõ quốc tế.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông

Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.

Vùng cao nằm ở phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến

25 mét. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32 mét như đồi Long Bình ở

quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam – Tây Nam và Ðông Nam thành

phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét. Các khu vực

trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận

12 có độ cao trung bình, khoảng 5 tới 10 mét.

1.2. Điều kiện tự nhiên

 Đồng Nai

Địa hình đặc trưng của tỉnh là kiểu núi thấp và bán bình nguyên, có bề mặt

nghiêng thoải từ Tây Bắc xuống Tây Nam (tức là nghiêng về phía lòng sông

9

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

Đồng Nai). Có thể phân chia các mức địa hình theo độ cao tuyệt đối như sau

(theo chiều giảm dần của độ cao tuyệt đối):

– Mức cao 837 – 400 m: Địa hình đặc trưng bởi những núi đẳng thước, độc lập

cách xa nhau như núi Chứa Chan (837m), núi Sóc Lu (418m), núi Suối Râm (444m) và

núi Mây Tào chung với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (708m).

– Mức cao 300 – 100 m: Tương đối phổ biến trên địa bàn tỉnh, phân bố rải rác từ

Bắc xuống Nam dài gần 100 km không liên tục. Dải địa hình này có đặc điểm có nơi

dạng vòm (vùng rừng Cát Tiên – Tân Phú). Đường kính vòm rộng 25-30 km nằm giữa

hai lưu vực sông Mã Đà (thượng nguồn sông Bé) và sông Đồng Nai. Đỉnh vòm cao 372

m là nơi hội tụ của nhiều đầu nguồn suối kiểu tỏa tia đặc trưng. Về phía Nam (của hồ

Trị An) dải núi tựa như một nóc nhà khổng lồ chia nước cho hai phía Đông và Tây

thuộc lưu vực sông Đồng Nai và sông La Ngà. Mức chia cắt sâu, chia cắt ngang từ 50 100 m. Vùng ít lộ đá gốc, lớp vỏ khá dày.

– Mức cao 100-50 m: Khu lòng hồ Trị An, dọc thung lũng sông La Ngà, vùng

Cây Gáo, Trảng Bom,… Vùng được cấu thành từ các thành tạo Kainozoi là chủ yếu

– Mức cao 50 m trở xuống: Là địa hình đồng bằng, thung lũng các sông Đồng

Nai, Thị Vải ở phía Tây Nam tỉnh giáp vùng Cần Giờ (Tp.Hồ Chí Minh). Đây là vùng

đất nông nghiệp quan trọng và nuôi trồng thủy sản.

Tỉnh có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa và mùa

khô khác biệt. Có thể tóm tắt tình hình diễn biễn chế độ khí hậu tại tỉnh như sau:

– Diễn biến nhiệt độ trung bình: Trong 5 năm gần đây nhiệt độ trung bình năm

tại tỉnh vẫn có xu hướng tăng từ 0,1 – 0,3oC/năm (tổng giá trị tăng là 0,4oC/5 năm), trong

đó riêng tại khu vực thành phố Biên Hòa có mức tăng cao nhất tới 0,7 oC. Tháng 01 có

nhiệt độ thấp nhất: 24,3 – 26,6oC, rồi tăng nhanh đến tháng 4 đạt mức cao nhất: 28,5 29,7oC (trừ tại La Ngà muộn và sớm hơn 1 tháng, là tháng 2, 3).

 Bình Dương

Là một tỉnh ở miền Đông Nam Bộ, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía

nam giáp Tp. Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp tỉnh Tây

Ninh.

Tỉnh Bình Dương có các vùng đất đỏ trồng cao su và cà phê, vùng đất

xám, nơi có đồng cỏ chăn nuôi và trồng hoa màu; vùng đồng bằng sông bồi, nơi

có nhiều ruộng lúa, vườn cây ăn trái như Lái Thiêu, nổi tiếng với các loại: sầu

riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố nữ…

Có các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài

Gòn và sông Bé với nhiều kênh rạch, sông con, cung cấp nước tưới cho đồng

ruộng và tạo điều kiện cho ghe thuyền đi lại thuận tiện.

