Bài thi Triết học Mác Lênin 20-21 – TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021 (Phần – StuDocu
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021
(Phần dành cho sinh viên/ học viên)
Bài thi học phần: ..ết học Mác- Lênin……
Mã số đề thi: 04
Ngày thi: ../05/2021…………………….
Số báo danh:
Lớp:
Họ và tên:
Điểm kết luận: GV chấm thi 1: ………………………………….
GV chấm thi 2: ………………………………….
Bạn đang đọc: Bài thi Triết học Mác Lênin 20-21 – TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ II NĂM HỌC 2020 – 2021 (Phần – StuDocu
Đề bài
Câu 1: Anh/chị hãy trình bày nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật từ những
thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại. Vận dụng quy luật này vào
trong quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên.
Câu 2: Từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, anh/chị hãy chứng minh đường lối đổi
mới đúng đắn là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Bài làm
Câu 1: Em xin trình bày vấn đề này như sau:
Phần I: Những vấn đề lý luận của quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
đổi về chất và ngược lại:
Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách
thức chung nhất của sự vận động và phát triển, theo đó sự phát triển được tiến hành theo cách
thức thay đổi lượng đạt đến ngưỡng nhất định dẫn đến chuyển hóa về chất của sự vật và đưa
sự vật sang một trạng thái phát triển tiếp theo. Ph.Ăng-ghen đã khái quát quy luật này :
“ Những thay đổi đơn thuần về lượng, đến một mức độ nhất định, sẽ chuyển hóa thành những
sự khác nhau về chất ”— Ph.Ăng-ghen.
1, Khái niệm lượng, chất:
+Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, biểu thị số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu và sự vận động phát triển của sự vật cũng như các thuộc
tính của nó.
+Chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua sự thống nhất hữu cơ giữa các thuộc tính và các yếu
tố cấu thành sự vật, hiện tượng để làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải những thứ
khác.
2, Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất:
– Chất và lượng là hai mặt đối lập: chất tương đối ổn định còn lượng thường xuyên
biến đổi. Song, hai mặt đó không tách rời mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự
thống nhất giữa chất và lượng ở trong một độ nhất định khi sự vật đang tồn tại.
+Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là khoảng
giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật.
Điểm giới hạn là khi lượng đạt tới sẽ làm thay đổi về chất của sự vật thì gọi là điểm nút.
+Điểm nút: Sự thay đổi về chất qua điểm nút được gọi là bước nhảy. Đó là bước ngoặt
căn bản kết thúc một giai đoạn trong sự biến đổi về lượng, là sự gián đoạn trong quá trình
biến đổi liên tục của các sự vật. Do vậy có thể nói phát triển là sự “đứt đoạn” trong liên tục, là
trạng thái liên hợp của các điểm nút.
Trong chất sinh viên Đại học Thương Mại kéo dài từ năm 2020 đến năm 2024, khi đó
lượng không ngừng được tăng lên, đó chính là kiến thức. Cũng như học sinh phổ thông, sinh
viên Đại học muốn có được tấm bằng Đại học phải tích lũy đủ số tín chỉ học phần. Tuy nhiên
việc tích lũy kiến thức ở Đại học có nhiều khác biệt, đó là sinh viên không thể thụ động tiếp
thu kiến thức mà còn phải tự tìm tòi, nghiên cứu từ những kiến thức mới qua những chỉ dẫn
của giảng viên. Nó không chỉ bao gồm những kiến thức cơ bản trong giáo trình mà kiến thức
còn đến từ việc trải nghiệm các tình huống ngoài xã hội. Kiến thức còn vô cùng phong phú từ
đa dạng đến chuyên sâu, từ cơ bản đến nâng cao, từ ít đến nhiều. Do vậy, trình độ, kết cấu
cũng như quy mô nhận thức của sinh viên cũng được thay đổi, tầm tri thức của sinh viên được
nâng cao và cải thiện hơn qua từng giai đoạn. Tuy nhiên qúa trình đó chưa đủ để làm thay đổi
về chất. Chất của sinh viên Thương Mại chỉ có thể được thay đổi khi lượng kiến thức của sinh
viên đó đủ để vượt qua các điểm nút tức là những kì thi, các kì kiểm tra. Trong đó điểm nút
quan trọng nhất là sau khi viết luận văn, luận án, đến ngày nhận bằng tốt nghiệp. Đó chính là
điểm nút lớn nhất đánh dấu “bước nhảy” từ một sinh viên Thương Mại trở thành một cử nhân
Thương Mại. Điều đó chứng minh rằng lượng (kiến thức) được tích lũy qua 4 năm học đã đủ
để làm chất sinh viên Thương Mại thay đổi. Ngoài ra, là một sinh viên Thương Mại, ta phải
tự trang bị cho mình tính tích cực, tự chủ, nghiêm túc, trung thực. Trong một kì thi, nếu gian
lận để một kết quả tốt thì dù ta có thể qua được kì thi, nhưng về bản chất thì vẫn chưa có được
biến đổi nào về chất, khi học những kiến thức sâu hơn, khó hơn chắc chắn ta sẽ không tiếp
thu được. Và vì thế dù có trải qua 4 năm đào tạo hệ đại học với tấm bằng loại Giỏi hay Xuất
sắc thì ta vẫn không đáp ứng được yêu cầu công việc sau này.
