Giáo trình nghề giáo viên mầm non – Tài liệu text

Giáo trình nghề giáo viên mầm non

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (539.42 KB, 47 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA
TS. HỒ LAM HỒNG

GIÁO TRÌNH

NGHỀ GIÁO VIÊN MẦM NON

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ
Huế, 2012

1

MỤC LỤC
Chương 1: Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non …………………………………….4
1. Khái niệm về nghề và nghề giáo viên mầm non………………………………………………4
2. Nhiệm vụ của giáo viên mầm non trong trường mầm non……………………………………9
3. Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non………………………………………………….14
4. Các kỹ năng nghề nghiệp của giáo viên mầm non……………………………………………33
5. Giao tiếp sư phạm và ứng xử sư phạm của giáo viên mầm non…………………………………..38
6. Khó khăn và những tình huống sư phạm trong công tác của giáo viên mầm non……………42
Chương 2: Nhân cách và nghề giáo viên mầm non………………………………………….48
1. Nhân cách của người giáo viên mầm non…………………………………………………….48
2. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non………………………………………………………61
3. Hoạt động học tập và rèn luyện hình thành nhân cách của người giáo viên mầm non………64
Bài tập thực hành về xử lí tình huống sư phạm trong trường mầm non………………………..77
Tài liệu tham khảo………………………………………………………………………………79

2

NGHỀ GIÁO VIÊN MẦM NON
Xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, nền kinh tế thị trường phát triển mạnh tạo nên sự thay đổi về
nhu cầu giáo dục của xã hội. Nền kinh tế càng phát triển thì đòi hỏi về dịch vụ chăm sóc, giáo dục
trẻ lứa tuổi mầm non ngày càng tăng, nhất là chất lượng giáo dục trẻ mầm non. Khác với vài chục
năm trước đây, chỉ có duy nhất hệ thống các trường mầm non công lập, thì ngày nay loại hình các
trường, lớp mầm non tư thục, nhóm trẻ gia đình chất lượng cao gia tăng rất nhanh và mạnh, đặc biệt
ở những thành phố lớn, đã đáp ứng được phần nào nhu cầu của đại bộ phận phụ huynh có mức thu
nhập từ trung bình khá trở lên. Hệ thống trường mầm non tư thục ra đời đã chia sẻ được gánh nặng
về mối lo đưa trẻ ở độ tuổi mầm non tới trường. Việc xã hội hóa giáo dục, mở rộng các loại hình
trường, lớp đã góp phần thu hút trẻ mầm non trong độ tuổi đến trường; đáp ứng được nhu cầu gửi
trẻ rất lớn hiện nay trong khi còn thiếu nhiều cơ sở giáo dục mầm non (GDMN) công lập; góp phần
làm ổn định xã hội, tạo thuận lợi cho cha mẹ các cháu yên tâm làm việc; tạo việc làm cho một bộ
phận giáo viên mầm non và một số lao động khác… Ngành giáo dục, trong đó bậc giáo dục mầm
non không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng, đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của xã hội.
Trong nhà trường, giáo viên là người trực tiếp đưa những nội dung giáo dục đến với trẻ theo
từng lứa tuổi cụ thể. Phẩm chất đạo đức, trình độ nhận thức và khả năng tư duy sáng tạo của học trò
không chỉ phụ thuộc vào chương trình và sách giáo khoa, vào môi trường học tập ở nhà trường mà
phụ thuộc nhiều vào chính phẩm chất và nhân cách, trình độ chuyên môn và năng lực tay nghề của
giáo viên. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị Quốc tế “Bàn về giáo dục cho thế kỷ XXI” tại
Giơnevơ: “Muốn có một nền giáo dục tốt, cần phải có những giáo viên tốt. Giáo viên là nhân tố
quyết định chất lượng giáo dục”. Unesco nhận định rằng: “Quan niệm dạy học phải được coi là một
nghề”. Thực sự đây là một bước tiến quan trọng về nhận thức cũng như sự phát triển của bản thân
việc dạy học trong thế kỷ 20. Đồng thời khuyến cáo của Unesco về nghề dạy học cho rằng, dạy học
vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, vì nội dung giáo dục không ngừng đổi mới và những thay đổi đó
buộc người giáo viên không ngừng nâng cao trình độ của bản thân về cả tri thức lẫn kỹ năng dạy
học.
Theo quan điểm sư phạm trong nước, quá trình giáo dục thực chất là quá trình tương tác giữa
người dạy và người học. Người dạy đóng vai trò là người tổ chức các hoạt động dạy học và giáo
dục, còn người học là chủ thể của hoạt động dạy học tham gia một cách tích cực nhằm tìm hiểu và

khám phá sự vật hiện tượng xung quanh, thu nhận những hiểu biết về đặc điểm của sự vật hiện
tượng và bản chất của chúng. Giáo viên cần có những kỹ năng nghề nghiệp sư phạm nhất định để
có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học và giáo dục trên cơ sở những kiến thức, kĩ năng và kinh
nghiệm nghề nghiệp mà họ tích luỹ được từ quá trình học tập và làm việc. Sự thành thạo các kỹ
năng sư phạm giúp giáo viên mầm non nhanh chóng đạt được những mục tiêu giáo dục theo như
quyết định 55: “Giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố
đầu tiên về nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1”.

3

Chương 1:
HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
1. KHÁI NIỆM VỀ NGHỀ VÀ NGHỀ GIÁO VIÊN MẦM NON
1.1. Nghề là gì?
Xưa nay chọn nghề vẫn được xem là một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với mỗi
người. Nhưng quan niệm về ngành nghề cũng như vị trí của chúng trong xã hội thì luôn thay đổi
qua các giai đoạn phát triển lịch sử và hiện nay cũng đang có những biến động lớn. Có nhiều quan
niệm khác nhau về nghề. Có người cho rằng, nghề là một công việc mà nhờ đó con người có thu
nhập kinh tế để nuôi sống bản thân và gia đình, hoặc nghề là một công việc người ta theo đuổi
nhằm thoả mãn các nhu cầu về tinh thần và vật chất của bản thân.
Theo một số ý kiến khác thì, những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau
được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên
môn cùng loại, gần giống nhau về một số đặc điểm nhất định. Chuyên môn là một dạng lao động
đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và tinh thần của mình để tác động vào những
đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó phục vụ vào mục đích, yêu cầu và lợi ích của
con người.
Theo Wikipedia (mục từ profession) thì một công việc được coi là một nghề khi đã qua các
điểm mốc phát triển như sau: 1/ công việc đó phải toàn thời gian; 2/ công việc đó được đào tạo qua
nhà trường; 3/công việc đó được đào tạo qua trường đại học; 4/hiệp hội địa phương của những người

làm công việc đó được thành lập; 5/hiệp hội quốc gia được thành lập; 6/các quy tắc ứng xử đạo đức
trong công việc được thiết lập; 7/ các quy định nhà nước về chứng chỉ hành nghề được ban hành. Xét
về bản chất, một công việc được coi là một nghề nghĩa là công việc đó không chỉ qua một quá trình
đào tạo ở nhà trường và hoàn thiện trong quá trình hành nghề, mà còn vì công việc đó có vai trò quan
trọng và giá trị đối với sự phát triển của cá nhân và xã hội. Một công việc được thừa nhận là một nghề
khi người làm nghề đó có vị thế xã hội nâng cao, được xã hội tin tưởng và tôn trọng.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được
những tri thức và kỹ năng cần thiết để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp
ứng được những nhu cầu của xã hội. Đồng thời trong quá trình hoạt động nghề nghiệp, cá nhân
người lao động lại tiếp tục rèn luyện học tập, tu dưỡng phấn đấu, phát triển và hoàn thiện kĩ năng
nghề nghiệp của bản thân. Trong mỗi nghề có các chuyên môn, môn là một lĩnh vực lao động sản
xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật
chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm
nhạc, tranh vẽ…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.
Các nghề trong xã hội không phải là cái gì đó cố định, bất biến, cứng nhắc. Các nghề cũng
giống như một cơ thể sống, có sinh thành, có phát triển và có diệt vong hoặc biến đổi theo tiến trình
phát triển của xã hội và công nghệ. Chẳng hạn, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người đã
sáng tạo ra máy xay lúa chạy bằng điện, thay thế cho xay lúa thủ công bằng cối xay tay bằng sức
người, tức là nghề nông nghiệp đã được thay thế bằng các loại máy (máy cày, máy làm cỏ, máy gặt
đập, máy xay xát…) làm giảm nhẹ sức lao động của con người, giảm chi phí thời gian và tăng năng
4

suất sản phẩm. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc thay đổi về nội dung cũng như về phương pháp sản xuất
tạo ra sản phẩm.
Trước đây, nghề thủ công mĩ nghệ mây tre đan đã rất phát triển với việc đan rổ rá bằng tre
phục vụ cuộc sống của con người thể hiện tính phổ biến trong xã hội Việt Nam. Ngày nay khi công
nghệ nhựa và máy móc phát triển, người ta đã sản xuất ra rổ rá bằng nhựa, bằng Inox làm cho nghề
đan lát thủ công đã giảm đi đáng kể, ngành công nghiệp sản xuất đồ gia dụng ra đời và ngày càng
phát triển mạnh, tạo ra sự đa dạng sản phẩm và mẫu mã, hàng hóa đẹp và bền, đảm bảo vệ sinh cho

người sử dụng, đồng thời quá trình tạo sản phẩm nhanh, sản lượng lớn.
Do những chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế ở Việt Nam trong nhiều năm gần đây, từ cơ
chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, đã làm thay đổi sâu sắc cơ cấu nghề nghiệp trong
xã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức, sức lao động của con người cũng
được đánh giá là một thứ hàng hoá. Giá trị của thứ hàng hoá sức lao động này tùy thuộc vào trình
độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận hàng hoá này như thế nào
là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm chờ đợi phân công
công tác (như thời kì bao cấp) đã mất dần trong quá trình vận hành cơ chế thị trường, thay vào đó là
sự cạnh tranh lành mạnh bằng những phẩm chất đạo đức và năng lực nghề nghiệp phù hợp với môi
trường lao động. Ngày nay người lao động phải chủ động chuẩn bị những tiềm lực bản thân, trau
dồi bản lĩnh cá nhân, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề, có khả năng thích ứng và năng động,
linh hoạt để tự tạo ra việc làm cho chính mình.
Hai khái niệm nghề và chuyên môn có liên quan đến nhau, nhiều khi người ta dễ lẫn lộn, cần
được xác định rõ. Khi nói đến nghề xây dựng, có các chuyên môn sâu khác nhau như: xây dựng dân
dụng (nhà cửa, công xưởng…), xây dựng giao thông (xây dựng cầu, xây dựng đường, xây dựng
cảng đường thuỷ, xây dựng cảng hàng không…). Cũng như vậy, khi nói đến ngành giáo dục có:
giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục đại học với các chuyên ngành
khoa học khác nhau. Mỗi một nghề có những đòi hỏi chuyên môn sâu nhằm giải quyết những vấn
đề riêng đặc thù của mỗi nghề. Do đó:
– Nghề: là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo một cách khoa học
và theo quy trình đào tạo nghề với những tiêu chuẩn nhất định, con người có được những tri thức,
kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu
của xã hội. Nghề bao gồm nhiều chuyên môn và ngày nay nghề ngày càng chuyên môn hóa cao
theo yêu cầu và sự phân công lao động xã hội. Thậm chí sự chuyên môn hóa mang tính toàn cầu,
được thể hiện sự phân công hóa trong sản xuất sản phẩm công nghệp, ví dụ: sản phẩm máy tính
gồm nhiều linh kiện được sản xuất ở những nước khác nhau như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài
Loan, Ấn Độ…
– Chuyên môn: là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lực thể
chất hay tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, đồ dùng, công cụ
lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ, công trình kiến trúc, tác

phẩm nghệ thuật, thậm chí cả những ý tưởng…) với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát
triển của xã hội. Người ta đã thống kê trên thế giới hiện nay có trên 2000 nghề với hàng chục nghìn
chuyên môn khác nhau. Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 chuyên môn, còn ở
Mỹ, con số này lên đến 40.000 chuyên môn. Vì hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghề
và chuyên môn nhiều như vậy, nên người ta gọi hế thống các nghề đó là “ Thế giới nghề nghiệp”.
Nhiều nghề đã có ở nước này, nhưng chưa xuất hiện ở nước khác. Mặt khác do có sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học và công nghệ, nên có sự biến động các nghề trong xã hội. Nhiều nghề cũ có thể mất
5

đi hoặc thay đổi về nội dung và phương pháp sản xuất, thay vào đó là những nghề mới xuất hiện và
phát triển theo hướng đa dạng hóa. Theo con số thống kê gần đây, trên thế giới mỗi năm có tới 500
nghề bị đào thải và có khoảng 600 nghề mới xuất hiện. Tùy theo tính phức tạp của mỗi nghề và
chuyên môn sâu mà sự khác biệt về đào tạo có những đặc điểm riêng. Ở Việt Nam, mỗi năm ở cả 3 hệ
đào tạo (dạy nghề, trung cấp chuyên nghiệp và cao đẳng, đại học) đào tạo trên dưới 300 nghề với
hàng nghìn chuyên môn khác nhau.
1.2. Nghề giáo viên là gì?
Giáo viên là nhà chuyên nghiệp trong dạy học và giáo dục, nghĩa là người đó có khả năng sử
dụng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và kinh nghiệm thực tế phong phú để có thể đưa
ra những cách thức xử lí tin cậy và phù hợp với những tình huống cụ thể khác nhau (về người học,
về bối cảnh/hoàn cảnh) vì lợi ích của người học và đạo đức nghề nghiệp. Nghề giáo viên là một lĩnh
vực hoạt động lao động trong hệ thống giáo dục quốc dân. Sau khi được đào tạo ở các trường, khoa
sư phạm về giáo dục mầm non, sinh viên có được những phẩm chất và năng lực (bao gồm kiến thức
và kĩ năng nghề) nhất định để có thể trở thành giáo viên và có thể tham gia vào giáo dục thế hệ trẻ,
đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Hệ thống giáo dục Việt Nam được quy định trong Luật Giáo dục (2005) ở “Điều 4. Hệ thống
giáo dục quốc dân:
(1). Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
(2). Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
– Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

– Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;
– Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;
– Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao
đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ”.
Vậy hệ thống giáo dục Quốc dân gồm các cấp học khác nhau và tương ứng với từng vị trí
công việc của mình trong hệ thống giáo dục có các loại giáo viên như sau:

6

Trường Đại
học, Trường
Cao đẳng

Đào tạo trình độ
Tiến sĩ, Thạc sĩ

Giáo viên giảng
dạy ở các trường
đại học, Cao đẳng
gọi là giảng viên

Đào tạo cử nhân

Trường Trung
học phổ thông

Trường Trung
học cơ sở

Trường Tiểu
học

Trường Mầm
non

Giáo dục học sinh
Trung học phổ thông

Giáo dục học sinh
Trung học cơ sở

Giáo dục học sinh
Tiểu học

Chăm sóc, giáo dục
trẻ em lứa tuổi mầm
non

Giáo viên dạy ở
các trường Trung
học gọi là giáo
viên trung học
cơ sở

Giáo viên dạy ở
các trường phổ
thông cơ sở gọi là
giáo viên phổ
thông cơ sở

Giáo viên dạy ở các
trường Tiểu học
gọi là giáo viên
Tiểu học

Giáo viên chăm
sóc và giáo dục/ ở
các trường mầm
non gọi là giáo
viên mầm non

Sơ đồ 1.1. Vị trí công việc của giáo viên trong từng bậc học

– Theo như điều 70 (Luật giáo dục 2005), có quy định “Nhà giáo:
(1). Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục
khác.
(2). Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
– Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
– Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
– Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
– Lý lịch bản thân rõ ràng.
7

(3). Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp
gọi là Giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi là giảng viên”.
– Trong giáo dục, giáo viên là người hỗ trợ trẻ em, học sinh, sinh viên học tập và rèn luyện
phát triển nhân cách, chủ yếu là ở trong nhà trường, ngoài ra cũng có thể là ở gia đình hay trong hệ
thống giáo dục cộng đồng. Giáo viên là người có trình độ chuyên môn sâu nhất định để có thể tham

gia hướng dẫn và giúp đỡ người học trong quá trình dạy học. Nhưng đồng thời giáo viên cũng tự
học tập, rèn luyện bản thân mình trong hoạt động lao động. Xét theo quá trình đào tạo và tham gia
hoạt động nghề nghiệp, ta có:
Giáo sinh

Giáo viên
tập sự

Giáo viên
chính

Giáo viên
cao cấp

– Giáo sinh: là những người đang học trong cơ sở đào tạo nghề sư phạm, đang thực hành tay
nghề dưới sự giám sát của giáo viên hoặc người có chuyên môn sâu, có bằng cấp về chuyên môn và
có nghiệp vụ nhất định. Ví dụ như giáo sinh giáo dục mầm non là học sinh hay sinh viên ở các
trường trung cấp, cao đẳng hoặc đại học, đang thực hành giảng dạy dưới sự giám sát của giáo viên
chính thức ở trường mầm non hoặc giảng viên hướng dẫn thực hành, có bằng cấp về chuyên môn
nghiệp vụ giáo dục mầm non, có kinh nghiệm nhất định trong giáo dục trẻ mầm non.
– Giáo viên tập sự hoặc giáo viên mới vào nghề: là những người mới tốt nghiệp ở các cơ sở
đào tạo nghề sư phạm theo chuyên môn sâu về giáo dục và bắt đầu tham gia hoạt động lao động
trong lĩnh vực giáo dục. Ví như: giáo viên mầm non mới tốt nghiệp bắt đầu tham gia hoạt động
nghề trong lĩnh vực chăm sóc giáo dục trẻ dưới 6 tuổi ở một trong những cơ sở giáo dục mầm non.
– Giáo viên chính thức: là những người đã có trình độ đào tạo nhất định về chuyên môn giáo
dục, có một quá trình tham gia làm việc tại cơ sở giáo dục và kinh nghiệm làm việc nhất định đảm
bảo cho việc làm chủ công việc của mình. Ví dụ: giáo viên mầm non chính thức là người đã qua
giai đoạn thử việc và được Hội đồng tuyển dụng đánh giá là đủ điều kiện để trở thành giáo viên
chính thức. Có những giáo viên sau vài năm phấn đấu đạt được những danh hiệu giáo viên giỏi các
cấp (Trường; quận/ huyện; tỉnh/ thành phố…) hoặc những danh hiệu thi đua khác.

– Giáo viên cao cấp: là những giáo viên trung học đang công tác tại các cơ sở giáo dục, có
trình độ đào tạo nhất định về chuyên môn, có kinh nghiệm công tác, được đánh giá và xếp từ loại
khá trở lên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học (quy định tại Thông tư số
30/2009/TTBGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định
chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông) có thể thi chuyển
ngạch. Nếu đạt được yêu cầu, những giáo viên này có thể trở thành giáo viên cao cấp.
Trong thực tế ngành Giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng cũng rất cần những
giáo viên giảng dạy những môn chuyên sâu như: Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục, Ngoại ngữ… Do
đó có những sinh viên không được đào tạo tại các trường thuộc khối sư phạm nhưng vẫn có thể
trở thành giáo viên, nếu họ có nguyện vọng được cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, họ học
thêm chương trình và có chứng chỉ về nghiệp vụ sư phạm.
1.3. Nghề giáo viên mầm non là gì?
Nghề giáo viên mầm non là một lĩnh vực hoạt động lao động giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi.
Nhờ được đào tạo, giáo viên mầm non có được những tri thức về sự phát triển thể chất, tâm sinh lí
8

trẻ em; về phương pháp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ em; về những kĩ năng nhất định để
thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội về phát triển con
người mới trong xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa.
Nghề giáo viên mầm non là một nghề khó, đòi hỏi sự linh hoạt và sáng tạo trong quá trình lao
động bởi:
– Xét từ góc độ cá nhân:
+ Trẻ em còn rất nhỏ và có sự khác biệt trong quá trình phát triển: mỗi trẻ em có cấu trúc
thần kinh khác nhau, có tốc độ phát triển nhanh và không đồng đều, có vốn kinh nghiệm sống khác
nhau, có nhu cầu và hứng thú khác nhau…
+ Trẻ em có những năng lực, thiên hướng riêng: Trẻ này yêu thích âm nhạc, trẻ khác lại có
năng khiếu vẽ nặn hay thiên hướng vận động khéo léo, trẻ khác lại có khả năng bắt chước và học
nói nhanh, giúp cho việc học tốt ngoại ngữ sau này.
+ Trẻ em lứa tuổi mầm non rất đa dạng do xuất phát từ nền kinh tế, văn hóa và môi trường

giáo dục gia đình khác nhau.
– Xét từ góc độ xã hội:
+ Xã hội luôn vận động và phát triển đòi hỏi sự thay đổi về yêu cầu giáo dục, đáp ứng nhu
cầu chung.
+ Hơn nữa, mục tiêu giáo dục mầm non là phát triển trẻ em trở nên nhanh nhẹn, mạnh dạn
và tự tin, chủ động và tự lập, luôn sáng tạo và chuẩn bị tốt những tiền đề căn bản để học tốt ở Tiểu
học.
+ Môi trường xã hội có tác động mạnh đến sự phát triển trẻ em. Tùy thuộc vào điều kiện
sống của cộng đồng dân cư nơi trẻ sinh sống, trẻ em có điều kiện phát triển cao hơn hoặc thấp hơn.
Nghề giáo viên nói chung, giáo viên mầm non là nghề ổn định bởi xã hội không bao giờ hết
giáo dục và dạy dỗ. Còn có trẻ em là có giáo dục. Hiện nay ở Việt Nam, nghề giáo viên mầm non là
nghề đang được phát triển, bởi xã hội và các bậc phụ huynh đánh giá đúng công lao đóng góp của
giáo viên mầm non đối với xã hội, nhìn nhận đúng vai trò của giáo viên mầm non đối với sự phát
triển lâu dài ở trẻ em. Mặt khác, xu thế xã hội hóa giáo dục đã tác động mạnh đến giáo dục mầm
non, là bậc học tham gia vào quá trình xã hội hóa mạnh nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Các
trường, lớp mầm non tư thục ra đời đòi hỏi nhu cầu về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên
mầm non tăng mạnh. Hiện nay việc thi tuyển giáo viên mầm non được thực hiện khi nhà trường
thiếu giáo viên chứ chưa có chủ trương thi tuyển để thay thế những giáo viên chưa đảm bào chất
lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Nền kinh tế thị trường buộc người lao động nói chung, giáo viên mầm
non nói riêng phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, cập nhật kiến thức mới và áp dụng
công nghệ vào quá trình giáo dục trẻ em. Giáo viên mầm non cần phải tạo cho mình bản lĩnh nghề
nghiệp và kĩ năng học tập suốt đời.

2. NHIỆM VỤ CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
Giáo dục mầm non: là bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục mầm non thực
hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.
Mục tiêu của giáo dục mầm non: là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành
và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng,
những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng

9

tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Giáo dục
mầm non được chia thành hai giai đoạn: nhà trẻ và mẫu giáo. Giai đoạn nhà trẻ thực hiện việc nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng đến ba tuổi; giai đoạn mẫu giáo thực hiện việc nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tuổi đến sáu tuổi1.
Điều lệ trường mầm non có quy định2:
“Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm
trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
1. Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi
theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
2. Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ em có
hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật.
3. Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo
dục trẻ em.
4. Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật.
5. Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo yêu cầu tối thiểu
đối với vùng đặc biệt khó khăn.
6. Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức và cá nhân để thực hiện hoạt động nuôi dưỡng, chăm
sóc và giáo dục trẻ em.
7. Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội
trong cộng đồng.
8. Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định.
9. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật”.
Trường mầm non là đơn vị cơ sở của giáo dục mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường mầm non thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi nhằm
hình thành những yếu tố ban đầu của nhân cách; chuẩn bị những tiền đề quan trọng cho trẻ đi học
lớp Một. Trong thực tế, hệ thống trường, lớp giáo dục mầm non gồm có: Trường mầm non; Trường/
lớp mẫu giáo; Nhóm trẻ.