Khí hậu: Có hai mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,

mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10. Nhiệt độ trung bình năm 27ºC.

 TP.HCM

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, Thành phố Hồ Chí Mình

có nhiệt độ cao đều trong năm và hai mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt

đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Lượng

mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao

nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958.

10

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa

Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung

bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4

m/s, vào mùa khô. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão.

Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa, 80%, và

xuống thấp vào mùa không, 74,5%. Trung bình, độ ẩm không khí đạt bình quân/năm

79,5%.

1.3. Kinh tế – xã hội

 Đồng Nai

Kinh tế Đồng Nai giai đoạn 2005 – 2010 đạt tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và

khá bền vững; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, thúc đẩy nhanh tiến trình

công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục đạt nhịp độ tăng trưởng cao. Một số ngành công

nghiệp chủ lực, công nghiệp có lợi thế so sánh phát triển nhanh; công nghiệp cơ khí

phục vụ nông nghiệp được đầu tư đúng mức, phục vụ đắc lực cho yêu cầu công nghiệp

hóa nông nghiệp, nông thôn; bước đầu phát triển được một số ngành công nghiệp kỹ

thuật cao.

Việc huy động các nguồn lực cho phát triển có tiến bộ, công tác đầu tư xây dựng

kết cấu hạ tầng, quy hoạch đô thị, quy hoạch các khu dân cư tập trung được chú trọng,

tạo chuyển biến mới về bộ mặt thành thị và nông thôn, đặc biệt là về kiến trúc đô thị.

Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh 5 năm qua đạt trên 46 ngàn tỷ đồng, gấp 2,4 lần thời

kỳ 1996 – 2000 (vượt mục tiêu Nghị quyết), trong đó vốn đầu tư trong nước chiếm

47,6%, tăng gấp 3,3 lần. Cơ cấu đầu tư được triển khai đúng định hướng, tập trung xây

dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, hoàn thành cơ bản chương trình đầu tư cơ sở hạ

tầng chủ yếu ở các xã đặc biệt khó khăn, tăng đầu tư phát triển công nghiệp, đầu tư

chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.

 Bình Dương

Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu

hút đầu tư nước ngoài. Gồm có 13 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó

nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần II, Đồng An,

Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, Sóng Thần 1.Các khu công nghiệp trên địa bàn

tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với

tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỉ

đồng. Nhằm tăng sự thu hút đầu tư; hiện nay địa phương này đang tập trung hoàn

thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới

để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh (Mỹ Phước 1,2,3; 6 khu

công nghiệp trong Khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình Dương, Tân

Uyên).

 Mục tiêu kinh tế xã hội của Bình Dương thời kỳ 2006 -2010

Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VIII năm 2006 đã nêu mục

tiêu phấn đấu thời kỳ 2006-2010 về kinh tế-xã hội của tỉnh như sau:

– Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm là 15%.

– Quy mô GDP (giá hiện hành) đến năm 2010 đạt khoảng 45.800 tỷ đồng, tương

đương 2,9 tỷ Đôla Mỹ. -GDP bình quân đầu người đạt khoảng 30 triệu đồng.

11

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

– Cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp: 65,5%; dịch vụ: 30%; nông nghiệp:

4,5%.

– Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14-15%/năm.

– Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả thời kỳ đạt 3 tỷ USD.

– 90% trường trung học phổ thông, tiểu học đạt chuẩn quốc gia.

– Phổ cập giáo dục bậc trung học. -95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

– Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,5% (theo chuẩn mới của tỉnh 400.000 đồng/người/tháng

đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị). Theo mục tiêu phấn

đấu đến năm 2020, để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

thì nông nghiệp giảm xuống còn 15-16%, công nghiệp và xây dựng 43-44%, dịch vụ

40-41%. Với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn ở mức cao như hiện nay là

35%/năm (2001-2005) thì Bình Dương sẽ là một trong những tỉnh về đích trước và sớm

trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

 TP.HCM

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam. Thành phố

chiếm 0,6% diện tích và 7,5% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản

phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài. Vào năm 2005,

Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000 lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi

lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc. Năm 2007, thu nhập bình quân đầu người

ở thành phố đạt 2.100 USD/năm, cao hơn nhiều so với trung bình cả nước, 730

USD/năm vào 2006.