Bên cạnh đó, sau khi thay đổi chất mới cũng tác động ngược lại đến lượng. Đó là khi
trở thành cử nhân Thương Mại việc tiếp thu kiến thức chuyên ngành hay kĩ năng xử lý các
tình huống và khả năng giao tiếp, ứng xử cũng trở nên tốt hơn khi còn là sinh viên. Điều này
thúc đẩy cử nhân Thương Mại tiếp tục tiếp thu những tri thức mới ở cấp độ cao hơn để hoàn
thiện bản thân.
Câu 2: Em xin trình bày vấn đề như sau:
Phần 1 : Nội dung tính độc lập tương đối của ý thức xã hội :
Từ những quan điểm của Các. Ph.Ăngghen và V.Iênin, chúng ta có thể hiểu khái
niệm ý thức xã hội là thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội, bao gồm những quan điểm, tư
tưởng, học thuyết, lý thuyết và những tình cảm, tâm trạng, truyền thống, tập quán, ..ản
ánh sống sót xã hội trong những quy trình tiến độ lịch sử dân tộc nhất định và có tính độc lập tương đối với sống sót xã hội. Do đó, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội có nghĩa là : ý thức xã hội do sống sót xã hội quyết định hành động, nhưng ngay trong quy trình phản ánh ấy cũng như sau khi sinh ra, ý thức xã hội có đời sống riêng, có quy luật hoạt động, tăng trưởng riêng của nó. Tính độc lập tương đối bộc lộ ở những điểm sau đây : a, Ý thức xã hội thường lạc hậu so với sống sót xã hội : – Một là, ý thức xã hội chỉ là cái phản ánh của sống sót xã hội nên luôn đổi khác sau khi sống sót xã hội đã biến hóa. – Hai là, ý thức xã hội thường sống sót lâu bền hơn, chậm đổi khác do thói quen, truyền thống lịch sử và do tính bảo thủ của 1 số ít hình thái ý thức xã hội. – Ba là, ý thức xã hội luôn gắn với quyền lợi của giai cấp, tập đoàn lớn người trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ lỗi thời, thường được những lực lượng xã hội phản tiến bộ lưu giữ và truyền bá nhằm mục đích chống lại những lực lượng xã hội văn minh, bảo vệ quyền lợi của họ. b, Ý thức xã hội hoàn toàn có thể vượt trước sống sót xã hội :
- Ý thức xã hội tiến bộ cách mạng có khả năng vượt trước tồn tại xã hội
- Ý thức xã hội có thể dự báo tương lai, dự kiến khả năng sẽ tới và sẽ có tác dụng chỉ đạo hoạt
động thực tiễn của con người.
c,Tính kế thừa trong sự phát triển của ý thức xã hội: - Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, trong quá trình phản ánh ý thức xã hội luôn có tính kế
thừa các giá trị của nhân loại để lại.
d,Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của chúng:
Ý thức xã hội được thể hiện dưới nhiều hình thái cụ thể như: chính trị, pháp quyền,
đạo đức, triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học. Sự tác động của ý thức xã hội tới tồn tại xã
hội biểu hiện qua hai chiều hướng. Nếu ý thức xã hội tiến bộ thì tác động thúc đẩy tồn tại xã
hội phát triển,ngược lại nếu ý thức xã hội lạc hậu sẽ cản trở sự phát triển của tồn tại xã hội.
Như vậy, nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
chỉ ra bức tranh phức tạp của lịch sử phát triển ý thức xã hội, nó bác bỏ quan điểm siêu hình,
máy móc, tầm thường về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Phần 2: Từ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, chứng minh đường lối đổi mới đúng đắn
là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội :
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