1

. Chương trình Giáo dục mầm non (Ban hành kèm theo Thông tư số: 17 /2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm
2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
2
Điều 2, Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm
2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
10

HỆ THỐNG TRƯỜNG, LỚP MẦM NON

Trường mầm non
gồm các nhóm và
lớp thực hiện nhiệm
vụ chăm sóc giáo
dục trẻ dưới 6 tuổi:
trẻ nhà trẻ (dưới 3
tuổi) và trẻ mẫu giáo
(dưới 6 tuổi)

Trường mẫu
giáo và nhóm,
lớp mẫu giáo
gồm các nhóm
lớp thực hiện
nhiệm vụ chăm
sóc giáo dục trẻ
từ 3 đến 6 tuổi.

Nhóm/ lớp nhà
trẻ gồm các
nhóm, lớp thực
hiện nhiệm vụ
chăm sóc giáo
dục trẻ dưới
3 tuổi.

Sơ đồ 1.2. Hệ thống trường, lớp trong giáo dục mầm non

Qua sơ đồ trên, chúng ta thấy trong hệ thống giáo dục mầm non có các loại hình trường, lớp,
nhóm trẻ khác nhau. Tùy theo nhiệm vụ được giao ở trường, giáo viên có thể ở những vị trí tương
ứng như: cô giáo nhà trẻ, cô mẫu giáo, nhưng chung quy lại vẫn là giáo viên mầm non, bởi:
– Khi học tại trường sư phạm, các giáo sinh, sinh viên đều học chung theo chương trình đào
tạo do Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành để có thể thực hiện được nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ
dưới 6 tuổi.
– Khi công tác tại trường mầm non, giáo viên mầm non cũng thường thay đổi nhiệm vụ: có
năm làm tại nhóm nhà trẻ, nhưng sang năm sau lại có thể chuyển sang làm tại lớp mẫu giáo. Một
giáo viên mầm non đều sẵn sàng thực hiện tốt nhiệm vụ ở các nhóm, lớp. Tất nhiên, khi giáo viên
có năng lực phù hợp với đối tượng giáo dục có thể được phân công làm lâu dài ở vị trí nào đó trong
trường mầm non.
Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, giáo viên mầm non có thể vào làm việc tại trường mầm
non công lập hay trường mầm non tư thục, mọi nghĩa vụ và quyền lợi của các giáo viên mầm non
đều như nhau. Hiện nay, giáo viên mầm non công lập kí hợp đồng dài hạn như giáo viên mầm non
trường tư thục, ngược lại giáo viên mầm non trường tư thục cũng có mức lương cao đảm bảo cuộc
sống, được đóng bảo hiểm và được hưởng các chế độ khác do Nhà nước ban hành chung đối với
mọi giáo viên.
Điều lệ trường mầm non3 có quy định về người giáo viên mầm non như sau: “Điều 34. Giáo
viên trong các cơ sở giáo dục mầm non là người làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em

trong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập”. Trình độ chuẩn được đào tạo của giáo
viên mầm non là có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm mầm non4. Nhờ được đào tạo, giáo viên mầm
non có được những tri thức về sự phát triển trẻ em, hiểu biết về chương trình và phương pháp nuôi
dưỡng chăm sóc, giáo dục trẻ em, kỹ năng nhất định để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ em
3

Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
4
Điều lệ trường mầm non. nt.

11

dưới 6 tuổi, đáp ứng nhu cầu xã hội ngày càng tăng về phát triển con người mới trong xu thế hội nhập
và toàn cầu hoá. Tuy nhiên trong tương lai, giáo viên làm trong các trường mầm non phải có bằng tốt
nghiệp cao đẳng sư phạm mầm non trở lên.
“Điều 35. Nhiệm vụ của giáo viên
1. Bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở nhà trường, nhà trẻ,
nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
2. Thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình giáo dục mầm
non: lập kế hoạch chăm sóc, giáo dục; xây dựng môi trường giáo dục, tổ chức các hoạt động nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; đánh giá và quản lý trẻ em; chịu trách nhiệm về chất lượng nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn, của nhà trường, nhà
trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập.
3. Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu, thương yêu
trẻ em, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của trẻ em; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng
của trẻ em; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.
4. Tuyên truyền phổ biến kiến thức khoa học nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ trẻ. Chủ động phối
hợp với gia đình trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ em.

5. Rèn luyện sức khỏe; học tập văn hoá; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
6. Thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quy định của nhà
trường, quyết định của Hiệu trưởng”.
Vậy giáo viên mầm non là người làm việc tại một trong các loại cơ sở giáo dục mầm non,
đảm nhận công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi.
Mặc dù được đào tạo chuyên môn như nhau, nhưng tùy theo nhiệm vụ được phân công trong
trường mầm non có:
– Những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ em dưới 3 tuổi tại các nhóm/ lớp
nhà trẻ gọi là giáo viên nhà trẻ.
– Những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ em từ 3 – 6 tuổi tại các nhóm/
lớp mẫu giáo gọi là giáo viên mẫu giáo.
Giáo viên mầm non thực hiện việc chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non theo đúng
quy chế chuyên môn và chương trình giáo dục trẻ mầm non được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban
hành; Đảm bảo an toàn tuyệt đối tính mạng của trẻ.
Giáo viên mầm non là những người được được đào tạo theo chuyên ngành Giáo dục mầm non
ở các trường sư phạm, có bằng cấp nhất định. Trong trường mầm non có giáo viên nhà trẻ và giáo
viên mẫu giáo, còn trong trường mẫu giáo chỉ có giáo viên mẫu giáo, trong nhà trẻ có giáo viên nhà
trẻ. Trong mỗi một nhóm/ lớp có thể chỉ có 1 giáo viên hoặc có thể có một vài giáo viên, tùy thuộc
vào số lượng trẻ trong một lớp. Trong nhóm/ lớp nhà trẻ, mẫu giáo có thể có giáo viên chính thức
và giáo viên tập sự (là giáo viên mới vào nghề cùng làm việc với giáo viên chính thức, có kinh
nghiệm để hướng dẫn, kèm cặp giúp đỡ về chuyên môn). Trong một lớp cũng có thể có giáo viên
chính và cô nuôi, mà ở đó, giáo viên mầm non thực hiện nhiệm vụ giáo dục và giảng dạy trẻ, còn cô
nuôi chăm lo việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
12

Ở nước ta, nghề giáo viên mầm non là nghề ít cạnh tranh nhất, so với các nghề khác trong xã
hội. Nếu một giáo viên khi đã được kí hợp đồng dài hạn, coi như đã có một chỗ làm việc ổn định và
chắc chắn. Cơ chế cạnh tranh trong ngành giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng chưa

thật rõ ràng. Thêm nữa, việc thi tuyển giáo viên được thực hiện khi nhà trường thiếu giáo viên chứ
không có chủ trương thi tuyển để thay thế những giáo viên không đảm bảo chất lượng chăm sóc
giáo dục trẻ. Vậy nên việc cạnh tranh nghề nghiệp không lớn để buộc giáo viên phải học tập phấn
đấu, nâng cao tay nghề và chất lượng chuyên môn nghiệp vụ để giữ vị trí của mình trong nhà
trường.
Điều lệ trường mầm non5 có quy định hành vi ngôn ngữ ứng xử của giáo viên mầm non được
làm và không được làm.
“Điều 39. Hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên và nhân viên6
1. Hành vi, ngôn ngữ ứng xử của giáo viên phải đáp ứng yêu cầu giáo dục đối với trẻ em.
2. Trang phục của giáo viên và nhân viên gọn gàng, sạch sẽ phù hợp với hoạt động nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Điều 40. Các hành vi giáo viên và nhân viên không được làm
1. Các hành vi giáo viên không được làm:
a) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ em và đồng nghiệp;
b) Xuyên tạc nội dung giáo dục;
c) Bỏ giờ; bỏ buổi dạy; tùy tiện cắt xén chương trình nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục;
d) Đối xử không công bằng đối với trẻ em;
e) Ép buộc trẻ học thêm để thu tiền;
f) Bớt xén khẩu phần ăn của trẻ em; làm việc riêng khi đang tổ chức các hoạt động nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Ngoài ra, trong trường còn có Hiệu trưởng, hiệu phó; giáo viên dạy các môn năng khiếu (âm
nhạc, tạo hình, thể dục, Tiếng Anh, Vi tính…), cô nuôi, bác sĩ hoặc người phụ trách y tế trường, các
cô/ bác nhà bếp, lao công và bảo vệ, tài vụ…
– Hiệu trưởng, hiệu phó là những người làm công tác quản lí nhà trường, được đào tạo chuyên
ngành giáo dục mầm non có trình độ nhất định (tốt nhất là từ đại học trở lên), đã kinh qua công tác
làm giáo viên ở các lớp mầm non (để có kinh nghiệm chuyên môn sâu), đạt được thành tích nhất
định về chuyên môn (các danh hiệu giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua…), có năng lực quản lí, có uy tín
trong tập thể giáo viên, có khả năng tập hợp và hợp tác với đồng nghiệp, hoàn thành các lớp học về
quản lí giáo dục.
– Giáo viên giảng dạy những môn năng khiếu. Trong trường mầm non có nhiều hoạt động

mang tính chuyên biệt cần đến giáo viên được đào tạo theo chuyên môn sâu. Các giáo viên này có
thể là giáo viên trong biên chế của trường, nhưng cũng có thể là giáo viên được mời dạy theo tiết.
Thường thì ở những trường mầm non chất lượng cao có thể có một vài giáo viên dạy âm nhạc, thể
5

Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
6
Điều 38 và điều 40, điều lệ trường mầm non. (Ban hành kèm theo Quyết định số 14 /2008/QĐ-BGDĐT ngày 07
tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).

13

dục, tạo hình, tiếng Anh để họ có thể đảm nhận việc tổ chức các hoạt động giáo dục âm nhạc của
trường (kết hợp với giáo viên mầm non ở các lớp để dạy trẻ, tổ chức các hoạt động lễ hội chung
trong trường, dạy trẻ năng khiếu, trang trí trường lớp, thực hiện dạy chương trình giáo dục song
ngữ…).
– Cô nuôi trẻ là người giúp giáo viên chính thức trong các công việc chung của lớp, chủ yếu là
nuôi dưỡng, chăm sóc vệ sinh cho trẻ… có thể đã qua đào tạo ở trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đào
tạo chuyên ngành nuôi dạy trẻ, nhưng có nguyện vọng làm công việc chăm sóc giáo dục trẻ lâu dài.

3. HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
3.1. Hoạt động và hoạt động sư phạm
3.1.1. Hoạt động
Hoạt động: là phương thức tồn tại của con người. Bằng hoạt động và trong hoạt động, mỗi cá
thể hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực của cá nhân: tính tình, đạo đức nhân cách
riêng của mình, khả năng học tập và làm việc của con người. Nói một cách khác bằng hoạt động và
trong hoạt động, mỗi cá thể người tự sinh thành ra mình một lần nữa, tự tạo ra nhân cách và tiếp tục
hoàn thiện chính mình. Ví dụ: Bạn Hương sinh ra và lớn lên trong một gia đình ít con và được bố

mẹ yêu chiều từ bé, nên Hương rất ít quan tâm và nghĩ đến những người xung quanh. Sau khi tốt
nghiệp khoa Giáo dục mầm non của trường cao đẳng sư phạm, Hương được nhận vào làm việc tại
một trường mầm non công lập ở thành phố. Những ngày đầu đi làm thật vất vả, nhất là việc chăm
sóc giáo dục trẻ đòi hỏi Hương cần phải quan sát và bao quát tất cả trẻ trong lớp, đòi hỏi phải tỉ mỉ,
cẩn thận trong từng việc làm. Những đòi hỏi của công việc (quan sát, theo dõi và đánh giá sự phát
triển của trẻ thường xuyên, giải quyết những tình huống sư phạm, xử lí mối quan hệ giữa các trẻ với
nhau, quan hệ với đồng nghiệp, tạo ra nhiều áp lực và khó khăn…). Song nhờ sự cố gắng phấn đấu
và sự giúp đỡ tận tình của giáo viên chính thức, dần dần Hương đã biết quan tâm đến trẻ em và các
đồng nghiệp khác trong tập thể, biết tự kiềm chế bản thân và yêu thương các em. Trường sư phạm
chỉ có thể hình thành và phát triển những phẩm chất nghề, kiến thức và kĩ năng nghề cơ bản để có
thể thực hiện được những công việc ở mức đạt yêu cầu, còn quá trình hoạt động nghề nghiệp tại
trường mầm non mới là nơi giúp cho giáo viên mầm non ngày càng hoàn thiện chính mình hơn nữa:
bổ sung những kiến thức mới hoặc làm sáng rõ hơn những kiến thức đã được học ở trường sư phạm,
hoàn thiện hơn những kĩ năng nghề và tôi luyện thêm phẩm chất đạo đức nghề nghiệp (đây là yếu tố
quan trọng quyết định bước thành công trong nghề nghiệp của giáo viên mầm non).
Hàng ngày, mỗi cá nhân tham gia vào các hoạt động khác nhau: hoạt động sống, vui chơi, học
tập, lao động nghề nghiệp, hoạt động văn nghệ hoặc thể dục thể thao… để thực hiện mục đích riêng.
Ví dụ: có người tham gia hoạt động thể thao để có cơ hội tham gia thi đấu, đạt thành tích; Một số
người khác tham gia hoạt động thể thao để rèn luyện sức khỏe và giải trí; nhưng lại có một số người
khác tham chơi thể thao để có cơ hội làm quen với mọi người và mở rộng mối quan hệ để làm ăn
kinh tế hoặc thăng tiến nghề nghiệp. Mỗi cá nhân tham gia hoạt động theo những động cơ riêng,
theo đuổi mục đích riêng.
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ giữa mình với thế giới xung
quanh: quan hệ giữa mình với thế giới tự nhiên (tìm hiểu thế giới xung quanh, ứng xử với thiên
nhiên, bảo vệ môi trường sống…) và quan hệ giữa mình với thế giới xã hội (quan hệ giữa mình với

14

người khác và giữa mình với bản thân). Mối quan hệ cá nhân với thế giới xung quanh được thể hiện

qua sơ đồ sau:
Hoạt động là quá trình con người thực hiện các mối quan hệ
giữa cá nhân với thế giới xung quanh

Quan hệ với thế giới
tự nhiên

– Hiểu biết và có hành vi
ứng xử đúng đắn với thiên
nhiên xung quanh (cây cối,
con vật, cảnh vật…)
– Hiểu biết và có hành vi
ứng xử phù hợp và bảo vệ
môi trường đúng đắn.
– ….

Quan hệ với thế giới
xã hội

– Hiểu biết và có quan hệ
ứng xử với mọi người
xung quanh đúng mực
– Hiểu biết và có cách ứng
xử với chính bản thân
mình đúng đắn, bảo vệ
bản thân và tu dưỡng rèn
luyện bản thân để hoàn
thiện mình.
– ….

Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ cá nhân với thế giới xung quanh

Trong quá trình hoạt động con người bộc lộ tâm lý (năng lực, ý chí, mong muốn, tính nết…) ra
bên ngoài. Trong lao động thì đó là quá trình chuyển năng lực cá nhân để tạo thành sản phẩm lao
động (ví dụ. Trong quá trình lao động, người hoạ sỹ sử dụng kiến thức, kĩ năng, sức lực và sự sáng tạo
của mình để vẽ nên bức tranh; ngay như giáo viên mầm non đã đem hết kiến thức về tâm lý và giáo
dục học để giáo dục trẻ em và các lĩnh vực khác như: múa, hát, vẽ, kể chuyện hấp dẫn hay đọc thơ,
kinh nghiệm nuôi dưỡng và dạy dỗ các em nhỏ… để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ ở lớp
của mình sao cho các cháu khoẻ mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần, thông minh nhanh nhẹn và có kỹ
năng sống tốt). Ngược lại, trong quá trình lao động để tạo ra sản phẩm hay giao tiếp với người khác,
mỗi người lại nâng cao thêm năng lực (kiến thức và kĩ năng) chuyên môn nghề, làm giàu vốn kinh
nghiệm sống cho bản thân hay tích lũy nghiệm giao tiếp với mọi người xung quanh và tăng thêm vốn
hiểu biết.
3.1.2. Hoạt động sư phạm
Hoạt động sư phạm là hoạt động dạy học hay hoạt động giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là hoạt
động cùng nhau giữa giáo viên và trẻ. Hoạt động sư phạm bao gồm hoạt động dạy và hoạt động
học, ở đó có mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và trẻ em nhằm thực hiện việc truyền đạt và lĩnh
hội những giá trị văn hoá nhân loại. Dạy và học diễn ra cùng nhau và đan xen nhau trong quá trình
hoạt động giữa giáo viên và trẻ nhằm mục đích cung cấp và lĩnh hội nội dung giáo dục cho trẻ.
Trong hoạt động dạy học, giáo viên truyền đạt kiến thức cho trẻ, còn trẻ tiếp nhận những hiểu biết
từ giáo viên một cách tích cực và sáng tạo, tùy thuộc vào “nghệ thuật” tổ chức dạy học của giáo
viên. Ngược lại, trong quá trình dạy học, giáo viên nâng cao thêm hiểu biết về sự phát triển của trẻ
để đưa ra những định hướng giáo dục trẻ phù hợp. Hai hoạt động dạy và học luôn gắn bó với nhau,
15

liên kết với nhau tạo nên hoạt động mang tính tương tác trực tiếp giữa giáo viên và trẻ, gọi là hoạt
động sư phạm.
Vậy hoạt động sư phạm là quá trình tương tác giữa giáo viên và trẻ trong quá trình cùng hoạt
động, mà ở đó giáo viên với tư cách là chủ thể của hoạt động dạy nhằm cung cấp những kiến thức

và kĩ năng cho trẻ, còn trẻ với tư cách là chủ thể của hoạt động học nhằm tiếp nhận và lĩnh hội
những nội dung giáo dục một cách tích cực và sáng tạo. Cả hai hoạt động này dựa vào nhau cùng
vận động và tác động tương hỗ lẫn nhau, mà ở đó giáo viên và trẻ cùng phát triển (giáo viên không
ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp bản thân và trẻ không ngừng mở rộng vốn hiểu biết, kinh
nghiệm và kĩ năng sống cho mình). Tuy các chủ thể thực hiện những nhịêm vụ khác nhau trong
từng hoạt động cụ thể, nhưng giáo viên truyền thụ kiến thức, trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm
sống, những giá trị xã hội được chắt lọc và tích lũy từ thế hệ này qua thế hệ khác, còn trẻ em lĩnh
hội, tiếp thu có chọn lọc những giá trị xã hội để tạo nên phẩm chất nhân cách toàn diện cho mình.
Nói một cách khác, quá trình sư phạm là hoạt động đặc biệt chỉ được thực hiện thông qua mối quan
hệ giữa nhà giáo dục (giáo viên) và người được giáo dục (trẻ em).
Để thực hiện tốt công việc này đòi hỏi giáo viên phải là những nhà chuyên nghiệp trong từng
lĩnh vực riêng, được học tập ở những cơ sở đào tạo nghề theo từng chuyên ngành. Hoạt động sư phạm
trong lĩnh vực mầm non càng khó hơn bởi đối tượng giáo dục là trẻ mầm non, tuổi còn rất nhỏ. Giáo
dục trẻ càng nhỏ càng khó bởi tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ đang trong giai đoạn phát triển và chưa hòan
thiện, vốn hiểu biết của trẻ còn rất hạn hẹp, nhiều khả năng của trẻ còn nhiều hạn chế (tư duy, ngôn
ngữ biểu đạt, tập trung chú ý chưa cao, sống bằng cảm xúc và ngẫu hứng…), tốc độ phát triển của trẻ
nhanh và có sự khác biệt lớn giữa các trẻ. Hoạt động sư phạm trong giáo dục mầm non là một trong
những lĩnh vực lao động phức tạp của con người và đòi hỏi tính chuyên nghiệp cao và có những đặc
thù rất riêng, không phải ai cũng có thể làm được dễ dàng.
3.1.3. Tính chuyên nghiệp của nghề sư phạm
Phần lớn giáo viên quyết định làm việc trong ngành giáo dục bởi vì họ có mong muốn được
làm việc với trẻ em nói riêng và thế hệ trẻ nói chung. Tuy nhiên, giáo dục không chỉ đơn giản có
vậy, mà công việc của người giáo viên có những đòi hỏi khắt khe về chuyên môn sâu và mang tính
chuyên nghiệp.
– Tính chuyên nghiệp của một nghề nhất định
Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau, song phần đông đều thừa nhận rằng người chuyên
nghiệp là người đã trải qua một quá trình đào tạo lâu dài về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, nhận
được bằng cấp để có thể hành nghề, được xã hội thừa nhận là có kiến thức và kĩ năng làm việc trong
lĩnh vực đào tạo, và đồng thời có quyền độc lập trong công việc của mình. Một người chuyên
nghiệp cũng có trách nhiệm giúp đỡ đồng nghiệp trong việc tiếp tục nghiên cứu và học tập phát

triển nghề của mình. Trước hết chúng ta tìm hiểu thế nào là một người chuyên nghiệp và một số tiêu
chí để có thể hiểu một người trong một nghề được coi là chuyên nghiệp hay không.
+ Được đào tạo chuyên sâu trong một lĩnh vực của người chuyên nghiệp. Một người
chuyên nghiệp cần được đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực kiến thức để họ có thể giải quyết các
công việc của mình một cách hiệu quả hơn những người bình thường khác, không được đào tạo
chuyên sâu về lĩnh vực đó. Ví dụ: chúng ta ai cũng có một chút ít kiến thức về sinh lý giải phẫu
người, hiểu biết nhất định về cơ thể và bệnh học sơ đẳng, song kiến thức đó chưa đủ để giúp bản
thân phát hiện và chữa những bệnh phức tạp hay xử trí những tình huống bất thường, mà chỉ có
16

người Bác sỹ – mang tính chuyên nghiệp mới có thể thực hiện được những công việc của nghề bác
sỹ đó. Một nhà giáo dục chuyên nghiệp, dù có trình độ và vốn học thức vừa rộng vừa sâu, uyên bác
nhưng không có nghĩa là dạy được tất cả trẻ em ở các độ tuổi khác nhau, mà phải có những giáo
viên chuyên nghiệp trong từng lĩnh vực (Toán học, Vật lý học, Hoá học, Văn học…) hay trong từng
bậc học cụ thể như: giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học hay bậc Đại học…
Một giáo viên dạy ở một lĩnh vực nào đó cũng sẽ gặp phải một số khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ
không phù hợp với đào tạo của mình như giáo viên dạy phổ thông trung học không dễ dàng khi dạy
học sinh tiểu học; giáo viên tiểu học khó có thể dạy tốt trẻ em lứa tuổi mầm non, bởi dạy trẻ càng bé
đòi hỏi một sự tinh tế, sự kiên trì nhẫn nại trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Đầu tiên, để có được những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực đòi hỏi có một quá trình
đào tạo nghiêm túc và kéo dài, không chỉ học khi còn ngồi ở ghế nhà trường mà còn tiếp tục học
tập, trau dồi kiến thức và kĩ năng nghề cho bản thân trong suốt quá trình làm việc. Đối với nghề
dạy học, quá trình đào tạo này là cần thiết và quan trọng bởi vì công việc mà người giáo viên thực
hiện khá phức tạp, có những yêu cầu khác biệt so với các công việc khác, được thể hiện qua năng
lực của người giáo viên như: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; Năng lực dạy
học; Năng lực giáo dục; Năng lực hoạt động chính trị, xã hội; Năng lực phát triển nghề nghiệp
và Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Hơn nữa, họ cần phải có ý thức trách nhiệm nghề
nghiệp, phải làm việc nghiêm túc, tuân theo những tiêu chuẩn của một nghề và luôn là tấm gương
sáng, hình mẫu nhân cách chuẩn để trẻ bắt chước học theo (trẻ mầm non bắt chước lời ăn cách nói

của giáo viên, học cách giao tiếp ứng xử với mọi người xung quanh, sự nhanh nhẹn trong công
việc, sự thân thiện nhẹ nhàng trong giao tiếp…). Đối với trẻ mầm non, giáo viên như một hình
mẫu để trẻ noi theo, được thể hiện qua câu nói thơ ngây “Cô con bảo thế!”; hoặc trẻ bắt chước
những hành vi giống giáo viên dạy trẻ trên lớp.
Vậy nhà chuyên nghiệp là người có đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, có trình độ học vấn và kĩ
thuật nghề cao để có thể xử lí công việc mà người khác khó có thể giải quyết được.
+ Sự kính trọng, vị thế xã hội và thu nhập. Người chuyên nghiệp mang đặc thù riêng biệt
của một nghề nào đó mà người khác rất khó có thể giải quyết được tốt. Chính vì vậy họ được những
người khác trong xã hội cần đến để xử lý, giải quyết công việc. Với tay nghề cao, người chuyên
nghiệp luôn được mọi người trong xã hội tôn trọng, vị thế trong xã hội và có thu nhập ngày càng
cao hơn nếu tay nghề của họ không ngừng phát triển. Người thầy giáo chân chính luôn được mọi
người, mọi thế hệ trân trọng và nhớ đến, các thế hệ học trò kính trọng, được xã hội tôn vinh như
triết lí từ xa xưa truyền lại: “Không thầy đố mày làm nên”. Giáo viên mầm non hiện nay cũng đã
được xã hội thừa nhận là một nghề cao quý nhưng cũng đầy vất vả và thách thức, phụ huynh và xã
hội cũng đã trân trọng sức lao động và công lao của giáo viên tham gia chăm sóc giáo dục con em
họ trong thời gian ở trường (tính ra ít nhất cũng khoảng 10 tiếng/ngày), nhưng áp lực công việc và
đòi hỏi của xã hội về chất lượng chăm sóc giáo dục ngày càng tăng.
– Tính độc lập/ tự chủ trong nghề nghiệp. Từng cá nhân trong một nghề cần có những kiến
thức chuyên ngành mà người khác không có, nên người chuyên nghiệp được phép độc lập và tự chủ
thực hiện công việc của mình. Họ tự chủ trong việc lập kế hoạch hoạt động, tự chủ trong việc chọn
lựa những công cụ lao động phù hợp với đối tượng và nhu cầu về sản phẩm của hoạt động. Họ cũng
được quyền chủ động trong quản lý thời gian làm việc và thu xếp cho việc học tập nâng cao chất
lượng nghề nghiệp của bản thân. Giáo viên mầm non được quyền tự chủ trong hoạt động chuyên
môn của mình như: lập kế hoạch hoạt động dạy học và giáo dục trẻ; tổ chức các hoạt động giáo dục
17

cho trẻ; tổ chức môi trường giáo dục thân thiện và phù hợp với trẻ theo từng độ tuổi; hướng dẫn phụ
huynh phối kết hợp chăm sóc giáo dục trẻ tại gia đình; độc lập tự chủ trong việc học tập tu dưỡng
nâng cao tay nghề cá nhân…

– Tính trách nhiệm đối với nghề nghiệp. Trước hết một người chuyên nghiệp luôn có tính
trách nhiệm trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình với những người xung quanh và phát triển
nghề mà họ đang theo đuổi, trao đổi và chia sẻ kinh nghiệp nghề cùng đồng nghiệp về những
công việc phù hợp, chú ý đến phát triển nghề cho bản thân và cho đồng nghiệp. Khi một người
chọn cho mình nghề nhà giáo tức là họ đã xác định rất rõ trách nhiệm của họ đối với thế hệ trẻ và
trẻ em, trước phụ huynh và xã hội. Hơn ai hết họ hiểu rõ nhân cách của mình có ảnh
hưởng
rất lớn đến những người xung quanh, đặc biệt là đến trẻ em về tiêu chuẩn đạo đức nghề, kiến thức
và kỹ năng nghề nghiệp mà họ phục vụ và đeo đuổi, nhu cầu học tập và phát triển bản thân trong
tương lai đảm bảo cho việc đứng vững và lâu bền trong xã hội và trong lĩnh vực chuyên môn của
mình.
– Tính chuyên nghiệp của nghề dạy học/ nghề giáo viên: Mặc dù có kiến thức chuyên ngành
được đào tạo, có vị thế nhất định trong xã hội, được tự chủ và có trách nhiệm là những đặc điểm
chung nhất của đa số các nghề, song mỗi nghề lại có những đặc thù rất riêng mà chúng ta chỉ có thể
nhìn nhận khi so sánh nghề giáo viên với các nghề dịch vụ khác (nếu coi giáo dục thuộc lĩnh vực
dịch vụ).
– Kiến thức chuyên ngành: Có rất nhiều cách đánh giá công việc của một giáo viên. Khi so
sánh nghề dạy học với một số công việc trong nghề khác cho thấy dạy học đòi hỏi phải thực hiện
những công việc khá phức tạp, kết hợp nhiều kiến thức chuyên ngành. Một nhà khoa học rất uyên
bác về vật lý, chuyên gia uyên thâm về lĩnh vực hoá học… cũng có thể không trở thành một giáo
viên vật lý hay hoá học giỏi được, bởi nghề dạy học không chỉ đòi hỏi những kiến thức chuyên sâu
ngành Vật lý hay Hoá học, mà cần phải có thêm những hiểu biết nhất định về tâm lý học lứa tuổi
cụ thể của người học/ học sinh; hiểu biết về khoa học giáo dục và phương pháp dạy học phù hợp với
đối tượng giáo dục; Khả năng ngôn ngữ và cách truyền đạt hấp dẫn và dễ hiểu, thu hút được sự chú
ý của người học; Khả năng giao tiếp sư phạm với các đối tượng học sinh khác nhau và phụ huynh
học sinh; khả năng tổ chức các hoạt động học tập phù hợp với từng đối tượng cụ thể; khả năng quản
lý người học; khả năng tổ chức môi trường học tập phù hợp; khả năng sử dụng thành thạo các phương tiện công nghệ phù hợp với phương pháp dạy học… đấy chính là nghệ thuật dạy học. Theo
Eisner (1978) “phải xem xét việc dạy học như là một nỗ lực nghệ thuật”. Năm 1989, Hiệp hội các
trường Cao đẳng sư phạm Hoa Kỳ (American Association of Colleges of Teacher Education ACCTE) đã cho xuất bản cuốn sách: “Các kiến thức cơ bản để trở thành giáo viên” và cuốn “Sổ
tay nhà giáo” (1996), trong đó đã làm rõ và xác định những điều mà một giáo viên mới bắt đầu vào

nghề cần biết và có thể làm được.
Một thực tế rõ ràng công việc của một giáo viên được thừa nhận là rất vất vả và khó khăn,
nhưng cũng thật là cao quý, bởi nghề giáo viên được xã hội luôn cần đến, phụ huynh tin tưởng
giao con trẻ của họ cho các giáo viên chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ. Mặt khác giáo viên cũng
rất vui sướng và tự hào khi thấy trẻ em của mình lớn khôn từng ngày. Hơn nữa rất nhiều người
trong giới lao động đã nhận thấy nghề dạy học là bước tiến thân đầu tiên, bởi nhiều người bắt đầu
bằng nghề giáo, sau này phát triển khá thành đạt, có vị trí quan trọng trong xã hội nhờ có bước
khởi đầu làm nghề giáo viên. Làm nghề giáo có một kiến thức khá rộng và hiểu biết chuyên sâu
và uyên thâm về một lĩnh vực nào đó, đồng thời lại có những hiểu biết nhất định về văn hoá xã
18

hội giúp họ thành công trong giao tiếp ứng xử với mọi người. Nhiều năm nay xã hội cho rằng dạy
học là một nghề cao quý nhất dành cho phụ nữ (Charter,1963; Lortie, 1975; Janier & Little, 1986)
và thực tế cũng nhiều phụ nữ tham gia vào lĩnh vực giáo dục, đặc biệt là lĩnh vực giáo dục mầm
non và giáo dục tiểu học.
– Tính độc lập/ tự chủ. Khi xét về tính độc lập/ tự chủ, chúng ta thấy các giáo viên có thể có
được sự tự do đáng kể trong việc tổ chức các hoạt động dạy học cho học sinh và tổ chức môi trường
lớp học của mình, trong việc xác định nội dung bài dạy, chọn lựa phương pháp dạy học phù hợp với
đối tượng trẻ em mà họ đảm nhận, sử dụng trang thiết bị dạy học theo độ tuổi. Họ ít bị sự giám sát
thường xuyên của những người ngoài ngành, hay nói một cách khác, sản phẩm của giáo dục khó
nhận được phản hồi ngay lập tức từ phía người hưởng thụ – học sinh. Kết quả học tập của học sinh
được đánh giá nhanh nhất là sau một học kì năm học hay sau một năm học. Còn nếu xét về sản
phẩm giáo dục lâu dài thì hết một cấp học hay bậc học: sản phẩm của giáo dục mầm non được thể
hiện ở kết quả phát triển toàn diện của trẻ và vào học tốt ở Tiểu học; sản phẩm của giáo dục tiểu học
là kết quả học tập của trẻ cuối lớp 5; và kết quả học tập của học sinh cuối lớp 12 là sản phẩm của cả
quá trình giáo dục phổ thông… Sản phẩm giáo dục là kết quả của một quá trình thực hiện lâu dài,
phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn. Mặt khác ảnh hưởng tác động của giáo dục không phải từ một
giáo viên mà là từ nhiều giáo viên của bậc học, cấp học khác nhau, từ nhiều phía (xã hội, cộng
đồng, gia đình, bạn bè, hệ thống chính trị – xã hội, hệ thống truyền thông…), nhiều người và mỗi

người lại có những ảnh hưởng tác động riêng biệt, độc lập đến người học trò.
Quy tắc “độc lập” là một trong những đặc tính chắc chắn tồn tại trong văn hoá dạy học nhưng
cũng chỉ có tính tương đối, bởi người giáo viên chịu sự lãnh đạo của nhà trường, chính quyền địa
phương như việc thực hiện nội dung giảng dạy phải theo chương trình từ trên xuống, theo quy chế
nhất định và đảm bảo thời lượng đã quy định. Đồng thời giáo dục là vấn đề chính trị nhạy cảm, các
giáo viên thường bị sức ép từ nhiều phía: xã hội, cộng đồng, phụ huynh và đôi khi ngay cả từ chính
học sinh (kết quả học tập thấp của học sinh đôi khi còn do học sinh lười học, không chịu học hoặc
do hạn chế về khả năng học tập của trẻ, yếu tố tâm lí cá nhân học sinh, hoàn cảnh gia đình…). Thực
tế người giáo viên không được tự chủ hoàn toàn trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục của mình.
– Tính trách nhiệm. Sản phẩm của quá trình giáo dục lại được sử dụng trong toàn xã hội và có
tác động không nhỏ đến sự phát triển chung của toàn xã hội. Khi xét về mặt này, trách nhiệm của
người làm nghề giáo viên lại rất nặng nề. Người giáo viên phải đảm bảo chất lượng dạy học và giáo
dục học sinh khi ở trường và phát triển năng lực của thế hệ trẻ đáp ứng nhu cầu xã hội không ngừng
thay đổi. Đồng thời trách nhiệm của giáo viên trước đứa trẻ, trước phụ huynh, trước cộng đồng và
trước xã hội về sự phát triển lâu dài và bền vững của trẻ trong tương lai. Đó là trách nhiệm giáo dục
nhân cách cho trẻ, đạo lý làm người, về kỹ năng sống và khả năng thích nghi của trẻ trong mọi hoàn
cảnh thay đổi, năng lực nhận thức và sáng tạo của trẻ, sự phát triển khoẻ mạnh về tinh thần và thể
chất của thế hệ trẻ.
Mỗi bậc học, cấp học lại có những đặc thù hoạt động sư phạm riêng tùy thuộc vào đối tượng
phục vụ.
– Tính chuyên nghiệp của nghề giáo viên mầm non
+ Người mẹ có thể rất mệt mỏi khi một mình chăm sóc, nuôi dưỡng và dạy dỗ một đứa con
của mình: nếu có đứa con nhanh nhẹn, hiếu động, thông minh thì lại mệt mỏi theo một kiểu; nhưng
nếu có đứa con hiền lành, chậm chạp về nhiều mặt thì lại lo lắng, ưu phiền và mệt mỏi theo kiểu
19

khác. Đấy là chưa kể nhiều ông bố bà mẹ lại quá kì vọng vào định hướng phát triển con mình trở
thành người như thế này hay thế khác thì sự vất vả chăm sóc và nuôi dạy con lại càng tăng thêm gấp
nhiều lần. Nhiều người phải thừa nhận việc gửi con đi học ở trường ngay từ nhỏ là tạo điều kiện cho

đứa trẻ phát triển tốt, đồng thời cũng tạo điều kiện cho bố mẹ yên lòng khi tham gia vào các hoạt
động nghề nghiệp và hoạt động xã hội khác. Điều này chứng tỏ giáo viên mầm non có sự chuyên
nghiệp trong công việc của mình.
+ Chính vì vậy, dường như ai cũng thừa nhận sự thật là nghề dạy trẻ mầm non là một nghề
vất vả nhất trong các nghề dạy học, bởi nó đòi hỏi những người trong nghề phải có cách suy nghĩ
trong sáng, khả năng phản ứng nhanh, sức khoẻ tốt và luôn luôn có thể đối đầu với những thách
thức/ sức ép của công việc đối với sự an toàn về sức khỏe của trẻ, sự thay đổi và tốc độ phát triển
nhanh, khả năng giao tiếp với trẻ nhỏ…). Giáo viên mầm non nhiều khi buộc phải chấp nhận nhiều
yêu cầu khác nhau từ phía xã hội: ngoài làm việc thường xuyên với trẻ hàng ngày, họ còn phải làm
việc với phụ huynh, với cộng đồng như là người tuyên truyền về phương pháp nuôi dạy trẻ hay là
nhà tư vấn giáo dục; Họ phải tự xoay xở trong điều kiện làm việc khó khăn thiếu thốn về cơ sở vật
chất, trang thiết bị dạy học; chăm lo chế độ dinh dưỡng và an toàn thực phẩm cho trẻ; và không
ngừng học tập nâng cao trình độ và năng lực nghề… Với giáo viên mầm non ở vùng cao, có khi còn
phải đến từng nhà người dân tuyên truyền phụ huynh cho trẻ ra lớp, hàng ngày gọi trẻ đi học, giao
tiếp với trẻ đôi khi bằng tiếng địa phương, sự khác biệt về ngôn ngữ tạo nên rào cản lớn ảnh hưởng
đến công việc của họ, điều kiện đi lại và làm việc rất khó khăn… Giáo viên mầm non thường là người dễ thích nghi và đáp ứng khá tốt những yêu cầu mới của xã hội và của ngành, những điều kiện
khó khăn thực tế của địa phương và mẫn cán đối với công việc. Các giáo viên mầm non là những
người luôn có trách nhiệm cao với công việc mà họ đảm nhận.
+ Theo Luật giáo dục quy định, Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non gọi là giáo viên
(điều 61 chương IV, mục 1). Giáo viên mầm non là những người thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc
giáo dục trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi trong trường mầm non, nhà trẻ, trường mẫu giáo. Song bất
chấp môi trường làm việc vất vả và đầy áp lực của công việc (tính mạng và sự an toàn của trẻ em;
nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ khoẻ mạnh, phát triển tốt; giáo dục trẻ ngoan ngoãn, tự tin, thông minh và
sáng tạo…), nhưng không phải lúc nào giáo viên mầm non cũng được xã hội đánh giá cao và được
tôn trọng. Trong cuốn sách của mình, Lindberg và Swedlow (1985, tr. 283) đã định nghĩa: “Một người giáo viên chuyên nghiệp là người cam kết sẽ duy trì và phát triển xã hội thông qua việc giúp những
người khác có được chất lượng cuộc sống khá hơn”. Họ còn cho rằng, người giáo viên chuyên nghiệp
cần đáp ứng được các yêu cầu về chuyên môn thông qua việc học tập và làm việc thực tế. Ward
(1987, tr.7) cũng đưa ra một vài nhận xét hết sức đúng đắn về giáo viên chuyên nghiệp trong lĩnh vực
giáo dục mầm non: “Các nhà chuyên nghiệp là những người có khả năng thực hiện được những công
việc hết sức phức tạp và có giá trị xã hội mà đây là những công việc đòi hỏi sự thành thạo chuyên

môn”. Một đặc điểm khác của giáo viên mầm non chuyên nghiệp là không ngừng tiếp thu kiến thức
mới để có được nền tảng kiến thức vững chắc trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Lindberg và
Swedlow đã viết (1985, tr. 283): “là những người làm việc trong một nghề mà họ có ý thức tôn trọng
đối với những điều mình làm… và không ngừng nỗ lực để duy trì và phát triển nhằm thoả mãn những
tiêu chuẩn cao hơn không chỉ vì bản thân họ mà còn vì nghề họ đang làm”. Watts đưa ra một số ý
kiến về tính chuyên nghiệp mà theo ông, giáo viên mầm non và các nhân viên khác sẽ thực hiện công
việc của mình một cách chuyên nghiệp, đặc biệt là:
• Thành thạo chuyên môn và có kiến thức chuyên ngành.
20

• Cam kết tiếp tục nghiên cứu và thực nghiệm/ trải nghiệm để không ngừng nâng cao
kiến thức chuyên môn.
• Có lòng vị tha, làm việc vì một xã hội tốt đẹp hơn.
• Không ngừng tiếp tục phát triển bản thân.
• Có trách nhiệm trong việc tiếp thu giúp ngành phát triển.
Chính vì vậy giáo viên mầm non được đào tạo theo một chương trình riêng mang tính đặc thù
công việc để có thể đảm đương được công việc chăm sóc giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi.
– Các kỹ năng, tính cách và thói quen cần thiết của người giáo viên mầm non.
Người giáo viên chuyên nghịêp trong lĩnh vực giáo dục mầm non cần phải có các kĩ năng,
tính cách và thói quen đặc trưng. Nói một cách ngắn gọn, giáo viên mầm non chuyên nghiệp trong
lĩnh vực này cần có:
+ Lòng yêu trẻ và lòng vị tha. Trước hết giáo viên mầm non phải là người có lòng yêu trẻ
thực sự và mong muốn chăm sóc giáo dục trẻ phát triển. Tình yêu thương trẻ em giúp giáo viên
vượt qua những khó khăn trở ngại trong công việc, từ đó có những đức tính cần thiết như: kiên trì
và nhẫn nại, cẩn thận và chu đáo trong chăm sóc giáo duc trẻ em; nhẹ nhàng và thân thiện khi giao
tiếp với các em. Trẻ em trong một lớp rất đa dạng, mỗi cháu một vẻ, một tính cách, do đó giáo viên
mầm non phải là người có lòng vị tha, rộng lượng với các em, cũng như sẵn sàng chia sẻ và hợp tác
với các phụ huynh để chăm sóc giáo dục trẻ.
+ Tính đa dạng. Trước hết giáo viên mầm non là người hấp dẫn, vui tươi, có sự đa dạng và

linh hoạt, nhờ đó mà giáo viên nhanh chóng thích nghi với các hoàn cảnh, điều kiện làm việc với
các trẻ khác nhau.
+ Tính lạc quan. Là người luôn có cách nhìn lạc quan về bản thân, luôn tự hào với việc
làm trong lĩnh vực mầm non và tự hào về nghề giáo dục mầm non. Đồng thời là người lạc quan tin
tưởng vào công việc và sự thành công trong công việc của mình, đem lại sự tốt đẹp cho sự phát
triển của trẻ và xã hội.
+ Có khả năng gây ảnh hưởng tốt đến sự phát triển trẻ em. Là một người thực sự thương
yêu trẻ và sẵn sàng bảo vệ trẻ em; khuyến khích, hướng dẫn trẻ học tập và vui chơi; tháo vát, linh
hoạt và sáng tạo, gương mẫu trước mặt trẻ và tạo được môi trường học tập thân thiện đối với trẻ;
Nhân hậu và có lòng vị tha đối với mọi người. Mặt khác, giáo viên mầm non là người có ảnh hưởng
lớn đến các thành viên trong cộng đồng và phụ huynh để giáo dục các em.
+ Có kỹ năng giao tiếp tốt với mọi người. Là người có kĩ năng giao tiếp tốt với trẻ và với
mọi người xung quanh, bởi giáo viên mầm non thường xuyên giao tiếp với trẻ, với các thành viên
trong gia đình của trẻ, với giáo viên và các nhân viên khác trong trường, với mọi người trong cộng
đồng hay với các Ban ngành. Kỹ năng giao tiếp của giáo viên mầm non sẽ giúp tạo được niềm tin tưởng ở người khác, đặc biệt là với trẻ em. Giao tiếp với mọi người thân thiện và chân thành.
+ Có khả năng tạo được sự ủng hộ, sự hỗ trợ. Trước hết là khơi gợi được sự tích cực của
trẻ tham gia vào các hoạt động trong lớp; tuyên truyền, kêu gọi và lôi cuốn được sự ủng hộ của các
bậc phụ huynh, mọi người trong cộng đồng tham gia vào quá trình giáo dục trẻ như: sự phối hợp
của phụ huynh và mọi người trong cộng đồng vào quá trình chăm sóc giáo dục trẻ; nhận được sự
ủng hộ về tinh thần và vật chất đóng góp vào xây dựng nhà trường… Giáo viên mầm non không chỉ

21

đóng vai trò trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, dạy dỗ trẻ, mà còn là nhà tư vấn, nhà tuyên truyền về
phương pháp chăm sóc, nuôi dạy và giáo dục trẻ ở các lứa tuổi trong lĩnh vực mầm non.
+ Có khả năng lập kế hoạch và xây dựng các bài dạy phù hợp với đối tượng trẻ em nhỏ
tuổi. Một người giáo viên mầm non chuyên nghiệp phải có khả năng chọn lựa và đưa ra các bài học
phù hợp với từng đối tượng/ tất cả trẻ em lứa tuổi mầm non không phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính,
môi trường phát triển khác nhau, nguồn gốc tôn giáo, sắc tộc, tình hình tài chính, văn hoá gia đình,

quan điểm chính trị… Giáo viên mầm non không có sự phân biệt đối xử với các trẻ mà luôn tôn
trọng trẻ và sự đa dạng của các trẻ trong lớp, đồng thời tổ chức môi trường giáo dục thân thiện, phù
hợp với sự phát triển của các em.
+ Biết chấp nhận, thấu hiểu. Một người giáo viên mầm non cần phải biết chấp nhận các
giá trị, sự đa dạng về văn hoá, các quan điểm và quyền lợi của những người khác và thấu hiểu nhu
cầu, trình độ và khả năng của trẻ, gia đình của trẻ, cộng đồng, xã hội. Mỗi trẻ em có nhu cầu riêng,
xuất phát từ những hoàn cảnh gia đình khác nhau đòi hỏi giáo viên mầm non chấp nhận và luôn
luôn thấu hiểu những nhu cầu riêng của các em và của gia đình các em, tôn trọng sự khác biệt của
trẻ, đồng thời cũng sẵn sàng chia sẻ những nhu cầu và sở thích của các em, hoàn cảnh riêng của gia
đình các em.
+ Có kỹ năng quan sát tốt. Đây là kỹ năng rất cần thiết để có thể hiểu được sự phát triển
cũng như cách học của trẻ, từ đó có thể đưa ra được cách tiếp cận trong giáo dục trẻ một cách phù
hợp nhất. Giáo viên mầm non cần có kĩ năng tìm hiểu đối tượng giáo dục/ trẻ em ở từng độ tuổi
khác nhau, biết quan sát và nhận ra những sự thay đổi khác thường ở trẻ, nhận ra sự tiến triển và
những thành công ở trẻ. Khả năng quan sát tinh tường và nhận ra sự thay đổi rất nhỏ ở trẻ là một kĩ
năng quan trọng cần hình thành ở giáo viên mầm non.
+ Có kỹ năng đưa ra quy định. Giáo viên mầm non đã có những nhận thức cần thiết về trẻ
em và có thể đưa ra những quy định phù hợp với chúng, buộc trẻ em phải học cách tuân thủ những
quy định chung ở lớp, ở nơi công cộng; những quy tắc ứng xử đối giữa con người với con người,
giữa con người với môi trường sống và có biện pháp giúp trẻ em tuân thủ những quy định chung
nơi công cộng.
+ Có khả năng tạo ra sự tiếp nối. Giáo viên mầm non cần có khả năng tạo ra sự tiếp nối
cho trẻ từ nền giáo dục gia đình với giáo dục nhà trường, nền tảng giáo dục mầm non với giáo dục
tiểu học sau này; kết nối giáo dục nhà trường với xã hội, với môi trường sống. Cần tạo ra sự bổ
sung chứ không phải là sự lặp lại hay sự thay thế những kiến thức sẵn có từ trước ở trẻ em.
+ Có kiến thức, kĩ năng và thói quen lập kế hoạch, tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ
mầm non, biết đánh giá đúng sự phát triển của trẻ trong quá trình giáo dục để điều chỉnh các
chương trình giáo dục phù hợp với sự phát triển của trẻ nhỏ. Khi thiết kế chương trình và kế hoạch
giáo dục trẻ mầm non, giáo viên phải căn cứ trên sự hứng thú, nhu cầu, sở thích và vốn kinh
nghiệm, hiểu biết sẵn có của trẻ, kịp thời điều chỉnh quá trình dạy học cho phù hợp với đặc điểm cá

nhân trẻ và với yêu cầu chung của xã hội.
+ Có khả năng quản lí học sinh. Giáo viên mầm non cần có khả năng quản lí học sinh, bởi
trong một lớp có nhiều trẻ với các nhu cầu và sở thích khác nhau, đặc điểm phát triển tâm sinh lí
riêng của từng trẻ, đặc thù học tập riêng của từng trẻ… Quản lí trẻ được thể hiện qua việc nắm rõ số
lượng học sinh của lớp và đặc điểm phát triển của các em, nhu cầu và sở thích của từng trẻ, thiên
hướng phát triển của chúng… để từ đó có những biện pháp giáo dục phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

22

Vậy giáo viên mầm non là người chăm sóc và giáo dục trẻ, là người mẹ thứ hai của các em,
vừa là bác sỹ vừa là nghệ sỹ; đồng thời giáo viên mầm non còn là nhà tư vấn giáo dục, nhà tổ chức
quản lí lớp học, đôi khi còn là người làm công tác tuyên truyền viên trong công tác giáo dục trẻ tại
cộng đồng.
3.2. Đặc thù hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non
Đối với trẻ mầm non, hoạt động học của chúng mang tính đặc thù riêng. Trẻ “học” và lĩnh hội
các tri thức tiền khoa học, dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, thông qua quá trình giáo dục
nhằm phát triển các mặt: thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội, thẩm mỹ trên cơ sở đó,
hình thành và phát triển những tiềm năng, năng lực người nói chung, những kỹ năng sống cần thiết
cho bản thân, phù hợp với yêu cầu của cộng đồng, địa phương, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở tiểu
học. Trẻ mầm non “học” nhận biết sự vật hiện tượng và hình thành các khái niệm tốt nhất qua các
hoạt động trải nghiệm, qua khám phá, tìm tòi dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên. Mặt
khác, trẻ mầm non “học mà chơi, chơi mà học”- đó là bản chất học của trẻ mầm non. Nhận thức của
trẻ đi từ thử nghiệm đến nhận biết, hiểu và trải nghiệm vào cuộc sống để biến thành vốn hiểu biết và
kinh nghiệm cá nhân. Trẻ mầm non chưa ý thức được mục đích hoạt động của mình, chơi hay là
học, nên thường thiếu chủ động, nhiều khi trẻ hành động mang tính bột phát, ngẫu hứng. Đồng thời
khả năng tự điều khiển bản thân của trẻ còn yếu. Do đó, để giúp trẻ nhận thức hay “học” được một
điều gì đó, người giáo viên cần có kế hoạch “dạy” cụ thể và linh hoạt nhằm bồi dưỡng khả năng
định hướng, phát triển tính chủ đích và tích cực nhận thức ở trẻ. Mặt khác việc học của trẻ cùng
cần phải thường xuyên ôn luyện và củng cố, liên hệ và vận dụng để việc học của trẻ gắn với thực tế,

trẻ hiểu được bản chất của sự vật hiện tượng, phía đằng sau của cuộc sống.
Trong hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non thì giáo viên và trẻ đều là chủ thể của hoạt
động. Song hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non có đặc điểm riêng, khác biệt hẳn với hoạt
động sư phạm của giáo viên của các bậc học khác, bởi đối tượng của hoạt động sư phạm của giáo
viên mầm non là trẻ em rất nhỏ, mới bắt đầu hình thành và phát triển những phẩm chất ban đầu của
nhân cách thông qua việc chăm sóc, giáo dục giữa cô với trẻ; và thông qua hoạt động giao tiếp (gồm
giao tiếp giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ). Đồng thời giáo viên tổ chức các hoạt động giáo dục đều phải
dựa vào phương thức học cơ bản của trẻ:
– Trẻ em học qua phương thức bắt chước;
– Trẻ em học qua thực hành, hành động, làm thí nghiệm/ thực nghiệm, trải nghiệm, chơi trò
chơi…
– Trẻ em học qua chia sẻ, trao đổi, thảo luận, trò chuyện…
– Trẻ em học qua suy ngẫm, suy luận, suy nghĩ và liên tưởng, liên hệ, phỏng đoán, để nêu ra
những nhận xét, nhận định hay kết luận, trình bày ý kiến giải thích hay lí giải về ý kiến đã nêu.
Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non gồm:
– Tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em dưới 6 tuổi nhằm phát triển tốt nhất về thể
chất, tinh thần và xã hội; Đưa ra những lời khuyên đúng đắn cho cha mẹ của trẻ về cách chăm sóc,
nuôi nấng, dạy dỗ và giáo dục trẻ tại gia đình có hiệu quả nhất, nhằm tạo ra một sự đồng nhất trong
quá trình giáo dục giữa nhà trường và gia đình.
– Xây dựng một môi trường học tập tích cực cho trẻ em và lập kế
hoạch dạy học và giáo dục trong đó sử dụng những nguyên vật liệu gần gũi ở địa phương và
phương pháp dạy học được thiết kế để đáp ứng nhu cầu học tập của trẻ.
23

– Giám sát trẻ trong các hoạt động chơi, hoạt động sáng tạo nhằm giúp trẻ phát triển tính tự
lập và tự tin, tính tò mò ham hiểu biết và thích khám phá; phát triển những thiên hướng cá nhân và
học cách ứng xử với mọi người. Giáo viên mầm non đưa ra những cơ hội học tập thông qua các
hoạt động chăm sóc và giáo dục cơ bản ở trường mầm non.
– Cung cấp các bữa ăn có đủ dinh dưỡng và ăn phụ. Hình thành ở trẻ những thói quen tốt về ăn

uống và rèn luyện nền nếp, thói quen vệ sinh cá nhân. Quan sát để nhận biết và phát hiện ra những
dấu hiệu mệt mỏi, ốm đau; những vấn đề thay đổi trong tình cảm/ cảm xúc của trẻ.
– Thiết kế và phát triển các hoạt động hằng ngày. Cân đối giữa thời gian tĩnh – động trong một
ngày, hoạt động chơi theo nhóm – cá nhân – cả lớp nhằm đảm bảo sự phát triển tốt cho trẻ.
– Thực hiện những đánh giá, giữ gìn những thành tích của lớp, viết báo cáo và tổ chức thực
hiện những công việc cá nhân và nhóm/ lớp. Giáo viên mầm non cũng có thể lôi cuốn phụ huynh
cùng tham gia vào quá trình giáo dục và phối kết hợp với phụ huynh, đồng nghiệp, hiệu trưởng, cán
bộ quản lí để giải quyết kịp thời những vấn đề có liên quan đến trẻ em.
Giáo viên mầm non là người có tác động trực tiếp đến sự phát triển nhân cách của trẻ em.
Bằng cách này hay cách khác, giáo viên mầm non tìm hiểu đặc điểm phát triển tâm sinh lí và đặc
điểm học của trẻ dưới 6 tuổi để tìm cách giúp trẻ phát triển toàn diện và hài hòa, hình thành những
giá trị như: tính sáng tạo, lòng tự trọng, sự tự tin, kĩ năng giao tiếp xã hội… và cũng rất quan trọng
nếu như giáo viên mầm non khơi gợi và duy trì được sự hứng thú và động cơ học tập của trẻ.
Giáo viên mầm non làm việc 8 tiếng/ ngày và 5 ngày/ tuần với trẻ em ở trường. Đồng thời,
giáo viên mầm non còn chịu nhiều áp lực về sự an toàn đối với tính mạng và sức khỏe của trẻ. Có
thể thấy, nghề giáo viên mầm non rất vất vả, nhưng ai đã làm nghề giáo viên mầm non cũng đều có
được những niềm vui và hạnh phúc khi thấy trẻ em thay đổi và lớn lên từng ngày. Sự thay đổi ở trẻ
em lứa tuổi này không chỉ sự lớn lên về mặt thể lực, mà ở sự thay đổi và phát triển những chức
năng tâm lí, sự lớn khôn về mặt nhận thức, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử xã hội…
Lao động của giáo viên mầm non thực sự là hoạt động sư phạm, do đó cần xem xét nó theo
cấu trúc hoạt động như sau:
3.2.1. Mục đích hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non
Theo Điều 2 của Luật Giáo dục của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: “Mục tiêu
giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi
dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc”. Đây chính là một định hướng quan trọng của nền giáo dục Việt Nam và lao động sư phạm
của người giáo viên ở bất kì bậc học nào, cấp học nào đều phục vụ theo mục tiêu đó.
Lao động sư phạm của giáo viên mầm non là loại hình lao động có ý nghĩa như là một yếu tố
xã hội góp phần “sáng tạo ra con người”, bước khởi đầu cải biến con người tự nhiên thành con

người xã hội, tạo dựng nên con người đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Sản phẩm của lao động đặc
thù này cũng tạo ra những nét khác biệt – đó là lao động sản xuất ra nhân cách, sản xuất ra giá trị
nhân bản với sự tổng hoà của các mối quan hệ xã hội. Lứa tuổi mầm non là giai đoạn đặt nền móng
ban đầu của hình thành nhân cách, do đó lao động sư phạm của giáo viên mầm non có một sắc thái
rất riêng, khác hẳn so với giáo viên của các bậc học khác là tạo bước khởi đầu quan trọng trong việc
hình thành phát triển nhân cách lâu dài sau này của con người mới.
24

3.2.2. Đối tượng hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non
Bất cứ loại hình lao động nào cũng có đối tượng tác động. Hoạt động lao động sư phạm của
giáo viên mầm non có đối tượng tác động rất đặc biệt – là trẻ em dưới 6 tuổi (72 tháng tuổi), là tuổi
bắt đầu hình thành nhân cách, lĩnh hội tri thức, phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất đạo đức con
người.
Đối tượng của giáo dục nói chung là con người. Đối tượng của giáo dục mầm non là trẻ em
trước tuổi đến trường (từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi). Thành quả lao động sư phạm của giáo viên mầm
non là sự phát triển tòan diện và hài hoà của đứa trẻ, mà sự phát triển đó lại phụ thuộc nhiều vào
đạo đức, trí tuệ, trình độ nghiệp vụ và nghệ thuật sư phạm, năng lực giao tiếp sư phạm của người
giáo viên. Ngoài ra sự phát triển của trẻ còn phụ thuộc vào những yếu tố khác như: môi trường gia
đình (văn hoá, giáo dục, kinh tế, lối sống…), trạng thái tâm lý, khả năng nhận thức hành vi, cách
ứng xử của trẻ và môi trường xã hội, nơi trẻ sinh ra và lớn lên.
Để thực hiện tốt hoạt động sư phạm mầm non, vai trò của người giáo viên mầm non thật
không đơn giản. Thực hiện được nó, đòi hỏi người giáo viên mầm non phải dựa trên cơ sở những tri
thức, kỹ năng chăm sóc giáo dục trẻ nhỏ, nắm vững những thành tựu khoa học tâm lý giáo dục hiện
đại về trẻ em mầm non, đồng thời phải am hiểu đặc điểm và trình độ phát triển về mọi mặt của trẻ
em lứa tuổi này.
Theo K.Đ.Usinxki: “Muốn giáo dục con người về mọi phương diện thì trước hết phải hiểu
con người về mọi phương diện”. Như vậy muốn đạt được hiệu quả dạy dỗ và giáo dục như mong
muốn thì giáo viên phải nghiên cứu và hiểu rất rõ các đặc điểm phát triển của trẻ, lựa chọn đúng
những tác động sư phạm mềm dẻo, phù hợp với từng đối tượng, phát huy tối đa tiềm năng của trẻ

và vai trò chủ đạo của mình.
3.2.3. Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm non
Mỗi nghề có đối tượng khác nhau, công cụ và sản phẩm lao động khác nhau. Công cụ lao động
sư phạm của giáo viên mầm non chính là nhân cách của người giáo viên. Giáo viên có công cụ đặc
biệt đó là trí tuệ và phẩm chất của mình. Nhân cách của giáo viên như là một công cụ lao động thực
sự, nó sẽ phát huy tác dụng mạnh mẽ khi giáo viên có sức thuyết phục lớn đối với trẻ và những người
xung quanh. Sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ là sản phẩm giáo dục.
Để đảm bảo chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, giáo viên mầm non không ngừng phấn đấu
vươn lên. Trước hết giáo viên phải có năng lực chọn lựa tri thức cơ bản, hiện đại, thiết thực, phù
hợp với mục tiêu giáo dục trẻ mầm non, không ngừng nâng cao trình độ của bản thân, hoàn thiện
nhân cách, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, độc lập sáng tạo, đặc biệt học hỏi, tìm hiểu các
phương pháp dạy học hiện đại, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học tiên tiến để truyền tải
kiến thức tới trẻ bằng con đường ngắn nhất và hiệu quả nhất. Để giáo dục trẻ mầm non có hiệu quả
thì giáo viên mầm non hiểu và tổ chức các hoạt động chủ đạo cho trẻ theo từng độ tuổi phù hợp: với
trẻ dưới 1 tuổi là hoạt động giao lưu cảm xúc; trẻ từ 1 – 3 tuổi là hoạt động với đồ vật; trẻ từ 3 – 6 tuổi
là hoạt động vui chơi.
3.2.4. Sản phẩm lao động sư phạm của giáo viên mầm non
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm
mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành
25

NGHỀ GIÁO VIÊN MẦM NONXu thế hội nhập và toàn thế giới hóa, nền kinh tế thị trường tăng trưởng mạnh tạo nên sự biến hóa vềnhu cầu giáo dục của xã hội. Nền kinh tế tài chính càng tăng trưởng thì yên cầu về dịch vụ chăm nom, giáo dụctrẻ lứa tuổi mầm non ngày càng tăng, nhất là chất lượng giáo dục trẻ mầm non. Khác với vài chụcnăm trước đây, chỉ có duy nhất mạng lưới hệ thống những trường mầm non công lập, thì ngày này mô hình cáctrường, lớp mầm non tư thục, nhóm trẻ mái ấm gia đình chất lượng cao ngày càng tăng rất nhanh và mạnh, đặc biệtở những thành phố lớn, đã phân phối được phần nào nhu yếu của đại bộ phận cha mẹ có mức thunhập từ trung bình khá trở lên. Hệ thống trường mầm non tư thục sinh ra đã san sẻ được gánh nặngvề mối lo đưa trẻ ở độ tuổi mầm non tới trường. Việc xã hội hóa giáo dục, lan rộng ra những loại hìnhtrường, lớp đã góp thêm phần lôi cuốn trẻ mầm non trong độ tuổi đến trường ; phân phối được nhu yếu gửitrẻ rất lớn lúc bấy giờ trong khi còn thiếu nhiều cơ sở giáo dục mầm non ( GDMN ) công lập ; góp phầnlàm không thay đổi xã hội, tạo thuận tiện cho cha mẹ những cháu yên tâm thao tác ; tạo việc làm cho một bộphận giáo viên mầm non và một số ít lao động khác … Ngành giáo dục, trong đó bậc giáo dục mầmnon không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng, cung ứng được nhu yếu ngày càng tăng của xã hội. Trong nhà trường, giáo viên là người trực tiếp đưa những nội dung giáo dục đến với trẻ theotừng lứa tuổi đơn cử. Phẩm chất đạo đức, trình độ nhận thức và năng lực tư duy phát minh sáng tạo của học tròkhông chỉ nhờ vào vào chương trình và sách giáo khoa, vào môi trường học tập ở nhà trường màphụ thuộc nhiều vào chính phẩm chất và nhân cách, trình độ trình độ và năng lượng kinh nghiệm tay nghề củagiáo viên. Điều này đã được khẳng định chắc chắn tại Hội nghị Quốc tế “ Bàn về giáo dục cho thế kỷ XXI ” tạiGiơnevơ : “ Muốn có một nền giáo dục tốt, cần phải có những giáo viên tốt. Giáo viên là nhân tốquyết định chất lượng giáo dục ”. Unesco đánh giá và nhận định rằng : “ Quan niệm dạy học phải được coi là mộtnghề ”. Thực sự đây là một bước tiến quan trọng về nhận thức cũng như sự tăng trưởng của bản thânviệc dạy học trong thế kỷ 20. Đồng thời khuyến nghị của Unesco về nghề dạy học cho rằng, dạy họcvừa là khoa học vừa là nghệ thuật và thẩm mỹ, vì nội dung giáo dục không ngừng thay đổi và những đổi khác đóbuộc người giáo viên không ngừng nâng cao trình độ của bản thân về cả tri thức lẫn kiến thức và kỹ năng dạyhọc. Theo quan điểm sư phạm trong nước, quy trình giáo dục thực ra là quy trình tương tác giữangười dạy và người học. Người dạy đóng vai trò là người tổ chức triển khai những hoạt động giải trí dạy học và giáodục, còn người học là chủ thể của hoạt động giải trí dạy học tham gia một cách tích cực nhằm mục đích tìm hiểu và khám phá vàkhám phá sự vật hiện tượng kỳ lạ xung quanh, thu nhận những hiểu biết về đặc thù của sự vật hiệntượng và thực chất của chúng. Giáo viên cần có những kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp sư phạm nhất định đểcó thể hoàn thành xong tốt trách nhiệm dạy học và giáo dục trên cơ sở những kiến thức và kỹ năng, kĩ năng và kinhnghiệm nghề nghiệp mà họ tích luỹ được từ quy trình học tập và thao tác. Sự thành thạo những kỹnăng sư phạm giúp giáo viên mầm non nhanh gọn đạt được những tiềm năng giáo dục theo nhưquyết định 55 : “ Giúp trẻ tăng trưởng về sức khỏe thể chất, tình cảm, trí tuệ, nghệ thuật và thẩm mỹ, hình thành những yếu tốđầu tiên về nhân cách, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ vào lớp 1 ”. Chương 1 : HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON1. KHÁI NIỆM VỀ NGHỀ VÀ NGHỀ GIÁO VIÊN MẦM NON1. 1. Nghề là gì ? Xưa nay chọn nghề vẫn được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất so với mỗingười. Nhưng ý niệm về ngành nghề cũng như vị trí của chúng trong xã hội thì luôn thay đổiqua những quy trình tiến độ tăng trưởng lịch sử vẻ vang và lúc bấy giờ cũng đang có những dịch chuyển lớn. Có nhiều quanniệm khác nhau về nghề. Có người cho rằng, nghề là một việc làm mà nhờ đó con người có thunhập kinh tế tài chính để nuôi sống bản thân và mái ấm gia đình, hoặc nghề là một việc làm người ta theo đuổinhằm thoả mãn những nhu yếu về niềm tin và vật chất của bản thân. Theo một số ít quan điểm khác thì, những trình độ có những đặc thù chung, gần giống nhauđược xếp thành một nhóm trình độ và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyênmôn cùng loại, gần giống nhau về 1 số ít đặc thù nhất định. Chuyên môn là một dạng lao độngđặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và ý thức của mình để tác động ảnh hưởng vào nhữngđối tượng đơn cử nhằm mục đích đổi khác những đối tượng người dùng đó ship hàng vào mục tiêu, nhu yếu và quyền lợi củacon người. Theo Wikipedia ( mục từ profession ) thì một việc làm được coi là một nghề khi đã qua cácđiểm mốc tăng trưởng như sau : 1 / việc làm đó phải toàn thời hạn ; 2 / việc làm đó được giảng dạy quanhà trường ; 3 / việc làm đó được đào tạo và giảng dạy qua trường ĐH ; 4 / hiệp hội địa phương của những ngườilàm việc làm đó được xây dựng ; 5 / hiệp hội vương quốc được xây dựng ; 6 / những quy tắc ứng xử đạo đứctrong việc làm được thiết lập ; 7 / những pháp luật nhà nước về chứng từ hành nghề được phát hành. Xétvề thực chất, một việc làm được coi là một nghề nghĩa là việc làm đó không chỉ qua một quá trìnhđào tạo ở nhà trường và triển khai xong trong quy trình hành nghề, mà còn vì việc làm đó có vai trò quantrọng và giá trị so với sự tăng trưởng của cá thể và xã hội. Một việc làm được thừa nhận là một nghềkhi người làm nghề đó có vị thế xã hội nâng cao, được xã hội tin cậy và tôn trọng. Nghề là một nghành hoạt động giải trí lao động mà trong đó, nhờ được giảng dạy, con người có đượcnhững tri thức và kỹ năng và kiến thức thiết yếu để làm ra những loại sản phẩm vật chất hay ý thức nào đó, đápứng được những nhu yếu của xã hội. Đồng thời trong quy trình hoạt động giải trí nghề nghiệp, cá nhânngười lao động lại liên tục rèn luyện học tập, tu dưỡng phấn đấu, tăng trưởng và triển khai xong kĩ năngnghề nghiệp của bản thân. Trong mỗi nghề có những trình độ, môn là một nghành lao động sảnxuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lượng sức khỏe thể chất và ý thức của mình làm ra những giá trị vậtchất ( thực phẩm, lương thực, công cụ lao động … ) hoặc giá trị ý thức ( sách báo, phim ảnh, âmnhạc, tranh vẽ … ) với tư cách là những phương tiện đi lại sống sót và tăng trưởng của xã hội. Các nghề trong xã hội không phải là cái gì đó cố định và thắt chặt, không bao giờ thay đổi, cứng ngắc. Các nghề cũnggiống như một khung hình sống, có sinh thành, có tăng trưởng và có diệt vong hoặc đổi khác theo tiến trìnhphát triển của xã hội và công nghệ tiên tiến. Chẳng hạn, do sự tăng trưởng của khoa học kỹ thuật, con người đãsáng tạo ra máy xay lúa chạy bằng điện, sửa chữa thay thế cho xay lúa thủ công bằng cối xay tay bằng sứcngười, tức là nghề nông nghiệp đã được thay thế sửa chữa bằng những loại máy ( máy cày, máy làm cỏ, máy gặtđập, máy xay xát … ) làm giảm nhẹ sức lao động của con người, giảm ngân sách thời hạn và tăng năngsuất loại sản phẩm. Nhiều nghề cũ mất đi hoặc đổi khác về nội dung cũng như về chiêu thức sản xuấttạo ra mẫu sản phẩm. Trước đây, nghề bằng tay thủ công mĩ nghệ mây tre đan đã rất tăng trưởng với việc đan rổ rá bằng trephục vụ đời sống của con người bộc lộ tính phổ cập trong xã hội Nước Ta. Ngày nay khi côngnghệ nhựa và máy móc tăng trưởng, người ta đã sản xuất ra rổ rá bằng nhựa, bằng Inox làm cho nghềđan lát bằng tay thủ công đã giảm đi đáng kể, ngành công nghiệp sản xuất đồ gia dụng sinh ra và ngày càngphát triển mạnh, tạo ra sự phong phú loại sản phẩm và mẫu mã, sản phẩm & hàng hóa đẹp và bền, bảo vệ vệ sinh chongười sử dụng, đồng thời quy trình tạo loại sản phẩm nhanh, sản lượng lớn. Do những chuyển biến can đảm và mạnh mẽ của nền kinh tế tài chính ở Nước Ta trong nhiều năm gần đây, từ cơchế kế hoạch hoá tập trung chuyên sâu sang cơ chế thị trường, đã làm biến hóa thâm thúy cơ cấu tổ chức nghề nghiệp trongxã hội. Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức, sức lao động của con người cũngđược nhìn nhận là một thứ hàng hoá. Giá trị của thứ hàng hoá sức lao động này tùy thuộc vào trìnhđộ, kinh nghiệm tay nghề, năng lực về mọi mặt của người lao động. Xã hội tiếp đón hàng hoá này như thế nàolà do “ hàm lượng chất xám ” và “ chất lượng sức lao động ” quyết định hành động. Khái niệm chờ đón phân côngcông tác ( như thời kì bao cấp ) đã mất dần trong quy trình quản lý và vận hành cơ chế thị trường, thay vào đó làsự cạnh tranh đối đầu lành mạnh bằng những phẩm chất đạo đức và năng lượng nghề nghiệp tương thích với môitrường lao động. Ngày nay người lao động phải dữ thế chủ động chuẩn bị sẵn sàng những tiềm lực bản thân, traudồi bản lĩnh cá thể, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề, có năng lực thích ứng và năng động, linh động để tự tạo ra việc làm cho chính mình. Hai khái niệm nghề và trình độ có tương quan đến nhau, nhiều khi người ta dễ lẫn lộn, cầnđược xác lập rõ. Khi nói đến nghề thiết kế xây dựng, có những trình độ sâu khác nhau như : kiến thiết xây dựng dândụng ( nhà cửa, công xưởng … ), thiết kế xây dựng giao thông vận tải ( kiến thiết xây dựng cầu, kiến thiết xây dựng đường, xây dựngcảng đường thuỷ, kiến thiết xây dựng cảng hàng không quốc tế … ). Cũng như vậy, khi nói đến ngành giáo dục có : giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, giáo dục ĐH với những chuyên ngànhkhoa học khác nhau. Mỗi một nghề có những yên cầu trình độ sâu nhằm mục đích xử lý những vấnđề riêng đặc trưng của mỗi nghề. Do đó : – Nghề : là một nghành nghề dịch vụ hoạt động giải trí lao động mà trong đó, nhờ được giảng dạy một cách khoa họcvà theo quá trình đào tạo và giảng dạy nghề với những tiêu chuẩn nhất định, con người có được những tri thức, kiến thức và kỹ năng để làm ra những loại sản phẩm vật chất hay ý thức nào đó, phân phối được những nhu cầucủa xã hội. Nghề gồm có nhiều trình độ và thời nay nghề ngày càng chuyên môn hóa caotheo nhu yếu và sự phân công lao động xã hội. Thậm chí sự chuyên môn hóa mang tính toàn thế giới, được biểu lộ sự phân công hóa trong sản xuất mẫu sản phẩm công nghệp, ví dụ : loại sản phẩm máy tínhgồm nhiều linh phụ kiện được sản xuất ở những nước khác nhau như : Trung Quốc, Nước Hàn, ĐàiLoan, Ấn Độ … – Chuyên môn : là một nghành lao động sản xuất hẹp mà ở đó, con người bằng năng lượng thểchất hay ý thức của mình làm ra những giá trị vật chất ( thực phẩm, lương thực, vật dụng, công cụlao động … ) hoặc giá trị ý thức ( sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ, khu công trình kiến trúc, tácphẩm nghệ thuật và thẩm mỹ, thậm chí còn cả những sáng tạo độc đáo … ) với tư cách là những phương tiện đi lại sống sót và pháttriển của xã hội. Người ta đã thống kê trên quốc tế lúc bấy giờ có trên 2000 nghề với hàng chục nghìnchuyên môn khác nhau. Ở Liên Xô trước đây, người ta đã thống kê được 15.000 trình độ, còn ởMỹ, số lượng này lên đến 40.000 trình độ. Vì mạng lưới hệ thống nghề nghiệp trong xã hội có số lượng nghềvà trình độ nhiều như vậy, nên người ta gọi hế thống những nghề đó là “ Thế giới nghề nghiệp ”. Nhiều nghề đã có ở nước này, nhưng chưa Open ở nước khác. Mặt khác do có sự tăng trưởng mạnhmẽ của khoa học và công nghệ tiên tiến, nên có sự dịch chuyển những nghề trong xã hội. Nhiều nghề cũ hoàn toàn có thể mấtđi hoặc biến hóa về nội dung và giải pháp sản xuất, thay vào đó là những nghề mới Open vàphát triển theo hướng đa dạng hóa. Theo số lượng thống kê gần đây, trên quốc tế mỗi năm có tới 500 nghề bị đào thải và có khoảng chừng 600 nghề mới Open. Tùy theo tính phức tạp của mỗi nghề vàchuyên môn sâu mà sự độc lạ về huấn luyện và đào tạo có những đặc thù riêng. Ở Nước Ta, mỗi năm ở cả 3 hệđào tạo ( dạy nghề, tầm trung chuyên nghiệp và cao đẳng, ĐH ) giảng dạy xấp xỉ 300 nghề vớihàng nghìn trình độ khác nhau. 1.2. Nghề giáo viên là gì ? Giáo viên là nhà chuyên nghiệp trong dạy học và giáo dục, nghĩa là người đó có năng lực sửdụng kỹ năng và kiến thức trình độ nhiệm vụ vững vàng và kinh nghiệm tay nghề thực tiễn nhiều mẫu mã để hoàn toàn có thể đưara những phương pháp xử lí an toàn và đáng tin cậy và tương thích với những trường hợp đơn cử khác nhau ( về người học, về toàn cảnh / thực trạng ) vì quyền lợi của người học và đạo đức nghề nghiệp. Nghề giáo viên là một lĩnhvực hoạt động giải trí lao động trong mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân. Sau khi được đào tạo và giảng dạy ở những trường, khoasư phạm về giáo dục mầm non, sinh viên có được những phẩm chất và năng lượng ( gồm có kiến thứcvà kĩ năng nghề ) nhất định để hoàn toàn có thể trở thành giáo viên và hoàn toàn có thể tham gia vào giáo dục thế hệ trẻ, cung ứng được những nhu yếu của xã hội. Hệ thống giáo dục Nước Ta được pháp luật trong Luật Giáo dục ( 2005 ) ở “ Điều 4. Hệ thốnggiáo dục quốc dân : ( 1 ). Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục tiếp tục. ( 2 ). Các cấp học và trình độ giảng dạy của mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân gồm có : – Giáo dục đào tạo mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo ; – Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ; – Giáo dục đào tạo nghề nghiệp có tầm trung chuyên nghiệp và dạy nghề ; – Giáo dục đào tạo ĐH và sau đại học ( sau đây gọi chung là giáo dục ĐH ) huấn luyện và đào tạo trình độ caođẳng, trình độ ĐH, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sỹ ”. Vậy mạng lưới hệ thống giáo dục Quốc dân gồm những cấp học khác nhau và tương ứng với từng vị trícông việc của mình trong mạng lưới hệ thống giáo dục có những loại giáo viên như sau : Trường Đạihọc, TrườngCao đẳngĐào tạo trình độTiến sĩ, Thạc sĩGiáo viên giảngdạy ở những trườngđại học, Cao đẳnggọi là giảng viênĐào tạo cử nhânTrường Trunghọc phổ thôngTrường Trunghọc cơ sởTrường TiểuhọcTrường MầmnonGiáo dục học sinhTrung học phổ thôngGiáo dục học sinhTrung học cơ sởGiáo dục học sinhTiểu họcChăm sóc, giáo dụctrẻ em lứa tuổi mầmnonGiáo viên dạy ởcác trường Trunghọc gọi là giáoviên trung họccơ sởGiáo viên dạy ởcác trường phổthông cơ sở gọi làgiáo viên phổthông cơ sởGiáo viên dạy ở cáctrường Tiểu họcgọi là giáo viênTiểu họcGiáo viên chămsóc và giáo dục / ởcác trường mầmnon gọi là giáoviên mầm nonSơ đồ 1.1. Vị trí việc làm của giáo viên trong từng bậc học – Theo như điều 70 ( Luật giáo dục 2005 ), có lao lý “ Nhà giáo : ( 1 ). Nhà giáo là người làm trách nhiệm giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dụckhác. ( 2 ). Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây : – Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt ; – Đạt trình độ chuẩn được đào tạo và giảng dạy về trình độ, nhiệm vụ ; – Đủ sức khỏe thể chất theo nhu yếu nghề nghiệp ; – Lý lịch bản thân rõ ràng. ( 3 ). Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệpgọi là Giáo viên ; ở cơ sở giáo dục ĐH gọi là giảng viên ”. – Trong giáo dục, giáo viên là người tương hỗ trẻ nhỏ, học viên, sinh viên học tập và rèn luyệnphát triển nhân cách, hầu hết là ở trong nhà trường, ngoài những cũng hoàn toàn có thể là ở mái ấm gia đình hay trong hệthống giáo dục hội đồng. Giáo viên là người có trình độ trình độ sâu nhất định để hoàn toàn có thể thamgia hướng dẫn và trợ giúp người học trong quy trình dạy học. Nhưng đồng thời giáo viên cũng tựhọc tập, rèn luyện bản thân mình trong hoạt động giải trí lao động. Xét theo quy trình đào tạo và giảng dạy và tham giahoạt động nghề nghiệp, ta có : Giáo sinhGiáo viêntập sựGiáo viênchínhGiáo viêncao cấp – Giáo sinh : là những người đang học trong cơ sở đào tạo và giảng dạy nghề sư phạm, đang thực hành thực tế taynghề dưới sự giám sát của giáo viên hoặc người có trình độ sâu, có bằng cấp về trình độ vàcó nhiệm vụ nhất định. Ví dụ như giáo sinh giáo dục mầm non là học viên hay sinh viên ở cáctrường tầm trung, cao đẳng hoặc ĐH, đang thực hành thực tế giảng dạy dưới sự giám sát của giáo viênchính thức ở trường mầm non hoặc giảng viên hướng dẫn thực hành thực tế, có bằng cấp về chuyên mônnghiệp vụ giáo dục mầm non, có kinh nghiệm tay nghề nhất định trong giáo dục trẻ mầm non. – Giáo viên tập sự hoặc giáo viên mới vào nghề : là những người mới tốt nghiệp ở những cơ sởđào tạo nghề sư phạm theo trình độ sâu về giáo dục và khởi đầu tham gia hoạt động giải trí lao độngtrong nghành nghề dịch vụ giáo dục. Ví như : giáo viên mầm non mới tốt nghiệp mở màn tham gia hoạt độngnghề trong nghành nghề dịch vụ chăm nom giáo dục trẻ dưới 6 tuổi ở một trong những cơ sở giáo dục mầm non. – Giáo viên chính thức : là những người đã có trình độ giảng dạy nhất định về trình độ giáodục, có một quy trình tham gia thao tác tại cơ sở giáo dục và kinh nghiệm tay nghề thao tác nhất định đảmbảo cho việc làm chủ việc làm của mình. Ví dụ : giáo viên mầm non chính thức là người đã quagiai đoạn thử việc và được Hội đồng tuyển dụng nhìn nhận là đủ điều kiện kèm theo để trở thành giáo viênchính thức. Có những giáo viên sau vài năm phấn đấu đạt được những thương hiệu giáo viên giỏi cáccấp ( Trường ; Q. / huyện ; tỉnh / thành phố … ) hoặc những thương hiệu thi đua khác. – Giáo viên hạng sang : là những giáo viên trung học đang công tác làm việc tại những cơ sở giáo dục, cótrình độ giảng dạy nhất định về trình độ, có kinh nghiệm tay nghề công tác làm việc, được nhìn nhận và xếp từ loạikhá trở lên theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học ( pháp luật tại Thông tư số30 / 2009 / TTBGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành quy địnhchuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông ) hoàn toàn có thể thi chuyểnngạch. Nếu đạt được nhu yếu, những giáo viên này hoàn toàn có thể trở thành giáo viên hạng sang. Trong thực tiễn ngành Giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục mầm non nói riêng cũng rất cần nhữnggiáo viên giảng dạy những môn nâng cao như : Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể dục, Ngoại ngữ … Dođó có những sinh viên không được giảng dạy tại những trường thuộc khối sư phạm nhưng vẫn có thểtrở thành giáo viên, nếu họ có nguyện vọng được góp sức cho sự nghiệp giáo dục, họ họcthêm chương trình và có chứng từ về nhiệm vụ sư phạm. 1.3. Nghề giáo viên mầm non là gì ? Nghề giáo viên mầm non là một nghành nghề dịch vụ hoạt động giải trí lao động giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi. Nhờ được đào tạo và giảng dạy, giáo viên mầm non có được những tri thức về sự tăng trưởng sức khỏe thể chất, tâm sinh lítrẻ em ; về giải pháp nuôi dưỡng chăm nom và giáo dục trẻ nhỏ ; về những kĩ năng nhất định đểthực hiện trách nhiệm chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi, cung ứng nhu yếu xã hội về tăng trưởng conngười mới trong khuynh hướng hội nhập và toàn thế giới hóa. Nghề giáo viên mầm non là một nghề khó, yên cầu sự linh động và phát minh sáng tạo trong quy trình laođộng bởi : – Xét từ góc nhìn cá thể : + Trẻ em còn rất nhỏ và có sự độc lạ trong quy trình tăng trưởng : mỗi trẻ nhỏ có cấu trúcthần kinh khác nhau, có vận tốc tăng trưởng nhanh và không đồng đều, có vốn kinh nghiệm tay nghề sống khácnhau, có nhu yếu và hứng thú khác nhau … + Trẻ em có những năng lượng, thiên hướng riêng : Trẻ này thương mến âm nhạc, trẻ khác lại cónăng khiếu vẽ nặn hay thiên hướng hoạt động khôn khéo, trẻ khác lại có năng lực bắt chước và họcnói nhanh, giúp cho việc học tốt ngoại ngữ sau này. + Trẻ em lứa tuổi mầm non rất phong phú do xuất phát từ nền kinh tế tài chính, văn hóa truyền thống và môi trườnggiáo dục mái ấm gia đình khác nhau. – Xét từ góc nhìn xã hội : + Xã hội luôn hoạt động và tăng trưởng yên cầu sự đổi khác về nhu yếu giáo dục, phân phối nhucầu chung. + Hơn nữa, tiềm năng giáo dục mầm non là tăng trưởng trẻ nhỏ trở nên nhanh gọn, mạnh dạnvà tự tin, dữ thế chủ động và tự lập, luôn phát minh sáng tạo và chuẩn bị sẵn sàng tốt những tiền đề cơ bản để học tốt ở Tiểuhọc. + Môi trường xã hội có ảnh hưởng tác động mạnh đến sự tăng trưởng trẻ nhỏ. Tùy thuộc vào điều kiệnsống của hội đồng dân cư nơi trẻ sinh sống, trẻ nhỏ có điều kiện kèm theo tăng trưởng cao hơn hoặc thấp hơn. Nghề giáo viên nói chung, giáo viên mầm non là nghề không thay đổi bởi xã hội không khi nào hếtgiáo dục và dạy dỗ. Còn có trẻ nhỏ là có giáo dục. Hiện nay ở Nước Ta, nghề giáo viên mầm non lànghề đang được tăng trưởng, bởi xã hội và những bậc cha mẹ nhìn nhận đúng công lao góp phần củagiáo viên mầm non so với xã hội, nhìn nhận đúng vai trò của giáo viên mầm non so với sự pháttriển lâu dài hơn ở trẻ nhỏ. Mặt khác, xu thế xã hội hóa giáo dục đã tác động ảnh hưởng mạnh đến giáo dục mầmnon, là bậc học tham gia vào quy trình xã hội hóa mạnh nhất trong mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân. Cáctrường, lớp mầm non tư thục sinh ra yên cầu nhu yếu về số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viênmầm non tăng mạnh. Hiện nay việc thi tuyển giáo viên mầm non được thực thi khi nhà trườngthiếu giáo viên chứ chưa có chủ trương thi tuyển để sửa chữa thay thế những giáo viên chưa đảm bào chấtlượng chăm nom giáo dục trẻ. Nền kinh tế thị trường buộc người lao động nói chung, giáo viên mầmnon nói riêng phải không ngừng nâng cao trình độ trình độ, update kỹ năng và kiến thức mới và áp dụngcông nghệ vào quy trình giáo dục trẻ nhỏ. Giáo viên mầm non cần phải tạo cho mình bản lĩnh nghềnghiệp và kĩ năng học tập suốt đời. 2. NHIỆM VỤ CỦA GIÁO VIÊN MẦM NONGiáo dục mầm non : là bộ phận trong mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục đào tạo mầm non thựchiện việc nuôi dưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi. Mục tiêu của giáo dục mầm non : là giúp trẻ nhỏ tăng trưởng về sức khỏe thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩmmỹ, hình thành những yếu tố tiên phong của nhân cách, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ nhỏ vào lớp một ; hình thànhvà tăng trưởng ở trẻ nhỏ những tính năng tâm sinh lí, năng lượng và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống thiết yếu tương thích với lứa tuổi, khơi dậy và tăng trưởng tối đa những khả năngtiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở những cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Giáo dụcmầm non được chia thành hai quy trình tiến độ : nhà trẻ và mẫu giáo. Giai đoạn nhà trẻ triển khai việc nuôidưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ từ ba tháng đến ba tuổi ; tiến trình mẫu giáo thực thi việc nuôidưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ từ ba tuổi đến sáu tuổi1. Điều lệ trường mầm non có quy định2 : “ Điều 2. Nhiệm vụ và quyền hạn của trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhómtrẻ, lớp mẫu giáo độc lập. 1. Tổ chức thực thi việc nuôi dưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ từ ba tháng tuổi đến sáu tuổitheo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phát hành. 2. Huy động trẻ nhỏ lứa tuổi mầm non đến trường ; Tổ chức giáo dục hoà nhập cho trẻ nhỏ cóhoàn cảnh khó khăn vất vả, trẻ nhỏ khuyết tật. 3. Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên cấp dưới để thực thi trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm nom và giáodục trẻ nhỏ. 4. Huy động, quản trị, sử dụng những nguồn lực theo lao lý của pháp lý. 5. Xây dựng cơ sở vật chất theo nhu yếu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo nhu yếu tối thiểuđối với vùng đặc biệt quan trọng khó khăn vất vả. 6. Phối hợp với mái ấm gia đình trẻ nhỏ, tổ chức triển khai và cá thể để thực thi hoạt động giải trí nuôi dưỡng, chămsóc và giáo dục trẻ nhỏ. 7. Tổ chức cho cán bộ quản trị, giáo viên, nhân viên cấp dưới và trẻ nhỏ tham gia những hoạt động giải trí xã hộitrong hội đồng. 8. Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm nom và giáo dục trẻ nhỏ theo lao lý. 9. Thực hiện những trách nhiệm và quyền hạn khác theo pháp luật của pháp lý ”. Trường mầm non là đơn vị chức năng cơ sở của giáo dục mầm non trong mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân. Trường mầm non triển khai trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm nom và giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi nhằmhình thành những yếu tố bắt đầu của nhân cách ; chuẩn bị sẵn sàng những tiền đề quan trọng cho trẻ đi họclớp Một. Trong thực tiễn, mạng lưới hệ thống trường, lớp giáo dục mầm non gồm có : Trường mầm non ; Trường / lớp mẫu giáo ; Nhóm trẻ .. Chương trình Giáo dục đào tạo mầm non ( Ban hành kèm theo Thông tư số : 17 / 2009 / TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ). Điều 2, Điều lệ trường mầm non ( Ban hành kèm theo Quyết định số 14 / 2008 / QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ). 10H Ệ THỐNG TRƯỜNG, LỚP MẦM NONTrường mầm nongồm những nhóm vàlớp triển khai nhiệmvụ chăm nom giáodục trẻ dưới 6 tuổi : trẻ nhà trẻ ( dưới 3 tuổi ) và trẻ mẫu giáo ( dưới 6 tuổi ) Trường mẫugiáo và nhóm, lớp mẫu giáogồm những nhómlớp thực hiệnnhiệm vụ chămsóc giáo dục trẻtừ 3 đến 6 tuổi. Nhóm / lớp nhàtrẻ gồm cácnhóm, lớp thựchiện nhiệm vụchăm sóc giáodục trẻ dưới3 tuổi. Sơ đồ 1.2. Hệ thống trường, lớp trong giáo dục mầm nonQua sơ đồ trên, tất cả chúng ta thấy trong mạng lưới hệ thống giáo dục mầm non có những mô hình trường, lớp, nhóm trẻ khác nhau. Tùy theo trách nhiệm được giao ở trường, giáo viên hoàn toàn có thể ở những vị trí tươngứng như : cô giáo nhà trẻ, cô mẫu giáo, nhưng chung quy lại vẫn là giáo viên mầm non, bởi : – Khi học tại trường sư phạm, những giáo sinh, sinh viên đều học chung theo chương trình đàotạo do Bộ Giáo dục và đào tạo và giảng dạy phát hành để hoàn toàn có thể triển khai được trách nhiệm chăm nom giáo dục trẻdưới 6 tuổi. – Khi công tác làm việc tại trường mầm non, giáo viên mầm non cũng thường biến hóa trách nhiệm : cónăm làm tại nhóm nhà trẻ, nhưng sang năm sau lại hoàn toàn có thể chuyển sang làm tại lớp mẫu giáo. Mộtgiáo viên mầm non đều sẵn sàng chuẩn bị thực thi tốt trách nhiệm ở những nhóm, lớp. Tất nhiên, khi giáo viêncó năng lượng tương thích với đối tượng người dùng giáo dục hoàn toàn có thể được phân công làm lâu dài hơn ở vị trí nào đó trongtrường mầm non. Sau khi tốt nghiệp trường sư phạm, giáo viên mầm non hoàn toàn có thể vào thao tác tại trường mầmnon công lập hay trường mầm non tư thục, mọi nghĩa vụ và trách nhiệm và quyền lợi và nghĩa vụ của những giáo viên mầm nonđều như nhau. Hiện nay, giáo viên mầm non công lập kí hợp đồng dài hạn như giáo viên mầm nontrường tư thục, ngược lại giáo viên mầm non trường tư thục cũng có mức lương cao bảo vệ cuộcsống, được đóng bảo hiểm và được hưởng những chính sách khác do Nhà nước phát hành chung đối vớimọi giáo viên. Điều lệ trường mầm non3 có pháp luật về người giáo viên mầm non như sau : “ Điều 34. Giáoviên trong những cơ sở giáo dục mầm non là người làm trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ emtrong nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập ”. Trình độ chuẩn được huấn luyện và đào tạo của giáoviên mầm non là có bằng tốt nghiệp tầm trung sư phạm mầm non4. Nhờ được huấn luyện và đào tạo, giáo viên mầmnon có được những tri thức về sự tăng trưởng trẻ nhỏ, hiểu biết về chương trình và chiêu thức nuôidưỡng chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ, kiến thức và kỹ năng nhất định để triển khai trách nhiệm chăm nom giáo dục trẻ emĐiều lệ trường mầm non ( Ban hành kèm theo Quyết định số 14 / 2008 / QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 củaBộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ). Điều lệ trường mầm non. nt. 11 dưới 6 tuổi, phân phối nhu yếu xã hội ngày càng tăng về tăng trưởng con người mới trong xu thế hội nhậpvà toàn cầu hoá. Tuy nhiên trong tương lai, giáo viên làm trong những trường mầm non phải có bằng tốtnghiệp cao đẳng sư phạm mầm non trở lên. “ Điều 35. Nhiệm vụ của giáo viên1. Bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người của trẻ nhỏ trong thời hạn trẻ nhỏ ở nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập. 2. Thực hiện công tác làm việc nuôi dưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ theo chương trình giáo dục mầmnon : lập kế hoạch chăm nom, giáo dục ; kiến thiết xây dựng thiên nhiên và môi trường giáo dục, tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nuôidưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ ; nhìn nhận và quản trị trẻ nhỏ ; chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về chất lượng nuôidưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ ; tham gia những hoạt động giải trí của tổ trình độ, của nhà trường, nhàtrẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập. 3. Trau dồi đạo đức, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo ; gương mẫu, thương yêutrẻ em, đối xử công minh và tôn trọng nhân cách của trẻ nhỏ ; bảo vệ những quyền và quyền lợi chính đángcủa trẻ nhỏ ; đoàn kết, giúp sức đồng nghiệp. 4. Tuyên truyền thông dụng kiến thức và kỹ năng khoa học nuôi dạy trẻ nhỏ cho cha mẹ trẻ. Chủ động phốihợp với mái ấm gia đình trẻ để triển khai tiềm năng giáo dục trẻ nhỏ. 5. Rèn luyện sức khỏe thể chất ; học tập văn hoá ; tu dưỡng trình độ nhiệm vụ để nâng cao chất lượngnuôi dưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ. 6. Thực hiện những nghĩa vụ và trách nhiệm công dân, những lao lý của pháp lý và của ngành, những pháp luật của nhàtrường, quyết định hành động của Hiệu trưởng ”. Vậy giáo viên mầm non là người thao tác tại một trong những loại cơ sở giáo dục mầm non, đảm nhiệm công tác làm việc chăm nom và giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi. Mặc dù được đào tạo và giảng dạy trình độ như nhau, nhưng tùy theo trách nhiệm được phân công trongtrường mầm non có : – Những giáo viên thực thi trách nhiệm chăm nom giáo dục trẻ nhỏ dưới 3 tuổi tại những nhóm / lớpnhà trẻ gọi là giáo viên nhà trẻ. – Những giáo viên triển khai trách nhiệm chăm nom giáo dục trẻ nhỏ từ 3 – 6 tuổi tại những nhóm / lớp mẫu giáo gọi là giáo viên mẫu giáo. Giáo viên mầm non thực thi việc chăm nom nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non theo đúngquy chế trình độ và chương trình giáo dục trẻ mầm non được Bộ Giáo dục và Đào tạo banhành ; Đảm bảo bảo đảm an toàn tuyệt đối tính mạng con người của trẻ. Giáo viên mầm non là những người được được huấn luyện và đào tạo theo chuyên ngành Giáo dục đào tạo mầm nonở những trường sư phạm, có bằng cấp nhất định. Trong trường mầm non có giáo viên nhà trẻ và giáoviên mẫu giáo, còn trong trường mẫu giáo chỉ có giáo viên mẫu giáo, trong nhà trẻ có giáo viên nhàtrẻ. Trong mỗi một nhóm / lớp hoàn toàn có thể chỉ có 1 giáo viên hoặc hoàn toàn có thể có một vài giáo viên, tùy thuộcvào số lượng trẻ trong một lớp. Trong nhóm / lớp nhà trẻ, mẫu giáo hoàn toàn có thể có giáo viên chính thứcvà giáo viên tập sự ( là giáo viên mới vào nghề cùng thao tác với giáo viên chính thức, có kinhnghiệm để hướng dẫn, kèm cặp trợ giúp về trình độ ). Trong một lớp cũng hoàn toàn có thể có giáo viênchính và cô nuôi, mà ở đó, giáo viên mầm non triển khai trách nhiệm giáo dục và giảng dạy trẻ, còn cônuôi chăm sóc việc chăm nom nuôi dưỡng trẻ. 12 Ở nước ta, nghề giáo viên mầm non là nghề ít cạnh tranh đối đầu nhất, so với những nghề khác trong xãhội. Nếu một giáo viên khi đã được kí hợp đồng dài hạn, coi như đã có một chỗ thao tác không thay đổi vàchắc chắn. Cơ chế cạnh tranh đối đầu trong ngành giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng chưathật rõ ràng. Thêm nữa, việc thi tuyển giáo viên được thực thi khi nhà trường thiếu giáo viên chứkhông có chủ trương thi tuyển để thay thế sửa chữa những giáo viên không bảo vệ chất lượng chăm sócgiáo dục trẻ. Vậy nên việc cạnh tranh đối đầu nghề nghiệp không lớn để buộc giáo viên phải học tập phấnđấu, nâng cao kinh nghiệm tay nghề và chất lượng trình độ nhiệm vụ để giữ vị trí của mình trong nhàtrường. Điều lệ trường mầm non5 có pháp luật hành vi ngôn từ ứng xử của giáo viên mầm non đượclàm và không được làm. “ Điều 39. Hành vi, ngôn từ ứng xử, phục trang của giáo viên và nhân viên61. Hành vi, ngôn từ ứng xử của giáo viên phải phân phối nhu yếu giáo dục so với trẻ nhỏ. 2. Trang phục của giáo viên và nhân viên cấp dưới ngăn nắp, thật sạch tương thích với hoạt động giải trí nuôidưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ. Điều 40. Các hành vi giáo viên và nhân viên cấp dưới không được làm1. Các hành vi giáo viên không được làm : a ) Xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể trẻ nhỏ và đồng nghiệp ; b ) Xuyên tạc nội dung giáo dục ; c ) Bỏ giờ ; bỏ buổi dạy ; tùy tiện cắt xén chương trình nuôi dưỡng, chăm nom giáo dục ; d ) Đối xử không công minh so với trẻ nhỏ ; e ) Ép buộc trẻ học thêm để thu tiền ; f ) Bớt xén khẩu phần ăn của trẻ nhỏ ; thao tác riêng khi đang tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nuôidưỡng, chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ. Ngoài ra, trong trường còn có Hiệu trưởng, hiệu phó ; giáo viên dạy những môn năng khiếu sở trường ( âmnhạc, tạo hình, thể dục, Tiếng Anh, Vi tính … ), cô nuôi, bác sĩ hoặc người đảm nhiệm y tế trường, cáccô / bác phòng bếp, lao công và bảo vệ, tài vụ … – Hiệu trưởng, hiệu phó là những người làm công tác làm việc quản lí nhà trường, được huấn luyện và đào tạo chuyênngành giáo dục mầm non có trình độ nhất định ( tốt nhất là từ ĐH trở lên ), đã kinh qua công táclàm giáo viên ở những lớp mầm non ( để có kinh nghiệm tay nghề trình độ sâu ), đạt được thành tích nhấtđịnh về trình độ ( những thương hiệu giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua … ), có năng lượng quản lí, có uy tíntrong tập thể giáo viên, có năng lực tập hợp và hợp tác với đồng nghiệp, hoàn thành xong những lớp học vềquản lí giáo dục. – Giáo viên giảng dạy những môn năng khiếu sở trường. Trong trường mầm non có nhiều hoạt độngmang tính chuyên biệt cần đến giáo viên được giảng dạy theo trình độ sâu. Các giáo viên này cóthể là giáo viên trong biên chế của trường, nhưng cũng hoàn toàn có thể là giáo viên được mời dạy theo tiết. Thường thì ở những trường mầm non chất lượng cao hoàn toàn có thể có một vài giáo viên dạy âm nhạc, thểĐiều lệ trường mầm non ( Ban hành kèm theo Quyết định số 14 / 2008 / QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 củaBộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ). Điều 38 và điều 40, điều lệ trường mầm non. ( Ban hành kèm theo Quyết định số 14 / 2008 / QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ). 13 dục, tạo hình, tiếng Anh để họ hoàn toàn có thể đảm nhiệm việc tổ chức triển khai những hoạt động giải trí giáo dục âm nhạc củatrường ( phối hợp với giáo viên mầm non ở những lớp để dạy trẻ, tổ chức triển khai những hoạt động giải trí tiệc tùng chungtrong trường, dạy trẻ năng khiếu sở trường, trang trí trường học, triển khai dạy chương trình giáo dục songngữ … ). – Cô nuôi trẻ là người giúp giáo viên chính thức trong những việc làm chung của lớp, hầu hết lànuôi dưỡng, chăm nom vệ sinh cho trẻ … hoàn toàn có thể đã qua đào tạo và giảng dạy ở trình độ sơ cấp hoặc chưa qua đàotạo chuyên ngành nuôi dạy trẻ, nhưng có nguyện vọng làm việc làm chăm nom giáo dục trẻ lâu dài hơn. 3. HOẠT ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON3. 1. Hoạt động và hoạt động giải trí sư phạm3. 1.1. Hoạt độngHoạt động : là phương pháp sống sót của con người. Bằng hoạt động giải trí và trong hoạt động giải trí, mỗi cáthể hình thành và tăng trưởng những phẩm chất và năng lượng của cá thể : tính tình, đạo đức nhân cáchriêng của mình, năng lực học tập và thao tác của con người. Nói một cách khác bằng hoạt động giải trí vàtrong hoạt động giải trí, mỗi thành viên người tự sinh thành ra mình một lần nữa, tự tạo ra nhân cách và tiếp tụchoàn thiện chính mình. Ví dụ : Bạn Hương sinh ra và lớn lên trong một mái ấm gia đình ít con và được bốmẹ yêu chiều từ bé, nên Hương rất ít chăm sóc và nghĩ đến những người xung quanh. Sau khi tốtnghiệp khoa Giáo dục mầm non của trường cao đẳng sư phạm, Hương được nhận vào thao tác tạimột trường mầm non công lập ở thành phố. Những ngày đầu đi làm thật khó khăn vất vả, nhất là việc chămsóc giáo dục trẻ yên cầu Hương cần phải quan sát và bao quát tổng thể trẻ trong lớp, yên cầu phải tỉ mỉ, cẩn trọng trong từng việc làm. Những yên cầu của việc làm ( quan sát, theo dõi và nhìn nhận sự pháttriển của trẻ liên tục, xử lý những trường hợp sư phạm, xử lí mối quan hệ giữa những trẻ vớinhau, quan hệ với đồng nghiệp, tạo ra nhiều áp lực đè nén và khó khăn vất vả … ). Song nhờ sự cố gắng phấn đấuvà sự trợ giúp tận tình của giáo viên chính thức, từ từ Hương đã biết chăm sóc đến trẻ nhỏ và cácđồng nghiệp khác trong tập thể, biết tự kiềm chế bản thân và yêu thương những em. Trường sư phạmchỉ hoàn toàn có thể hình thành và tăng trưởng những phẩm chất nghề, kiến thức và kỹ năng và kĩ năng nghề cơ bản để cóthể triển khai được những việc làm ở mức đạt nhu yếu, còn quy trình hoạt động giải trí nghề nghiệp tạitrường mầm non mới là nơi giúp cho giáo viên mầm non ngày càng hoàn thành xong chính mình hơn nữa : bổ trợ những kiến thức và kỹ năng mới hoặc làm sáng rõ hơn những kỹ năng và kiến thức đã được học ở trường sư phạm, hoàn thành xong hơn những kĩ năng nghề và tôi luyện thêm phẩm chất đạo đức nghề nghiệp ( đây là yếu tốquan trọng quyết định hành động bước thành công xuất sắc trong nghề nghiệp của giáo viên mầm non ). Hàng ngày, mỗi cá thể tham gia vào những hoạt động giải trí khác nhau : hoạt động giải trí sống, đi dạo, họctập, lao động nghề nghiệp, hoạt động giải trí văn nghệ hoặc thể dục thể thao … để triển khai mục tiêu riêng. Ví dụ : có người tham gia hoạt động giải trí thể thao để có thời cơ tham gia tranh tài, đạt thành tích ; Một sốngười khác tham gia hoạt động giải trí thể thao để rèn luyện sức khỏe thể chất và vui chơi ; nhưng lại có 1 số ít ngườikhác tham chơi thể thao để có thời cơ làm quen với mọi người và lan rộng ra mối quan hệ để làm ănkinh tế hoặc thăng quan tiến chức nghề nghiệp. Mỗi cá thể tham gia hoạt động giải trí theo những động cơ riêng, theo đuổi mục tiêu riêng. Hoạt động là quy trình con người triển khai những mối quan hệ giữa mình với quốc tế xungquanh : quan hệ giữa mình với quốc tế tự nhiên ( tìm hiểu và khám phá quốc tế xung quanh, ứng xử với thiênnhiên, bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống … ) và quan hệ giữa mình với quốc tế xã hội ( quan hệ giữa mình với14người khác và giữa mình với bản thân ). Mối quan hệ cá thể với quốc tế xung quanh được thể hiệnqua sơ đồ sau : Hoạt động là quy trình con người triển khai những mối quan hệgiữa cá thể với quốc tế xung quanhQuan hệ với thế giớitự nhiên – Hiểu biết và có hành viứng xử đúng đắn với thiênnhiên xung quanh ( cây cối, con vật, cảnh vật … ) – Hiểu biết và có hành viứng xử tương thích và bảo vệmôi trường đúng đắn. – …. Quan hệ với thế giớixã hội – Hiểu biết và có quan hệứng xử với mọi ngườixung quanh đúng mực – Hiểu biết và có cách ứngxử với chính bản thânmình đúng đắn, bảo vệbản thân và tu dưỡng rènluyện bản thân để hoànthiện mình. – …. Sơ đồ 1.3. Mối quan hệ cá thể với quốc tế xung quanhTrong quy trình hoạt động giải trí con người thể hiện tâm ý ( năng lượng, ý chí, mong ước, tính nết … ) rabên ngoài. Trong lao động thì đó là quy trình chuyển năng lượng cá thể để tạo thành loại sản phẩm laođộng ( ví dụ. Trong quy trình lao động, người hoạ sỹ sử dụng kiến thức và kỹ năng, kĩ năng, công sức của con người và sự sáng tạocủa mình để vẽ nên bức tranh ; ngay như giáo viên mầm non đã đem hết kỹ năng và kiến thức về tâm ý và giáodục học để giáo dục trẻ nhỏ và những nghành khác như : múa, hát, vẽ, kể chuyện mê hoặc hay đọc thơ, kinh nghiệm tay nghề nuôi dưỡng và dạy dỗ những em nhỏ … để thực thi trách nhiệm chăm nom giáo dục trẻ ở lớpcủa mình sao cho những cháu khoẻ mạnh cả về sức khỏe thể chất lẫn ý thức, mưu trí nhanh gọn và có kỹnăng sống tốt ). Ngược lại, trong quy trình lao động để tạo ra loại sản phẩm hay tiếp xúc với người khác, mỗi người lại nâng cao thêm năng lượng ( kiến thức và kỹ năng và kĩ năng ) trình độ nghề, làm giàu vốn kinhnghiệm sống cho bản thân hay tích góp nghiệm tiếp xúc với mọi người xung quanh và tăng thêm vốnhiểu biết. 3.1.2. Hoạt động sư phạmHoạt động sư phạm là hoạt động giải trí dạy học hay hoạt động giải trí giáo dục hiểu theo nghĩa hẹp là hoạtđộng cùng nhau giữa giáo viên và trẻ. Hoạt động sư phạm gồm có hoạt động giải trí dạy và hoạt độnghọc, ở đó có mối quan hệ tương tác giữa giáo viên và trẻ nhỏ nhằm mục đích triển khai việc truyền đạt và lĩnhhội những giá trị văn hoá quả đât. Dạy và học diễn ra cùng nhau và xen kẽ nhau trong quá trìnhhoạt động giữa giáo viên và trẻ nhằm mục đích mục tiêu cung ứng và lĩnh hội nội dung giáo dục cho trẻ. Trong hoạt động giải trí dạy học, giáo viên truyền đạt kiến thức và kỹ năng cho trẻ, còn trẻ đảm nhiệm những hiểu biếttừ giáo viên một cách tích cực và phát minh sáng tạo, tùy thuộc vào “ thẩm mỹ và nghệ thuật ” tổ chức triển khai dạy học của giáoviên. Ngược lại, trong quy trình dạy học, giáo viên nâng cao thêm hiểu biết về sự tăng trưởng của trẻđể đưa ra những xu thế giáo dục trẻ tương thích. Hai hoạt động giải trí dạy và học luôn gắn bó với nhau, 15 link với nhau tạo nên hoạt động giải trí mang tính tương tác trực tiếp giữa giáo viên và trẻ, gọi là hoạtđộng sư phạm. Vậy hoạt động giải trí sư phạm là quy trình tương tác giữa giáo viên và trẻ trong quy trình cùng hoạtđộng, mà ở đó giáo viên với tư cách là chủ thể của hoạt động giải trí dạy nhằm mục đích phân phối những kiến thứcvà kĩ năng cho trẻ, còn trẻ với tư cách là chủ thể của hoạt động học nhằm mục đích đảm nhiệm và lĩnh hộinhững nội dung giáo dục một cách tích cực và phát minh sáng tạo. Cả hai hoạt động giải trí này dựa vào nhau cùngvận động và tác động ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau, mà ở đó giáo viên và trẻ cùng tăng trưởng ( giáo viên khôngngừng nâng cao năng lượng nghề nghiệp bản thân và trẻ không ngừng lan rộng ra vốn hiểu biết, kinhnghiệm và kĩ năng sống cho mình ). Tuy những chủ thể triển khai những nhịêm vụ khác nhau trongtừng hoạt động giải trí đơn cử, nhưng giáo viên truyền thụ kiến thức và kỹ năng, trao đổi, san sẻ những kinh nghiệmsống, những giá trị xã hội được chắt lọc và tích góp từ thế hệ này qua thế hệ khác, còn trẻ nhỏ lĩnhhội, tiếp thu có tinh lọc những giá trị xã hội để tạo nên phẩm chất nhân cách tổng lực cho mình. Nói một cách khác, quy trình sư phạm là hoạt động giải trí đặc biệt quan trọng chỉ được triển khai trải qua mối quanhệ giữa nhà giáo dục ( giáo viên ) và người được giáo dục ( trẻ nhỏ ). Để thực thi tốt việc làm này yên cầu giáo viên phải là những nhà chuyên nghiệp trong từnglĩnh vực riêng, được học tập ở những cơ sở huấn luyện và đào tạo nghề theo từng chuyên ngành. Hoạt động sư phạmtrong nghành mầm non càng khó hơn bởi đối tượng người tiêu dùng giáo dục là trẻ mầm non, tuổi còn rất nhỏ. Giáodục trẻ càng nhỏ càng khó bởi tâm sinh lí lứa tuổi của trẻ đang trong tiến trình tăng trưởng và chưa hòanthiện, vốn hiểu biết của trẻ còn rất hạn hẹp, nhiều năng lực của trẻ còn nhiều hạn chế ( tư duy, ngônngữ diễn đạt, tập trung chuyên sâu quan tâm chưa cao, sống bằng xúc cảm và ngẫu hứng … ), vận tốc tăng trưởng của trẻnhanh và có sự độc lạ lớn giữa những trẻ. Hoạt động sư phạm trong giáo dục mầm non là một trongnhững nghành nghề dịch vụ lao động phức tạp của con người và yên cầu tính chuyên nghiệp cao và có những đặcthù rất riêng, không phải ai cũng hoàn toàn có thể làm được thuận tiện. 3.1.3. Tính chuyên nghiệp của nghề sư phạmPhần lớn giáo viên quyết định hành động thao tác trong ngành giáo dục chính do họ có mong ước đượclàm việc với trẻ nhỏ nói riêng và thế hệ trẻ nói chung. Tuy nhiên, giáo dục không riêng gì đơn thuần cóvậy, mà việc làm của người giáo viên có những yên cầu khắc nghiệt về trình độ sâu và mang tínhchuyên nghiệp. – Tính chuyên nghiệp của một nghề nhất địnhMặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên phần đông đều thừa nhận rằng người chuyênnghiệp là người đã trải qua một quy trình huấn luyện và đào tạo vĩnh viễn về một nghành nghề dịch vụ trình độ nào đó, nhậnđược bằng cấp để hoàn toàn có thể hành nghề, được xã hội thừa nhận là có kỹ năng và kiến thức và kĩ năng thao tác tronglĩnh vực đào tạo và giảng dạy, và đồng thời có quyền độc lập trong việc làm của mình. Một người chuyênnghiệp cũng có nghĩa vụ và trách nhiệm giúp sức đồng nghiệp trong việc liên tục nghiên cứu và điều tra và học tập pháttriển nghề của mình. Trước hết tất cả chúng ta tìm hiểu và khám phá thế nào là một người chuyên nghiệp và 1 số ít tiêuchí để hoàn toàn có thể hiểu một người trong một nghề được coi là chuyên nghiệp hay không. + Được đào tạo và giảng dạy sâu xa trong một nghành nghề dịch vụ của người chuyên nghiệp. Một ngườichuyên nghiệp cần được huấn luyện và đào tạo nâng cao về một nghành nghề dịch vụ kỹ năng và kiến thức để họ hoàn toàn có thể xử lý cáccông việc của mình một cách hiệu suất cao hơn những người thông thường khác, không được đào tạochuyên sâu về nghành nghề dịch vụ đó. Ví dụ : tất cả chúng ta ai cũng có một chút ít kiến thức và kỹ năng về sinh lý giải phẫungười, hiểu biết nhất định về khung hình và bệnh học sơ đẳng, tuy nhiên kỹ năng và kiến thức đó chưa đủ để giúp bảnthân phát hiện và chữa những bệnh phức tạp hay xử trí những trường hợp không bình thường, mà chỉ có16người Bác sỹ – mang tính chuyên nghiệp mới hoàn toàn có thể triển khai được những việc làm của nghề bácsỹ đó. Một nhà giáo dục chuyên nghiệp, dù có trình độ và vốn tri thức vừa rộng vừa sâu, uyên bácnhưng không có nghĩa là dạy được toàn bộ trẻ nhỏ ở những độ tuổi khác nhau, mà phải có những giáoviên chuyên nghiệp trong từng nghành ( Toán học, Vật lý học, Hoá học, Văn học … ) hay trong từngbậc học cụ thể như : giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học hay bậc Đại học … Một giáo viên dạy ở một nghành nào đó cũng sẽ gặp phải một số ít khó khăn vất vả khi thực thi nhiệm vụkhông tương thích với đào tạo và giảng dạy của mình như giáo viên dạy đại trà phổ thông trung học không thuận tiện khi dạyhọc sinh tiểu học ; giáo viên tiểu học khó hoàn toàn có thể dạy tốt trẻ nhỏ lứa tuổi mầm non, bởi dạy trẻ càng béđòi hỏi một sự tinh xảo, sự kiên trì nhẫn nại trong quy trình chăm nom giáo dục trẻ. Đầu tiên, để có được những kiến thức và kỹ năng nâng cao về một nghành nghề dịch vụ yên cầu có một quá trìnhđào tạo trang nghiêm và lê dài, không riêng gì học khi còn ngồi ở ghế nhà trường mà còn liên tục họctập, trau dồi kỹ năng và kiến thức và kĩ năng nghề cho bản thân trong suốt quy trình thao tác. Đối với nghềdạy học, quy trình đào tạo và giảng dạy này là thiết yếu và quan trọng do tại việc làm mà người giáo viên thựchiện khá phức tạp, có những nhu yếu độc lạ so với những việc làm khác, được bộc lộ qua nănglực của người giáo viên như : Năng lực khám phá đối tượng người tiêu dùng và thiên nhiên và môi trường giáo dục ; Năng lực dạyhọc ; Năng lực giáo dục ; Năng lực hoạt động giải trí chính trị, xã hội ; Năng lực tăng trưởng nghề nghiệpvà Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Hơn nữa, họ cần phải có ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm nghềnghiệp, phải thao tác trang nghiêm, tuân theo những tiêu chuẩn của một nghề và luôn là tấm gươngsáng, hình mẫu nhân cách chuẩn để trẻ bắt chước học theo ( trẻ mầm non bắt chước lời ăn cách nóicủa giáo viên, học cách giao tiếp ứng xử với mọi người xung quanh, sự nhanh gọn trong côngviệc, sự thân thiện nhẹ nhàng trong tiếp xúc … ). Đối với trẻ mầm non, giáo viên như một hìnhmẫu để trẻ noi theo, được biểu lộ qua câu nói thơ ngây “ Cô con bảo thế ! ” ; hoặc trẻ bắt chướcnhững hành vi giống giáo viên dạy trẻ trên lớp. Vậy nhà chuyên nghiệp là người có đạo đức nghề nghiệp đúng đắn, có trình độ học vấn và kĩthuật nghề cao để hoàn toàn có thể xử lí việc làm mà người khác khó hoàn toàn có thể xử lý được. + Sự kính trọng, vị thế xã hội và thu nhập. Người chuyên nghiệp mang đặc trưng riêng biệtcủa một nghề nào đó mà người khác rất khó hoàn toàn có thể xử lý được tốt. Chính vì thế họ được nhữngngười khác trong xã hội cần đến để giải quyết và xử lý, xử lý việc làm. Với kinh nghiệm tay nghề cao, người chuyênnghiệp luôn được mọi người trong xã hội tôn trọng, vị thế trong xã hội và có thu nhập ngày càngcao hơn nếu kinh nghiệm tay nghề của họ không ngừng tăng trưởng. Người thầy giáo chân chính luôn được mọingười, mọi thế hệ trân trọng và nhớ đến, những thế hệ học trò kính trọng, được xã hội tôn vinh nhưtriết lí từ thời xưa truyền lại : “ Không thầy đố mày làm ra ”. Giáo viên mầm non lúc bấy giờ cũng đãđược xã hội thừa nhận là một nghề cao quý nhưng cũng đầy khó khăn vất vả và thử thách, cha mẹ và xãhội cũng đã trân trọng sức lao động và công lao của giáo viên tham gia chăm nom giáo dục con emhọ trong thời hạn ở trường ( tính ra tối thiểu cũng khoảng chừng 10 tiếng / ngày ), nhưng áp lực đè nén việc làm vàđòi hỏi của xã hội về chất lượng chăm nom giáo dục ngày càng tăng. – Tính độc lập / tự chủ trong nghề nghiệp. Từng cá thể trong một nghề cần có những kiếnthức chuyên ngành mà người khác không có, nên người chuyên nghiệp được phép độc lập và tự chủthực hiện việc làm của mình. Họ tự chủ trong việc lập kế hoạch hoạt động giải trí, tự chủ trong việc chọnlựa những công cụ lao động tương thích với đối tượng người tiêu dùng và nhu yếu về loại sản phẩm của hoạt động giải trí. Họ cũngđược quyền dữ thế chủ động trong quản trị thời hạn thao tác và sắp xếp cho việc học tập nâng cao chấtlượng nghề nghiệp của bản thân. Giáo viên mầm non được quyền tự chủ trong hoạt động giải trí chuyênmôn của mình như : lập kế hoạch hoạt động giải trí dạy học và giáo dục trẻ ; tổ chức triển khai những hoạt động giải trí giáo dục17cho trẻ ; tổ chức triển khai môi trường tự nhiên giáo dục thân thiện và tương thích với trẻ theo từng độ tuổi ; hướng dẫn phụhuynh phối phối hợp chăm nom giáo dục trẻ tại mái ấm gia đình ; độc lập tự chủ trong việc học tập tu dưỡngnâng cao kinh nghiệm tay nghề cá thể … – Tính nghĩa vụ và trách nhiệm so với nghề nghiệp. Trước hết một người chuyên nghiệp luôn có tínhtrách nhiệm trong việc hoàn thành xong trách nhiệm của mình với những người xung quanh và phát triểnnghề mà họ đang theo đuổi, trao đổi và san sẻ kinh nghiệp nghề cùng đồng nghiệp về nhữngcông việc tương thích, chú ý quan tâm đến tăng trưởng nghề cho bản thân và cho đồng nghiệp. Khi một ngườichọn cho mình nghề nhà giáo tức là họ đã xác lập rất rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của họ so với thế hệ trẻ vàtrẻ em, trước cha mẹ và xã hội. Hơn ai hết họ hiểu rõ nhân cách của mình có ảnhhưởngrất lớn đến những người xung quanh, đặc biệt quan trọng là đến trẻ nhỏ về tiêu chuẩn đạo đức nghề, kiến thứcvà kỹ năng và kiến thức nghề nghiệp mà họ Giao hàng và đeo đuổi, nhu yếu học tập và tăng trưởng bản thân trongtương lai bảo vệ cho việc đứng vững và lâu bền trong xã hội và trong nghành nghề dịch vụ trình độ củamình. – Tính chuyên nghiệp của nghề dạy học / nghề giáo viên : Mặc dù có kỹ năng và kiến thức chuyên ngànhđược giảng dạy, có vị thế nhất định trong xã hội, được tự chủ và có nghĩa vụ và trách nhiệm là những đặc điểmchung nhất của hầu hết những nghề, tuy nhiên mỗi nghề lại có những đặc trưng rất riêng mà tất cả chúng ta chỉ có thểnhìn nhận khi so sánh nghề giáo viên với những nghề dịch vụ khác ( nếu coi giáo dục thuộc lĩnh vựcdịch vụ ). – Kiến thức chuyên ngành : Có rất nhiều cách nhìn nhận việc làm của một giáo viên. Khi sosánh nghề dạy học với 1 số ít việc làm trong nghề khác cho thấy dạy học yên cầu phải thực hiệnnhững việc làm khá phức tạp, tích hợp nhiều kiến thức và kỹ năng chuyên ngành. Một nhà khoa học rất uyênbác về vật lý, chuyên viên uyên bác về nghành hoá học … cũng hoàn toàn có thể không trở thành một giáoviên vật lý hay hoá học giỏi được, bởi nghề dạy học không chỉ yên cầu những kiến thức và kỹ năng chuyên sâungành Vật lý hay Hoá học, mà cần phải có thêm những hiểu biết nhất định về tâm lý học lứa tuổicụ thể của người học / học viên ; hiểu biết về khoa học giáo dục và giải pháp dạy học tương thích vớiđối tượng giáo dục ; Khả năng ngôn từ và cách truyền đạt mê hoặc và dễ hiểu, lôi cuốn được sự chúý của người học ; Khả năng tiếp xúc sư phạm với những đối tượng người dùng học viên khác nhau và phụ huynhhọc sinh ; năng lực tổ chức triển khai những hoạt động giải trí học tập tương thích với từng đối tượng người dùng đơn cử ; năng lực quảnlý người học ; năng lực tổ chức triển khai môi trường học tập tương thích ; năng lực sử dụng thành thạo những phương tiện đi lại công nghệ tiên tiến tương thích với giải pháp dạy học … đấy chính là nghệ thuật và thẩm mỹ dạy học. TheoEisner ( 1978 ) “ phải xem xét việc dạy học như thể một nỗ lực thẩm mỹ và nghệ thuật ”. Năm 1989, Thương Hội cáctrường Cao đẳng sư phạm Hoa Kỳ ( American Association of Colleges of Teacher Education ACCTE ) đã cho xuất bản cuốn sách : “ Các kiến thức và kỹ năng cơ bản để trở thành giáo viên ” và cuốn “ Sổtay nhà giáo ” ( 1996 ), trong đó đã làm rõ và xác lập những điều mà một giáo viên mới khởi đầu vàonghề cần biết và hoàn toàn có thể làm được. Một trong thực tiễn rõ ràng việc làm của một giáo viên được thừa nhận là rất khó khăn vất vả và khó khăn vất vả, nhưng cũng thật là cao quý, bởi nghề giáo viên được xã hội luôn cần đến, cha mẹ tin tưởnggiao con trẻ của họ cho những giáo viên chăm nom, nuôi dưỡng và dạy dỗ. Mặt khác giáo viên cũngrất vui sướng và tự hào khi thấy trẻ nhỏ của mình lớn khôn từng ngày. Hơn nữa rất nhiều ngườitrong giới lao động đã nhận thấy nghề dạy học là bước tiến thân tiên phong, bởi nhiều người bắt đầubằng nghề giáo, sau này tăng trưởng khá thành đạt, có vị trí quan trọng trong xã hội nhờ có bướckhởi đầu làm nghề giáo viên. Làm nghề giáo có một kỹ năng và kiến thức khá rộng và hiểu biết chuyên sâuvà uyên bác về một nghành nghề dịch vụ nào đó, đồng thời lại có những hiểu biết nhất định về văn hoá xã18hội giúp họ thành công xuất sắc trong giao tiếp ứng xử với mọi người. Nhiều năm nay xã hội cho rằng dạyhọc là một nghề cao quý nhất dành cho phụ nữ ( Charter, 1963 ; Lortie, 1975 ; Janier và Little, 1986 ) và thực tiễn cũng nhiều phụ nữ tham gia vào nghành giáo dục, đặc biệt quan trọng là nghành nghề dịch vụ giáo dục mầmnon và giáo dục tiểu học. – Tính độc lập / tự chủ. Khi xét về tính độc lập / tự chủ, tất cả chúng ta thấy những giáo viên hoàn toàn có thể cóđược sự tự do đáng kể trong việc tổ chức triển khai những hoạt động giải trí dạy học cho học viên và tổ chức triển khai môi trườnglớp học của mình, trong việc xác lập nội dung bài dạy, lựa chọn giải pháp dạy học tương thích vớiđối tượng trẻ nhỏ mà họ đảm nhiệm, sử dụng trang thiết bị dạy học theo độ tuổi. Họ ít bị sự giám sátthường xuyên của những người ngoài ngành, hay nói một cách khác, mẫu sản phẩm của giáo dục khónhận được phản hồi ngay lập tức từ phía người tận hưởng – học viên. Kết quả học tập của học sinhđược nhìn nhận nhanh nhất là sau một học kì năm học hay sau một năm học. Còn nếu xét về sảnphẩm giáo dục vĩnh viễn thì hết một cấp học hay bậc học : loại sản phẩm của giáo dục mầm non được thểhiện ở hiệu quả tăng trưởng tổng lực của trẻ và vào học tốt ở Tiểu học ; mẫu sản phẩm của giáo dục tiểu họclà tác dụng học tập của trẻ cuối lớp 5 ; và hiệu quả học tập của học viên cuối lớp 12 là loại sản phẩm của cảquá trình giáo dục phổ thông … Sản phẩm giáo dục là hiệu quả của một quy trình thực thi vĩnh viễn, phức tạp, trải qua nhiều tiến trình. Mặt khác tác động ảnh hưởng tác động ảnh hưởng của giáo dục không phải từ mộtgiáo viên mà là từ nhiều giáo viên của bậc học, cấp học khác nhau, từ nhiều phía ( xã hội, cộngđồng, mái ấm gia đình, bè bạn, mạng lưới hệ thống chính trị – xã hội, mạng lưới hệ thống tiếp thị quảng cáo … ), nhiều người và mỗingười lại có những tác động ảnh hưởng ảnh hưởng tác động riêng không liên quan gì đến nhau, độc lập đến người học trò. Quy tắc “ độc lập ” là một trong những đặc tính chắc như đinh sống sót trong văn hoá dạy học nhưngcũng chỉ có tính tương đối, bởi người giáo viên chịu sự chỉ huy của nhà trường, chính quyền sở tại địaphương như việc thực thi nội dung giảng dạy phải theo chương trình từ trên xuống, theo quy chếnhất định và bảo vệ thời lượng đã lao lý. Đồng thời giáo dục là yếu tố chính trị nhạy cảm, cácgiáo viên thường bị sức ép từ nhiều phía : xã hội, hội đồng, cha mẹ và đôi lúc ngay cả từ chínhhọc sinh ( hiệu quả học tập thấp của học viên đôi khi còn do học viên lười học, không chịu học hoặcdo hạn chế về năng lực học tập của trẻ, yếu tố tâm lí cá thể học viên, thực trạng mái ấm gia đình … ). Thựctế người giáo viên không được tự chủ trọn vẹn trong việc thực thi trách nhiệm giáo dục của mình. – Tính nghĩa vụ và trách nhiệm. Sản phẩm của quy trình giáo dục lại được sử dụng trong toàn xã hội và cótác động không nhỏ đến sự tăng trưởng chung của toàn xã hội. Khi xét về mặt này, nghĩa vụ và trách nhiệm củangười làm nghề giáo viên lại rất nặng nề. Người giáo viên phải bảo vệ chất lượng dạy học và giáodục học viên khi ở trường và tăng trưởng năng lượng của thế hệ trẻ cung ứng nhu yếu xã hội không ngừngthay đổi. Đồng thời nghĩa vụ và trách nhiệm của giáo viên trước đứa trẻ, trước cha mẹ, trước hội đồng vàtrước xã hội về sự tăng trưởng lâu dài hơn và bền vững và kiên cố của trẻ trong tương lai. Đó là nghĩa vụ và trách nhiệm giáo dụcnhân cách cho trẻ, đạo lý làm người, về kỹ năng và kiến thức sống và năng lực thích nghi của trẻ trong mọi hoàncảnh đổi khác, năng lượng nhận thức và phát minh sáng tạo của trẻ, sự tăng trưởng khoẻ mạnh về niềm tin và thểchất của thế hệ trẻ. Mỗi bậc học, cấp học lại có những đặc trưng hoạt động giải trí sư phạm riêng tùy thuộc vào đối tượngphục vụ. – Tính chuyên nghiệp của nghề giáo viên mầm non + Người mẹ hoàn toàn có thể rất căng thẳng mệt mỏi khi một mình chăm nom, nuôi dưỡng và dạy dỗ một đứa concủa mình : nếu có đứa con nhanh gọn, hiếu động, mưu trí thì lại stress theo một kiểu ; nhưngnếu có đứa con hiền lành, chậm trễ về nhiều mặt thì lại lo ngại, ưu tư và stress theo kiểu19khác. Đấy là chưa kể nhiều ông bố bà mẹ lại quá kì vọng vào khuynh hướng tăng trưởng con mình trởthành người như thế này hay thế khác thì sự khó khăn vất vả chăm nom và nuôi dạy con lại càng tăng thêm gấpnhiều lần. Nhiều người phải thừa nhận việc gửi con đi học ở trường ngay từ nhỏ là tạo điều kiện kèm theo chođứa trẻ tăng trưởng tốt, đồng thời cũng tạo điều kiện kèm theo cho cha mẹ yên lòng khi tham gia vào những hoạtđộng nghề nghiệp và hoạt động giải trí xã hội khác. Điều này chứng tỏ giáo viên mầm non có sự chuyênnghiệp trong việc làm của mình. + Chính thế cho nên, có vẻ như ai cũng thừa nhận thực sự là nghề dạy trẻ mầm non là một nghềvất vả nhất trong những nghề dạy học, bởi nó yên cầu những người trong nghề phải có cách suy nghĩtrong sáng, năng lực phản ứng nhanh, sức khoẻ tốt và luôn luôn hoàn toàn có thể cạnh tranh đối đầu với những tháchthức / sức ép của việc làm so với sự bảo đảm an toàn về sức khỏe thể chất của trẻ, sự đổi khác và vận tốc phát triểnnhanh, năng lực tiếp xúc với trẻ nhỏ … ). Giáo viên mầm non nhiều khi buộc phải gật đầu nhiềuyêu cầu khác nhau từ phía xã hội : ngoài thao tác tiếp tục với trẻ hàng ngày, họ còn phải làmviệc với cha mẹ, với hội đồng như là người tuyên truyền về chiêu thức nuôi dạy trẻ hay lànhà tư vấn giáo dục ; Họ phải tự xoay xở trong điều kiện kèm theo thao tác khó khăn vất vả thiếu thốn về cơ sở vậtchất, trang thiết bị dạy học ; chăm sóc chính sách dinh dưỡng và bảo đảm an toàn thực phẩm cho trẻ ; và khôngngừng học tập nâng cao trình độ và năng lượng nghề … Với giáo viên mầm non ở vùng cao, có khi cònphải đến từng nhà người dân tuyên truyền cha mẹ cho trẻ ra lớp, hàng ngày gọi trẻ đi học, giaotiếp với trẻ đôi lúc bằng tiếng địa phương, sự độc lạ về ngôn từ tạo nên rào cản lớn ảnh hưởngđến việc làm của họ, điều kiện kèm theo đi lại và thao tác rất khó khăn vất vả … Giáo viên mầm non thường là người dễ thích nghi và phân phối khá tốt những nhu yếu mới của xã hội và của ngành, những điều kiệnkhó khăn thực tiễn của địa phương và mẫn cán so với việc làm. Các giáo viên mầm non là nhữngngười luôn có nghĩa vụ và trách nhiệm cao với việc làm mà họ tiếp đón. + Theo Luật giáo dục lao lý, Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non gọi là giáo viên ( điều 61 chương IV, mục 1 ). Giáo viên mầm non là những người triển khai việc nuôi dưỡng, chăm sócgiáo dục trẻ nhỏ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi trong trường mầm non, nhà trẻ, trường mẫu giáo. Song bấtchấp môi trường tự nhiên thao tác khó khăn vất vả và đầy áp lực đè nén của việc làm ( tính mạng con người và sự bảo đảm an toàn của trẻ nhỏ ; nuôi dưỡng và chăm nom trẻ khoẻ mạnh, tăng trưởng tốt ; giáo dục trẻ ngoan ngoãn, tự tin, mưu trí vàsáng tạo … ), nhưng không phải khi nào giáo viên mầm non cũng được xã hội nhìn nhận cao và đượctôn trọng. Trong cuốn sách của mình, Lindberg và Swedlow ( 1985, tr. 283 ) đã định nghĩa : “ Một người giáo viên chuyên nghiệp là người cam kết sẽ duy trì và tăng trưởng xã hội trải qua việc giúp nhữngngười khác có được chất lượng đời sống khá hơn ”. Họ còn cho rằng, người giáo viên chuyên nghiệpcần cung ứng được những nhu yếu về trình độ trải qua việc học tập và thao tác thực tiễn. Ward ( 1987, tr. 7 ) cũng đưa ra một vài nhận xét rất là đúng đắn về giáo viên chuyên nghiệp trong lĩnh vựcgiáo dục mầm non : “ Các nhà chuyên nghiệp là những người có năng lực thực thi được những côngviệc rất là phức tạp và có giá trị xã hội mà đây là những việc làm yên cầu sự thành thạo chuyênmôn ”. Một đặc thù khác của giáo viên mầm non chuyên nghiệp là không ngừng tiếp thu kiến thứcmới để có được nền tảng kiến thức và kỹ năng vững chãi trong nghành nghề dịch vụ trình độ của mình. Lindberg vàSwedlow đã viết ( 1985, tr. 283 ) : “ là những người thao tác trong một nghề mà họ có ý thức tôn trọngđối với những điều mình làm … và không ngừng nỗ lực để duy trì và tăng trưởng nhằm mục đích thoả mãn nhữngtiêu chuẩn cao hơn không chỉ vì bản thân họ mà còn vì nghề họ đang làm ”. Watts đưa ra một số ít ýkiến về tính chuyên nghiệp mà theo ông, giáo viên mầm non và những nhân viên cấp dưới khác sẽ thực thi côngviệc của mình một cách chuyên nghiệp, đặc biệt quan trọng là : • Thành thạo trình độ và có kỹ năng và kiến thức chuyên ngành. 