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ,

thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính… Cơ cấu

kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%,

phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm

tỷ trọng cao nhất: 51,1%. Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông

nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.

Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều

khó khăn. Toàn thành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại.

Trong đó, có 21/212 cơ sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành

hóa chất, 14/144 cơ sở chế biến thực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo

máy… có trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất tiên tiến. Cơ sở hạ tầng của thành phố

lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp… cũng gây

khó khăn cho nền kinh tế. Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới các lĩnh

vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.

1.4. Hiện trạng môi trường và thông tin chất lượng nước lưu

vực sông Đồng Nai

1.4.1. Tổng quan lưu vực hệ thống sông Đồng Nai

Sông Đồng Nai có dòng chính dài 470 km và có diện tích lưu vực tính đến thác

Trị An là 14.800 km2. Toàn bộ lưu vực có 266 sông suối với chiều dài từ 10 km trở lên.

Lưu vực đổ nước ra biển tại 2 cửa chính là vịnh Gành Rái và cửa Soài Rạp. Tổng lượng

dòng chảy hàng năm LVHTS Đồng Nai (sau đây gọi tắt là LVS Đồng Nai) khoảng 36,6

tỷ m3 trong đó có khoảng 32 tỷ m 3 phát sinh trong lãnh thổ (chiếm 89 % tổng lượng

nước trong lưu vực).

Lưu vực sông Đồng Nai có khí hậu nhiệt đới gió mùa, phân hóa theo 2 mùa rõ

rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm khoảng

85% tổng lượng mưa cả năm. Lưu vực có rất nhiều đập và công trình điều tiết với 2 hồ

12

Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp

dụng cho lưu vực sông Đồng Nai

chứa lớn là hồ Trị An (phát điện); hồ Dầu Tiếng (hồ thủy lợi). Trên LVHTS Đồng Nai,

lượng mưa trung bình nhiều năm vào khoảng 2100 mm, tương ứng với khối lượng nước

mưa khoảng 84 tỷ m3. Lượng nước này, ngoài phần tổn thất do bốc hơi, sẽ là nguồn

cung cấp cho nước ngầm và hình thành dòng chảy bề mặt của các sông suối.

Đoạn sông Đồng Nai từ sau hồ Trị An đến Ngã ba Đèn Đỏ có vai trò quan trọng

với sự phát triển kinh tế – xã hội của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đoạn sông này

có chức năng cấp nước sạch đồng thời tiếp nhận nước thải của Tp.Hồ Chí Minh,

Tp.Biên Hòa, các KCN, vùng sản xuất nông nghiệp của tỉnh Đồng Nai, Tp.Hồ Chí

Minh, Bình Dương. Tuy nhiên nguồn tài nguyên nước có ý nghĩa sống còn này đang ở

mức nguy hiểm về chất lượng và khả năng cung cấp nước sạch. Để duy trì nguồn tài

nguyên nước quý giá này cần phải có biện pháp quản lý, bảo vệ mà bước đầu tiên là

phải phân đoạn quản lý theo các mục tiêu thích hợp nhất cho hiện tại và trong tương lai.

Nhìn chung, tài nguyên nước mặt ở LVHTS Đồng Nai tương đối khá. Tuy

nhiên, điều kiện tự nhiên không cho phép để có thể điều chỉnh lại dòng chảy cho

phù hợp với nhu cầu sinh hoạt và phát triển KTXH đối với toàn bộ vùng lãnh thổ

LVHTS Đồng Nai với lượng nước hàng năm 24,3 tỷ m3.

