Claudio Bravo – Wikipedia tiếng Việt
Claudio Andrés Bravo Muñoz (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ˈklauðjo ˈβɾaβo]; sinh ngày 13 tháng 4 năm 1983) là một thủ môn bóng đá chuyên nghiệp người Chile hiện đang chơi cho câu lạc bộ Real Betis và là Đội trưởng Đội tuyển quốc gia Chile.
Anh dành phần nhiều sự nghiệp cầu thủ của mình chơi cho câu lạc bộ Real Sociedad ở Tây Ban Nha, tham gia 237 trận đấu chính thức. Anh khởi đầu chơi năm 2002 với Colo-Colo .
Bravo thi đấu cùng Chile trong 2 kì World Cup và 3 giải Copa América.
Bạn đang đọc: Claudio Bravo – Wikipedia tiếng Việt
Mục Lục
Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa|sửa mã nguồn]
Bravo sinh ra ở Viluco, tỉnh Maipo. Bố anh là người đã phát hiện tài năng đang trỗi dậy của con trai mình đưa anh đến đội trẻ Colo-Colo, và cuối cùng anh đã được ra mắt một cách chuyên nghiệp trong năm 2002. Ở đó, anh được gán biệt danh Condor Chico, sau cựu thủ môn của câu lạc bộ Roberto Rojas.
Sau chấn thương của Eduardo Lobos, quản trị Jaime Pizarro đã dành cho Bravo thời cơ tiên phong, tuy nhiên đó cũng chỉ là một thời cơ ngắn ngủi, bởi lẽ sau đó anh cũng dính chấn thương, nhưng việc này đã nhắc nhở Jonny Walker hợp đồng ký kết tiếp theo .
Bravo trở lại sau chấn thương vào giữa năm 2003 trong khi Lobos vẫn chưa hồi phục, anh đã được đảm nhận vai trò đầu tiên mà anh sẽ không còn đánh mất lần nữa, vì lúc này người cạnh tranh vị trí của anh đã được chuyển nhượng đi nơi khác. Năm 2006 anh đã giành được danh hiệu đầu tiên, thực hiện cú nhào lộn bảo vệ khung thành trong loạt sút penalty ở vòng chung kết giải Apertura’, nơi mà anh và các đồng đội đã giành chiến thắng trước đối thủ C.F. Universidad de Chile.
Ở mùa giải năm 2006 – 07 Bravo ký kết một hợp đồng 5 năm với câu lạc bộ Real Sociedad ở Tây Ban Nha, [ 1 ] với một thỏa thuận hợp tác theo báo cáo giải trình trị giá 1.2 triệu € – [ 2 ] anh và Asier Riesgo tạo nên bộ đôi cầu thủ có tuổi đời trẻ nhất vào năm đó ở La Liga. Anh khởi đầu trên băng ghế dự bị, nhưng sau cuối cũng được ra tranh tài ( 29 trận ) vì những đội bóng xứ Basque đã bị xuống hạng ( mặc dầu vậy, anh đã về ở vị trí thứ năm cho Cúp Ricardo Zamora với trung bình hiệu số bàn thắng bại là 1.00 ) ; trận đấu mùa giải tiên phong của anh đến vào ngày 22 tháng 10 năm 2006, trong trận hòa 0-0 với RCD Mallorca. [ 3 ]Mùa giải tiếp theo ở Segunda Devision 2007 – 08, Riesgo trở lại vị trí khởi đầu của anh. Tuy nhiên mùa giải 2008 – 09, sau hợp đồng cho mượn tới Recreativo de Huelva, Bravo một lần nữa là người khởi đầu, nhưng Real vẫn duy trì trong giải Segunda Devision .Vào ngày 14 tháng 2 năm 2010 Bravo đã ghi bàn thắng tiên phong trong sự nghiệp, từ quả đá phạt trực tiếp trước Gimnàstic de Tarragona, trận đấu chỉ mang tính thắng lợi trong nội bộ. [ 4 ] [ 5 ] Tuy nhiên, sau đó không lâu, anh dính phải một chấn thương đầu gối nghiêm trọng trong trận thua 0-2 của Real Sociedad trước Córdoba CF, điều này khiến anh không còn năng lực ra sân không phần còn lại của giải đấu Segunda División 2009 – 10. [ 6 ] Anh vẫn dự khán 25 trận đấu để giúp đội bóng của mình giành chức vô dịch và trở lại bộ phận đứng vị trí số 1, sau 3 năm .
Bravo gia nhập Barcelona vào ngày 18 tháng 6 năm năm trước với hợp đồng 12 triệu € gia hạn 4 năm có hiệu lực hiện hành từ ngày 1 tháng 7. [ 7 ] [ 8 ]
Sự nghiệp quốc tế[sửa|sửa mã nguồn]
Bravo là đại diện thay mặt cho U17, U20 và U23 Chile. Anh ra đời lần tiên phong với đội hình chính vào ngày 11 tháng 7 năm 2004 trước Paraguay trong khuôn khổ giải Copa América năm 2004, và giữ nguyên vị trí đó trong suốt vòng loại World Cup 2006 .