20 • Cam kết liên tục điều tra và nghiên cứu và thực nghiệm / thưởng thức để không ngừng nâng caokiến thức trình độ. • Có lòng vị tha, thao tác vì một xã hội tốt đẹp hơn. • Không ngừng liên tục tăng trưởng bản thân. • Có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc tiếp thu giúp ngành tăng trưởng. Chính thế cho nên giáo viên mầm non được giảng dạy theo một chương trình riêng mang tính đặc thùcông việc để hoàn toàn có thể đảm đương được việc làm chăm nom giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi. – Các kiến thức và kỹ năng, tính cách và thói quen thiết yếu của người giáo viên mầm non. Người giáo viên chuyên nghịêp trong nghành nghề dịch vụ giáo dục mầm non cần phải có những kĩ năng, tính cách và thói quen đặc trưng. Nói một cách ngắn gọn, giáo viên mầm non chuyên nghiệp tronglĩnh vực này cần có : + Lòng yêu trẻ và lòng vị tha. Trước hết giáo viên mầm non phải là người có lòng yêu trẻthực sự và mong ước chăm nom giáo dục trẻ tăng trưởng. Tình yêu thương trẻ nhỏ giúp giáo viênvượt qua những khó khăn vất vả trở ngại trong việc làm, từ đó có những đức tính thiết yếu như : kiên trìvà nhẫn nại, cẩn trọng và chu đáo trong chăm nom giáo duc trẻ nhỏ ; nhẹ nhàng và thân thiện khi giaotiếp với những em. Trẻ em trong một lớp rất phong phú, mỗi cháu một vẻ, một tính cách, do đó giáo viênmầm non phải là người có lòng vị tha, rộng lượng với những em, cũng như chuẩn bị sẵn sàng san sẻ và hợp tácvới những cha mẹ để chăm nom giáo dục trẻ. + Tính phong phú. Trước hết giáo viên mầm non là người mê hoặc, vui mừng, có sự phong phú vàlinh hoạt, nhờ đó mà giáo viên nhanh gọn thích nghi với những thực trạng, điều kiện kèm theo thao tác vớicác trẻ khác nhau. + Tính sáng sủa. Là người luôn có cách nhìn sáng sủa về bản thân, luôn tự hào với việclàm trong nghành nghề dịch vụ mầm non và tự hào về nghề giáo dục mầm non. Đồng thời là người sáng sủa tintưởng vào việc làm và sự thành công xuất sắc trong việc làm của mình, đem lại sự tốt đẹp cho sự pháttriển của trẻ và xã hội. + Có năng lực gây ảnh hưởng tác động tốt đến sự tăng trưởng trẻ nhỏ. Là một người thực sự thươngyêu trẻ và chuẩn bị sẵn sàng bảo vệ trẻ nhỏ ; khuyến khích, hướng dẫn trẻ học tập và đi dạo ; tháo vát, linhhoạt và phát minh sáng tạo, gương mẫu trước mặt trẻ và tạo được môi trường học tập thân thiện so với trẻ ; Nhân hậu và có lòng vị tha so với mọi người. Mặt khác, giáo viên mầm non là người có ảnh hưởnglớn đến những thành viên trong hội đồng và cha mẹ để giáo dục những em. + Có kỹ năng và kiến thức tiếp xúc tốt với mọi người. Là người có kĩ năng tiếp xúc tốt với trẻ và vớimọi người xung quanh, bởi giáo viên mầm non liên tục tiếp xúc với trẻ, với những thành viêntrong mái ấm gia đình của trẻ, với giáo viên và những nhân viên cấp dưới khác trong trường, với mọi người trong cộngđồng hay với những Ban ngành. Kỹ năng tiếp xúc của giáo viên mầm non sẽ giúp tạo được niềm tin cậy ở người khác, đặc biệt quan trọng là với trẻ nhỏ. Giao tiếp với mọi người thân thiện và chân thành. + Có năng lực tạo được sự ủng hộ, sự tương hỗ. Trước hết là khơi gợi được sự tích cực củatrẻ tham gia vào những hoạt động giải trí trong lớp ; tuyên truyền, lôi kéo và hấp dẫn được sự ủng hộ của cácbậc cha mẹ, mọi người trong hội đồng tham gia vào quy trình giáo dục trẻ như : sự phối hợpcủa cha mẹ và mọi người trong hội đồng vào quy trình chăm nom giáo dục trẻ ; nhận được sựủng hộ về niềm tin và vật chất góp phần vào thiết kế xây dựng nhà trường … Giáo viên mầm non không chỉ21đóng vai trò trong việc chăm nom, nuôi dưỡng, dạy dỗ trẻ, mà còn là nhà tư vấn, nhà tuyên truyền vềphương pháp chăm nom, nuôi dạy và giáo dục trẻ ở những lứa tuổi trong nghành nghề dịch vụ mầm non. + Có năng lực lập kế hoạch và thiết kế xây dựng những bài dạy tương thích với đối tượng người dùng trẻ nhỏ nhỏtuổi. Một người giáo viên mầm non chuyên nghiệp phải có năng lực lựa chọn và đưa ra những bài họcphù hợp với từng đối tượng người tiêu dùng / toàn bộ trẻ nhỏ lứa tuổi mầm non không nhờ vào vào lứa tuổi, giới tính, môi trường tự nhiên tăng trưởng khác nhau, nguồn gốc tôn giáo, sắc tộc, tình hình kinh tế tài chính, văn hoá mái ấm gia đình, quan điểm chính trị … Giáo viên mầm non không có sự phân biệt đối xử với những trẻ mà luôn tôntrọng trẻ và sự phong phú của những trẻ trong lớp, đồng thời tổ chức triển khai thiên nhiên và môi trường giáo dục thân thiện, phùhợp với sự tăng trưởng của những em. + Biết gật đầu, đồng cảm. Một người giáo viên mầm non cần phải biết đồng ý cácgiá trị, sự phong phú về văn hoá, những quan điểm và quyền hạn của những người khác và đồng cảm nhucầu, trình độ và năng lực của trẻ, mái ấm gia đình của trẻ, hội đồng, xã hội. Mỗi trẻ nhỏ có nhu yếu riêng, xuất phát từ những thực trạng mái ấm gia đình khác nhau yên cầu giáo viên mầm non gật đầu và luônluôn đồng cảm những nhu yếu riêng của những em và của mái ấm gia đình những em, tôn trọng sự độc lạ củatrẻ, đồng thời cũng sẵn sàng chuẩn bị san sẻ những nhu yếu và sở trường thích nghi của những em, thực trạng riêng của giađình những em. + Có kỹ năng và kiến thức quan sát tốt. Đây là kỹ năng và kiến thức rất thiết yếu để hoàn toàn có thể hiểu được sự phát triểncũng như cách học của trẻ, từ đó hoàn toàn có thể đưa ra được cách tiếp cận trong giáo dục trẻ một cách phùhợp nhất. Giáo viên mầm non cần có kĩ năng tìm hiểu và khám phá đối tượng người tiêu dùng giáo dục / trẻ nhỏ ở từng độ tuổikhác nhau, biết quan sát và nhận ra những sự đổi khác khác thường ở trẻ, nhận ra sự tiến triển vànhững thành công xuất sắc ở trẻ. Khả năng quan sát tinh tường và nhận ra sự đổi khác rất nhỏ ở trẻ là một kĩnăng quan trọng cần hình thành ở giáo viên mầm non. + Có kỹ năng và kiến thức đưa ra lao lý. Giáo viên mầm non đã có những nhận thức thiết yếu về trẻem và hoàn toàn có thể đưa ra những pháp luật tương thích với chúng, buộc trẻ nhỏ phải học cách tuân thủ nhữngquy định chung ở lớp, ở nơi công cộng ; những quy tắc ứng xử đối giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên và môi trường sống và có giải pháp giúp trẻ nhỏ tuân thủ những pháp luật chungnơi công cộng. + Có năng lực tạo ra sự tiếp nối. Giáo viên mầm non cần có năng lực tạo ra sự tiếp nốicho trẻ từ nền giáo dục mái ấm gia đình với giáo dục nhà trường, nền tảng giáo dục mầm non với giáo dụctiểu học sau này ; liên kết giáo dục nhà trường với xã hội, với môi trường tự nhiên sống. Cần tạo ra sự bổsung chứ không phải là sự tái diễn hay sự thay thế sửa chữa những kiến thức và kỹ năng sẵn có từ trước ở trẻ nhỏ. + Có kiến thức và kỹ năng, kĩ năng và thói quen lập kế hoạch, tổ chức triển khai những hoạt động giải trí giáo dục trẻmầm non, biết nhìn nhận đúng sự tăng trưởng của trẻ trong quy trình giáo dục để kiểm soát và điều chỉnh cácchương trình giáo dục tương thích với sự tăng trưởng của trẻ nhỏ. Khi phong cách thiết kế chương trình và kế hoạchgiáo dục trẻ mầm non, giáo viên phải địa thế căn cứ trên sự hứng thú, nhu yếu, sở trường thích nghi và vốn kinhnghiệm, hiểu biết sẵn có của trẻ, kịp thời kiểm soát và điều chỉnh quy trình dạy học cho tương thích với đặc thù cánhân trẻ và với nhu yếu chung của xã hội. + Có năng lực quản lí học viên. Giáo viên mầm non cần có năng lực quản lí học viên, bởitrong một lớp có nhiều trẻ với những nhu yếu và sở trường thích nghi khác nhau, đặc thù tăng trưởng tâm sinh líriêng của từng trẻ, đặc trưng học tập riêng của từng trẻ … Quản lí trẻ được bộc lộ qua việc nắm rõ sốlượng học viên của lớp và đặc thù tăng trưởng của những em, nhu yếu và sở trường thích nghi của từng trẻ, thiênhướng tăng trưởng của chúng … để từ đó có những giải pháp giáo dục tương thích với lứa tuổi của trẻ. 22V ậy giáo viên mầm non là người chăm nom và giáo dục trẻ, là người mẹ thứ hai của những em, vừa là bác sỹ vừa là nghệ sỹ ; đồng thời giáo viên mầm non còn là nhà tư vấn giáo dục, nhà tổ chứcquản lí lớp học, nhiều lúc còn là người làm công tác làm việc tuyên truyền viên trong công tác làm việc giáo dục trẻ tạicộng đồng. 3.2. Đặc thù hoạt động giải trí sư phạm của giáo viên mầm nonĐối với trẻ mầm non, hoạt động học của chúng mang tính đặc trưng riêng. Trẻ “ học ” và lĩnh hộicác tri thức tiền khoa học, dưới sự tổ chức triển khai và tinh chỉnh và điều khiển của giáo viên, trải qua quy trình giáo dụcnhằm tăng trưởng những mặt : sức khỏe thể chất, nhận thức, ngôn từ, tình cảm xã hội, nghệ thuật và thẩm mỹ trên cơ sở đó, hình thành và tăng trưởng những tiềm năng, năng lượng người nói chung, những kỹ năng và kiến thức sống cần thiếtcho bản thân, tương thích với nhu yếu của hội đồng, địa phương, chuẩn bị sẵn sàng tốt cho trẻ vào học ở tiểuhọc. Trẻ mầm non “ học ” nhận ra sự vật hiện tượng kỳ lạ và hình thành những khái niệm tốt nhất qua cáchoạt động thưởng thức, qua tò mò, tìm tòi dưới sự tổ chức triển khai và hướng dẫn của giáo viên. Mặtkhác, trẻ mầm non “ học mà chơi, chơi mà học ” – đó là thực chất học của trẻ mầm non. Nhận thức củatrẻ đi từ thử nghiệm đến nhận ra, hiểu và thưởng thức vào đời sống để biến thành vốn hiểu biết vàkinh nghiệm cá thể. Trẻ mầm non chưa ý thức được mục tiêu hoạt động giải trí của mình, chơi hay làhọc, nên thường thiếu dữ thế chủ động, nhiều khi trẻ hành vi mang tính tự phát, ngẫu hứng. Đồng thờikhả năng tự điều khiển và tinh chỉnh bản thân của trẻ còn yếu. Do đó, để giúp trẻ nhận thức hay “ học ” được mộtđiều gì đó, người giáo viên cần có kế hoạch “ dạy ” đơn cử và linh động nhằm mục đích tu dưỡng khả năngđịnh hướng, tăng trưởng tính chủ đích và tích cực nhận thức ở trẻ. Mặt khác việc học của trẻ cùngcần phải liên tục ôn luyện và củng cố, liên hệ và vận dụng để việc học của trẻ gắn với thực tiễn, trẻ hiểu được thực chất của sự vật hiện tượng kỳ lạ, phía đằng sau của đời sống. Trong hoạt động giải trí sư phạm của giáo viên mầm non thì giáo viên và trẻ đều là chủ thể của hoạtđộng. Song hoạt động giải trí sư phạm của giáo viên mầm non có đặc thù riêng, độc lạ hẳn với hoạtđộng sư phạm của giáo viên của những bậc học khác, bởi đối tượng người tiêu dùng của hoạt động giải trí sư phạm của giáoviên mầm non là trẻ nhỏ rất nhỏ, mới khởi đầu hình thành và tăng trưởng những phẩm chất khởi đầu củanhân cách trải qua việc chăm nom, giáo dục giữa cô với trẻ ; và trải qua hoạt động giải trí tiếp xúc ( gồmgiao tiếp giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ ). Đồng thời giáo viên tổ chức triển khai những hoạt động giải trí giáo dục đều phảidựa vào phương pháp học cơ bản của trẻ : – Trẻ em học qua phương pháp bắt chước ; – Trẻ em học qua thực hành thực tế, hành vi, làm thí nghiệm / thực nghiệm, thưởng thức, chơi tròchơi … – Trẻ em học qua san sẻ, trao đổi, bàn luận, trò chuyện … – Trẻ em học qua suy ngẫm, suy luận, tâm lý và liên tưởng, liên hệ, phỏng đoán, để nêu ranhững nhận xét, đánh giá và nhận định hay Tóm lại, trình diễn quan điểm lý giải hay lí giải về quan điểm đã nêu. Hoạt động sư phạm của giáo viên mầm non gồm : – Tổ chức những hoạt động giải trí chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ dưới 6 tuổi nhằm mục đích tăng trưởng tốt nhất về thểchất, ý thức và xã hội ; Đưa ra những lời khuyên đúng đắn cho cha mẹ của trẻ về cách chăm nom, nuôi nấng, dạy dỗ và giáo dục trẻ tại mái ấm gia đình có hiệu suất cao nhất, nhằm mục đích tạo ra một sự như nhau trongquá trình giáo dục giữa nhà trường và mái ấm gia đình. – Xây dựng một môi trường học tập tích cực cho trẻ nhỏ và lập kếhoạch dạy học và giáo dục trong đó sử dụng những nguyên vật liệu thân thiện ở địa phương vàphương pháp dạy học được phong cách thiết kế để phân phối nhu yếu học tập của trẻ. 23 – Giám sát trẻ trong những hoạt động giải trí chơi, hoạt động giải trí phát minh sáng tạo nhằm mục đích giúp trẻ tăng trưởng tính tựlập và tự tin, tính tò mò ham hiểu biết và thích mày mò ; tăng trưởng những thiên hướng cá thể vàhọc cách ứng xử với mọi người. Giáo viên mầm non đưa ra những thời cơ học tập trải qua cáchoạt động chăm nom và giáo dục cơ bản ở trường mầm non. – Cung cấp những bữa ăn có đủ dinh dưỡng và ăn phụ. Hình thành ở trẻ những thói quen tốt về ănuống và rèn luyện nền nếp, thói quen vệ sinh cá thể. Quan sát để phân biệt và phát hiện ra nhữngdấu hiệu stress, ốm đau ; những yếu tố biến hóa trong tình cảm / xúc cảm của trẻ. – Thiết kế và tăng trưởng những hoạt động giải trí hằng ngày. Cân đối giữa thời hạn tĩnh – động trong mộtngày, hoạt động giải trí chơi theo nhóm – cá thể – cả lớp nhằm mục đích bảo vệ sự tăng trưởng tốt cho trẻ. – Thực hiện những nhìn nhận, giữ gìn những thành tích của lớp, viết báo cáo giải trình và tổ chức triển khai thựchiện những việc làm cá thể và nhóm / lớp. Giáo viên mầm non cũng hoàn toàn có thể hấp dẫn phụ huynhcùng tham gia vào quy trình giáo dục và phối tích hợp với cha mẹ, đồng nghiệp, hiệu trưởng, cánbộ quản lí để xử lý kịp thời những yếu tố có tương quan đến trẻ nhỏ. Giáo viên mầm non là người có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng nhân cách của trẻ nhỏ. Bằng cách này hay cách khác, giáo viên mầm non khám phá đặc thù tăng trưởng tâm sinh lí và đặcđiểm học của trẻ dưới 6 tuổi để tìm cách giúp trẻ tăng trưởng tổng lực và hòa giải, hình thành nhữnggiá trị như : tính phát minh sáng tạo, lòng tự trọng, sự tự tin, kĩ năng tiếp xúc xã hội … và cũng rất quan trọngnếu như giáo viên mầm non khơi gợi và duy trì được sự hứng thú và động cơ học tập của trẻ. Giáo viên mầm non thao tác 8 tiếng / ngày và 5 ngày / tuần với trẻ nhỏ ở trường. Đồng thời, giáo viên mầm non còn chịu nhiều áp lực đè nén về sự bảo đảm an toàn so với tính mạng con người và sức khỏe thể chất của trẻ. Cóthể thấy, nghề giáo viên mầm non rất khó khăn vất vả, nhưng ai đã làm nghề giáo viên mầm non cũng đều cóđược những niềm vui và niềm hạnh phúc khi thấy trẻ nhỏ đổi khác và lớn lên từng ngày. Sự biến hóa ở trẻem lứa tuổi này không riêng gì sự lớn lên về mặt thể lực, mà ở sự biến hóa và tăng trưởng những chứcnăng tâm lí, sự lớn khôn về mặt nhận thức, ngôn từ, giao tiếp ứng xử xã hội … Lao động của giáo viên mầm non thực sự là hoạt động giải trí sư phạm, do đó cần xem xét nó theocấu trúc hoạt động giải trí như sau : 3.2.1. Mục đích hoạt động giải trí sư phạm của giáo viên mầm nonTheo Điều 2 của Luật Giáo dục của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Nước Ta : “ Mục tiêugiáo dục là giảng dạy con người Nước Ta tăng trưởng tổng lực, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩmmỹ và nghề nghiệp, trung thành với chủ với lí tưởng độc lập dân tộc bản địa và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồidưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lượng của công dân, phân phối nhu yếu thiết kế xây dựng và bảo vệ Tổquốc ”. Đây chính là một xu thế quan trọng của nền giáo dục Nước Ta và lao động sư phạmcủa người giáo viên ở bất kỳ bậc học nào, cấp học nào đều Giao hàng theo tiềm năng đó. Lao động sư phạm của giáo viên mầm non là mô hình lao động có ý nghĩa như thể một yếu tốxã hội góp thêm phần “ phát minh sáng tạo ra con người ”, bước khởi đầu cải biến con người tự nhiên thành conngười xã hội, tạo dựng nên con người phân phối nhu yếu của thời đại mới. Sản phẩm của lao động đặcthù này cũng tạo ra những nét độc lạ – đó là lao động sản xuất ra nhân cách, sản xuất ra giá trịnhân bản với sự tổng hoà của những mối quan hệ xã hội. Lứa tuổi mầm non là tiến trình đặt nền móngban đầu của hình thành nhân cách, do đó lao động sư phạm của giáo viên mầm non có một sắc tháirất riêng, khác hẳn so với giáo viên của những bậc học khác là tạo bước khởi đầu quan trọng trong việchình thành tăng trưởng nhân cách vĩnh viễn sau này của con người mới. 243.2.2. Đối tượng hoạt động giải trí sư phạm của giáo viên mầm nonBất cứ mô hình lao động nào cũng có đối tượng người dùng ảnh hưởng tác động. Hoạt động lao động sư phạm củagiáo viên mầm non có đối tượng người tiêu dùng ảnh hưởng tác động rất đặc biệt quan trọng – là trẻ nhỏ dưới 6 tuổi ( 72 tháng tuổi ), là tuổibắt đầu hình thành nhân cách, lĩnh hội tri thức, tăng trưởng trí tuệ, hình thành phẩm chất đạo đức conngười. Đối tượng của giáo dục nói chung là con người. Đối tượng của giáo dục mầm non là trẻ emtrước tuổi đến trường ( từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi ). Thành quả lao động sư phạm của giáo viên mầmnon là sự tăng trưởng tòan diện và hài hoà của đứa trẻ, mà sự tăng trưởng đó lại phụ thuộc vào nhiều vàođạo đức, trí tuệ, trình độ nhiệm vụ và thẩm mỹ và nghệ thuật sư phạm, năng lượng tiếp xúc sư phạm của ngườigiáo viên. Ngoài ra sự tăng trưởng của trẻ còn nhờ vào vào những yếu tố khác như : thiên nhiên và môi trường giađình ( văn hoá, giáo dục, kinh tế tài chính, lối sống … ), trạng thái tâm ý, năng lực nhận thức hành vi, cáchứng xử của trẻ và môi trường tự nhiên xã hội, nơi trẻ sinh ra và lớn lên. Để thực thi tốt hoạt động giải trí sư phạm mầm non, vai trò của người giáo viên mầm non thậtkhông đơn thuần. Thực hiện được nó, yên cầu người giáo viên mầm non phải dựa trên cơ sở những trithức, kỹ năng và kiến thức chăm nom giáo dục trẻ con, nắm vững những thành tựu khoa học tâm ý giáo dục hiệnđại về trẻ nhỏ mầm non, đồng thời phải am hiểu đặc thù và trình độ tăng trưởng về mọi mặt của trẻem lứa tuổi này. Theo K.Đ.Usinxki : “ Muốn giáo dục con người về mọi phương diện thì trước hết phải hiểucon người về mọi phương diện ”. Như vậy muốn đạt được hiệu suất cao dạy dỗ và giáo dục như mongmuốn thì giáo viên phải nghiên cứu và điều tra và hiểu rất rõ những đặc thù tăng trưởng của trẻ, lựa chọn đúngnhững tác động ảnh hưởng sư phạm mềm dẻo, tương thích với từng đối tượng người dùng, phát huy tối đa tiềm năng của trẻvà vai trò chủ yếu của mình. 3.2.3. Công cụ lao động sư phạm của giáo viên mầm nonMỗi nghề có đối tượng người tiêu dùng khác nhau, công cụ và mẫu sản phẩm lao động khác nhau. Công cụ lao độngsư phạm của giáo viên mầm non chính là nhân cách của người giáo viên. Giáo viên có công cụ đặcbiệt đó là trí tuệ và phẩm chất của mình. Nhân cách của giáo viên như thể một công cụ lao động thựcsự, nó sẽ phát huy tính năng can đảm và mạnh mẽ khi giáo viên có sức thuyết phục lớn so với trẻ và những ngườixung quanh. Sự hình thành và tăng trưởng nhân cách của trẻ là mẫu sản phẩm giáo dục. Để bảo vệ chất lượng chăm nom giáo dục trẻ, giáo viên mầm non không ngừng phấn đấuvươn lên. Trước hết giáo viên phải có năng lượng lựa chọn tri thức cơ bản, tân tiến, thiết thực, phùhợp với tiềm năng giáo dục trẻ mầm non, không ngừng nâng cao trình độ của bản thân, hoàn thiệnnhân cách, đạo đức, trình độ nhiệm vụ, độc lập phát minh sáng tạo, đặc biệt quan trọng học hỏi, khám phá cácphương pháp dạy học tân tiến, sử dụng thành thạo những phương tiện đi lại dạy học tiên tiến và phát triển để truyền tảikiến thức tới trẻ bằng con đường ngắn nhất và hiệu suất cao nhất. Để giáo dục trẻ mầm non có hiệu quảthì giáo viên mầm non hiểu và tổ chức triển khai những hoạt động giải trí chủ yếu cho trẻ theo từng độ tuổi tương thích : vớitrẻ dưới 1 tuổi là hoạt động giải trí giao lưu xúc cảm ; trẻ từ 1 – 3 tuổi là hoạt động giải trí với vật phẩm ; trẻ từ 3 – 6 tuổilà hoạt động giải trí đi dạo. 3.2.4. Sản phẩm lao động sư phạm của giáo viên mầm nonMục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ nhỏ tăng trưởng về sức khỏe thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩmmỹ, hình thành những yếu tố tiên phong của nhân cách, chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ nhỏ vào lớp một ; hình thành25

Source: https://evbn.org
Category: Giáo Viên