1.4.2. Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai những năm gần đây

Sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Đồng Nai, là nguồn nước cấp cho sinh hoạt của tỉnh Đồng Nai, Bình

Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Hiện nay, sông Đồng Nai không chỉ là nguồn tiếp

nhận lượng chất thải từ các đô thị và khu công nghiệp trong tỉnh, mà còn tiếp nhận một

lượng chất thải khá lớn từ một số tỉnh, thành lân cận. Vì vậy, sông Đồng Nai đã được

quan trắc tác động thường xuyên nhằm theo dõi diễn biến nhạy cảm trong chất lượng

của nguồn nước sinh hoạt quan trọng này.

Bảng 1 Diễn biến chất lượng nước sông Đồng Nai trong giai đoạn 2005-2009

Thông số Giá trị

Số lượng mẫu xử

lý :

pH

TB

DO

TB

BOD5

TB

SS

TB

NH3-N

TB

Coliform TB

2005

2006

2007

2008

2009

606

654

1.206

822

363

7,2

5,8

4,3

35

0,4

13.543

7,0

5,9

4,5

48

2,1

10.404

7,1

5,8

3,8

37

5,5

17.921

7,0

5,5

4,0

27

0,4

19.058

6,6

5,6

4,4

12

0,6

12.800

TCVN

5942 – 1995

(cột A)