Bravo một lần nữa được gọi vào đội hình ở Copa América 2007 tổ chức ở Venezuela, nơi mà anh bắt chính cả bốn trận. Anh trở thành đội trưởng của đội tuyển quốc gia sau khi Marcelo Salas tuyên bố sẽ chấm dứt sự nghiệp cầu thủ quốc tế.
Trong World Cup 2010 ở Nam Phi, Bravo bắt chính cho cả bốn trận đấu cho Chile ( còn với vai trò đội trưởng ), để thủng lưới 5 bàn trong vòng 16 đội ( thua 0 – 3 trước Brazil ). [ 9 ] Anh liên tục có tên trong list đội hình tham gia hai kỳ Copa América năm ngoái tổ chức triển khai tại quê nhà Chile và Copa América Centenario tổ chức triển khai tại Hoa Kỳ, hai giải đấu mà anh cùng đồng đội giành chức vô địch hai giải liên tục trong lịch sử vẻ vang sau khi vượt qua đội tuyển Argentina ở loạt sút luân lưu 11 m sau khi hai đội hòa nhau với tỉ số không bàn thắng trong suốt 120 phút tranh tài chung kết .
Thống kê sự nghiệp[sửa|sửa mã nguồn]
Câu lạc bộ[sửa|sửa mã nguồn]
- Tính đến 13 tháng 5 năm 2021
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia | Châu lục | Khác | Tổng cộng | |||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Colo-Colo | 2003 | 25 | 0 | — | — | 1 | 0 | — | 26 | 0 | |
| 2004 | 40 | 0 | — | — | 5 | 0 | — | 45 | 0 | ||
| 2005 | 39 | 0 | — | — | 2 | 0 | — | 41 | 0 | ||
| 2006 | 19 | 0 | — | — | 2 | 0 | — | 21 | 0 | ||
| Tổng cộng | 123 | 0 | — | — | 10 | 0 | — | 133 | 0 | ||
| Real Sociedad | 2006–07 | 29 | 0 | 1 | 0 | — | — | 30 | 0 | ||
| 2007–08 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | — | 0 | 0 | |||
| 2008–09 | 32 | 0 | 0 | 0 | — | — | 32 | 0 | |||
| 2009–10 | 25 | 1 | 0 | 0 | — | — | 25 | 1 | |||
| 2010–11 | 38 | 0 | 0 | 0 | — | — | 38 | 0 | |||
| 2011–12 | 37 | 0 | 0 | 0 | — | — | 37 | 0 | |||
| 2012–13 | 31 | 0 | 0 | 0 | — | — | 31 | 0 | |||
| 2013–14 | 37 | 0 | 0 | 0 | 7 | 0 | — | 44 | 0 | ||
| Tổng cộng | 229 | 1 | 1 | 0 | 7 | 0 | — | 237 | 1 | ||
| Barcelona | 2014–15 | 37 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | — | 37 | 0 | |
| 2015–16 | 32 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 3 | 0 | 35 | 0 | |
| 2016–17 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 2 | 0 | 3 | 0 | |
| Tổng cộng | 70 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 5 | 0 | 75 | 0 | |
| Manchester City | 2016–17 | 22 | 0 | 4 | 0 | 4 | 0 | — | 30 | 0 | |
| 2017–18 | 3 | 0 | 3 | 0 | 6 | 0 | 1 | 0 | 13 | 0 | |
| 2018–19 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 0 | 1 | 0 | |
| 2019–20 | 4 | 0 | 4 | 0 | 6 | 0 | 2 | 0 | 17 | 0 | |
| Tổng cộng | 29 | 0 | 11 | 0 | 12 | 0 | 5 | 0 | 61 | 0 | |
| Real Betis | 2020–21 | 18 | 0 | 1 | 0 | — | — | 19 | 0 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 461 | 1 | 13 | 0 | 12 | 0 | 22 | 0 | 513 | 1 | |
Đội tuyển vương quốc[sửa|sửa mã nguồn]
- Tính đến 24 tháng 3 năm 2022
| Chile | ||
|---|---|---|
| Năm | Trận | Bàn |
| 2004 | 1 | 0 |
| 2005 | 3 | 0 |
| 2006 | 5 | 0 |
| 2007 | 12 | 0 |
| 2008 | 10 | 0 |
| 2009 | 9 | 0 |
| 2010 | 8 | 0 |
| 2011 | 14 | 0 |
| 2012 | 4 | 0 |
| 2013 | 12 | 0 |
| 2014 | 9 | 0 |
| 2015 | 12 | 0 |
| 2016 | 11 | 0 |
| 2017 | 9 | 0 |
| 2019 | 4 | 0 |
| 2020 | 2 | 0 |
| 2021 | 16 | 0 |
| 2022 | 2 | 0 |
| Tổng cộng | 143 | 0 |
Câu lạc bộ[sửa|sửa mã nguồn]
Colo-Colo
- Giải vô địch bóng đá Chile: Apertura 2006
Real Sociedad
Barcelona
Manchester City
Siêu cúp Anh: 2019
Đội tuyển vương quốc[sửa|sửa mã nguồn]
- Vô địch: 2015, 2016
Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]
Source: https://evbn.org
Category: Giải Đấu


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