6,0 – 8,5

≥6

<4 20 0,05 5.000 (Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005-2009) So sánh kết quả quan trắc môi trường với TCVN 5942 – 1995 (cột A) cho nhận xét sau: Trong cả 5 năm chất lượng nguồn nước sông Đồng Nai hoàn toàn không đạt ở các chỉ thị NH3-N và coliform (vượt 2 – 110 lần); chỉ thị SS nhìn chung không đạt tiêu chuẩn, song có xu hướng giảm dần và đạt tiêu chuẩn vào mùa khô năm 2005; các chỉ thị DO, BOD cơ bản chấp nhận được; chỉ thị pH đều đạt tiêu chuẩn cho phép. 13 Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp dụng cho lưu vực sông Đồng Nai  Diễn biến chất lượng nước từ hồ Trị An đến Ngã ba Đèn Đỏ Đoạn sông Đồng Nai từ sau hồ Trị An đến Ngã ba Đèn Đỏ có độ dài 90km, chảy ngang qua tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Tp.HCM. Đoạn sông này có nhiều đặc trưng quan trọng: không có các điểm hợp lưu lớn, là nguồn cung cấp nước sạch, chịu ảnh hưởng của triều, mặn, là nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt, sản xuất với số lượng lớn của Tp.HCM, Tp.Biên Hòa. Dựa theo các đặc trưng trên có thể chia đoạn sông ra 3 đoạn nhỏ. Trong đoạn sông Đồng Nai từ hồ Trị An đến cầu Đồng Nai hiện đang có trạm bơm nước của nhà máy nước Thủ Đức (TP. Hồ Chí Minh) và nhà máy nước Biên Hòa (tỉnh Đồng Nai), tổng lượng nước đang khai thác đạt 700.000m 3/ngày đêm. Theo quy hoạch, đến năm 2005 sẽ có thêm nhà máy nước Thiện Tân thuộc tỉnh Đồng Nai (200.000 m3/ngày.đêm); nhà máy nước Bình An thuộc tỉnh Bình Dương (100.000 m 3/ngày.đêm). Lượng nước khai thác trên sông Đồng Nai vào năm 2005 tối thiểu là 1.000.000 m3/ngày.đêm. Với vai trò là nguồn cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, nước sông Đồng Nai được bảo vệ để đạt loại A của TCVN về chất lượng nước mặt. Nồng độ các thông số ô nhiễm của nước sông Đồng Nai được quan trắc hàng tháng. Kết quả của hệ thống quan trắc chất lượng nước sông Đồng Nai (Cục Môi trường và Sở KHCN & MT tỉnh Đồng Nai) cũng như các khảo sát của các cơ quan khoa học trong những năm gần đây cho thấy chất lượng nước sông Đồng Nai (đoạn sông từ sau hồ Trị An đến điểm hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn) đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ. Nguyên nhân chính là nước thải sinh hoạt, công nghiệp từ các khu vực đô thị, khu công nghiệp… nằm ven sông Bảng 1 Diễn biến chất lượng nước hồ Trị An trong giai đoạn 2005-2009 Thông số Giá trị Tổng số mẫu: pH TB DO TB BOD5 TB SS TB NH3-N TB Coliform TB 2005 2006 2007 2008 2009 66 7,3 6,3 4 27 0,3 40 66 7,0 6,6 3 23 0,7 1.138 66 7,4 6,7 2 24 0,3 982 66 6,8 5,8 4 17 0,6 518 108 7,1 6,6 7 36 0,6 1.958 TCVN 5942-1995 (cột A) 6,0 – 8,5 ≥6 <4 20 0,05 5.000 (Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2005 – 2009) Trải rộng trên địa bàn nhiều tỉnh, sông Đồng Nai chịu ảnh hưởng mạnh của nhiều nguồn tác động trên toàn lưu vực. Phần hạ lưu của nhiều sông trong lưu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, trong đó, có đoạn đã trở thành sông “chết”. Sông Đồng Nai có nhiều đoạn đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, đặc biệt là vùng hạ lưu nước sông Đồng Nai, đoạn từ nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại – Đồng Nai đã bắt đầu ô nhiễm chất hữu cơ và chất rắn lơ lửng, đáng chú ý là đã phát hiện hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 đối với nguồn loại A. Trong đoạn sông này, chất rắn lơ lửng thường vượt tiêu chuẩn từ 3 – 9 lần, giá trị COD vượt từ 1,8 – 2,8 lần, giá trị DO thấp dưới giới hạn cho phép. Trên đoạn sông từ khu vực trạm bơm cấp nước Hóa An đến trạm Cát Lái, qua địa bàn Tp.HCM cho thấy CLN tương đối ổn định từ năm 2001 đến nay; hàm lượng BOD5 dao động trong khoảng 2 mg/l, đạt tiêu chuẩn CLN mặt dùng làm nguồn cấp 14 Bước đầu ứng dụng mô hình phân chia lợi ích trong khai thác lưu vực sông – áp dụng cho lưu vực sông Đồng Nai nước sinh hoạt. Hàm lượng dầu dao động từ 0,025 đến 0,029 mg/l, trong khi TCVN quy định không cho phép dầu hiện diện trong nguồn nước dùng làm nguồn cấp nước sinh hoạt. Ô nhiễm vi sinh ở mức cao tại các khu vực Hóa An và Cát Lái, nhưng đã có chiều hướng giảm trong vài năm gần đây CLN sông của khu vực hạ lưu: Giá trị DO giảm xuống rất thấp, SS vượt từ 2- 2,5 lần TCVN 5942 – 1995 (loại B). Vùng này cũng đã bị nhiễm mặn nghiêm trọng, nước sông ở khu vực này không thể sử dụng cho mục đích cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu. Hình 1 Bản đồ khu vực nghiên cứu từ hồ Trị An đến ngã ba đèn đỏ 1.5. Nguồn tác động đến CLN LVHTS Đồng Nai Hiện nay, LVHTS Đồng Nai đang chịu áp lực mạnh mẽ của gia tăng dân số, đô thị hóa và phát triển kinh tế, đặc biệt là các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Ngoài ra, CLN còn chịu tác động mạnh bởi hoạt động phát triển thủy điện – thủy lợi, việc sử dụng ngày càng nhiều phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển giao thông vận tải thủy… Trong số các nguồn thải có lưu lượng thải lớn, nước thải công nghiệp và sinh hoạt đóng góp tỷ lệ lớn nhất, với tải lượng các chất ô nhiễm rất cao. [1]. 1. 5.1. Hoạt động của các KCN và KCX Tính đến nay, trên lưu vực có khoảng hơn 70 KCN và KCX đang hoạt động, trong số đó chỉ có 21 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung, còn lại đều xả trực tiếp vào nguồn nước, gây tác động lớn đến CLN của các nguồn tiếp nhận, chủ yếu là 15

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập