Tuyển tập 16 đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết) – Tài liệu text

Tuyển tập 16 đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (378.71 KB, 81 trang )

Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Đề số 1:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
————————
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC
2014-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT Chuyên Vĩnh
phúc
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao
đề.
———————————
Câu 1 (3,0 điểm)
Trong bức thư của một du học sinh Nhật bàn về “văn hóa Việt” có đoạn:
“Thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Thật xấu hổ nếu 4000 năm
văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện trong cách
hành xử đời thường”.
Là một người Việt trẻ tuổi, anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?
Câu 2 (7,0 điểm)
Cảm nhận về nhân vật Mị Châu trong truyền thuyết An Dương Vương và Mị
Châu – Trọng Thuỷ, có người khẳng định: “Phút sai lầm của một người, dân tộc phải
trả giá bằng ngàn năm nô lệ. Tội đó của Mị Châu không thể dung tha”.
Lại có người viết:
Am Mị Châu thờ bức tượng không đầu
Cảnh báo một trái tim khờ dại.
Thử hỏi, nửa thế giới này đang tồn tại
Đã yêu rồi, ai không giống Mị Châu?
(Vô đề – Hạnh Mai, Tạp chí Người Hà Nội, số 115, 8- 2009)
Thông qua việc phân tích nhân vật Mị Châu, anh/chị hãy bình luận những ý

kiến trên và đưa ra quan điểm của bản thân mình.
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không được giải thích gì
thêm.
Họ và tên thí sinh ; SBD
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
HƯỚNG DẪN CHẤM CHỌN HSG LỚP 10 THPT
NĂM HỌC 2014-2015
MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT Chuyên
———————————
Câu 1 (3,0 điểm)
I. Yêu cầu về kỹ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội: Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận
dụng và phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy, lập luận chặt chẽ, dẫn
chứng chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính
tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Bài viết phải đảm bảo những nội dung cơ bản sau:
1. Giải thích ý kiến
– Tự hào: là sự hãnh diện, tự tin về điều gì đó.
– 4000 năm văn hiến: là quá trình lịch sử dài lâu, gắn liền với công cuộc dựng nước
và giữ nước, tạo nên những truyền thống văn hoá lâu đời và tốt đẹp của dân tộc.
– Xấu hổ: cảm giác hổ thẹn vì lỗi lầm hoặc sự kém cỏi, không xứng đáng.
– 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiện
trong cách hành xử đời thường”: chỉ sự tương phản đầy nghịch lý, nhấn mạnh những
truyền thống văn hoá lâu đời tốt đẹp chỉ là lý thuyết đóng khung trong sử sách, còn
thực tế đời sống không chứng minh cho truyền thống văn hoá lâu đời đó.

Ý cả câu là một lời cảnh tỉnh đối với mỗi người Việt Nam: không nên ngủ quên trong
quá khứ và hãnh diện về truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc mà cần để truyền
thống văn hoá tốt đẹp đó thể hiện trong thực tế cuộc sống hàng ngày.
2. Phân tích lý giải
2.1. Vì sao nói “thật đáng tự hào vì Việt Nam có 4000 năm văn hiến”?
– Vì trong thực tế không phải dân tộc nào cũng có lịch sử phát triển lâu đời như vậy.
– Trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tạo ra những giá trị vật
chất và tinh thần, hình thành bản sắc văn hoá của dân tộc với những nét tốt đẹp, biểu
hiện phong phú ở nhiều lĩnh vực của đời sống.
2
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
2.2. Vì sao nói “Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách
lịch sử chứ không được thể hiện trong cách hành xử đời thường”?
– Vì 4000 năm văn hiến là nền tảng, hành trang quý báu, nhưng nó hoàn toàn là thành
tựu của quá khứ. Không thể chỉ tự hào về những điều trong sử sách, vì văn hoá của
một dân tộc cần biểu hiện thành những điều cụ thể trong cuộc sống hiện tại.
– Thực tế hiện nay đáng cảnh báo vì sự xuống cấp của những giá trị văn hoá trong lối
sống, VD: truyền thống nhân đạo, tương thân tương ái ngàn xưa đang đứng trước
nguy cơ bị đẩy lùi bởi thói vô cảm và chủ nghĩa cá nhân; truyền thống trọng tình
nghĩa mai một trước chủ nghĩa thực dụng và toan tính
3. Đánh giá
– Ý kiến trên có tác dụng nhắc nhở, cảnh tỉnh mỗi người Việt Nam nhìn lại chính
mình, để biết trân trọng quá khứ của cha ông đồng thời có ý thức gìn giữ và phát triển
những truyền thống văn hoá tốt đẹp trong hiện tại.
– Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu không ghi nhận những tấm gương nỗ lực để bảo vệ
và phát huy truyền thống đó trong đời sống. Từ đó, rút ra bài học nhận thức và hành
động cho bản thân.
*Thang điểm:
– Cho điểm 3: hiểu đúng nội dung của câu nói và trình bày đầy đủ các ý trên, yêu cầu
có lý lẽ, lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong sáng.

– Cho điểm 2: đáp ứng được một nửa yêu cầu trên; lập luận chặt chẽ, diễn đạt trong
sáng để làm sáng tỏ ý nghĩa của câu nói.
– Cho điểm 1: bài làm sơ sài, lập luận chưa chặt chẽ, còn một vài sai sót nhỏ về dùng
từ, đặt câu…
Lưu ý: Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, có thể có những ý
kiến riêng, miễn sao phải phù hợp với yêu cầu của đề bài, diễn đạt trong sáng mạch
lạc thì dù chọn cách nào thì cũng được điểm tối đa.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kỹ năng
3
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Hiểu đề, biết cách làm bài nghị luận văn học. Biết giải thích ý kiến, biết phân tích dẫn
chứng để làm sáng tỏ nhận định. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, hành văn trôi
chảy, văn viết có cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
1. Giải thích ý kiến
– Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh vào hậu quả sự sai lầm của Mị Châu, từ đó đưa ra lời
luận tội nghiêm khắc.
– Ý kiến thứ hai (phát biểu ở dạng tác phẩm thơ) thiên về tìm nguyên nhân của sự sai
lầm, đặt ra câu hỏi nhằm bênh vực Mị Châu, cho sự “khờ dại” đó là bản chất của tình
yêu, bản chất của người phụ nữ khi yêu.
Mỗi ý kiến một quan điểm đánh giá khác nhau về nhân vật Mị Châu, kẻ kết tội, người
bênh vực. Đó cũng là sự phong phú trong tiếp nhận văn học, sự hấp dẫn mà hình
tượng văn học tạo ra.
2. Phân tích nhân vật Mị Châu, bình luận những ý kiến trên.
2.1. Phân tích nhân vật
– Giới thiệu khái quát về nhân vật
– Sự sai lầm của Mị Châu:
+ Mị Châu không chỉ là một người dân của đất nước Âu Lạc mà còn là một nàng
công chúa, có vai trò quan trọng đối với cả quốc gia, nhưng nàng đã ngây thơ không

cảnh giác, coi bí mật quốc gia như tài sản riêng của gia đình. Nàng cho Trọng Thuỷ
xem nỏ thần, lại còn giảng giải cho y cách sử dụng nỏ. Hành động đó đã vô tình tiếp
tay cho kẻ thù có thêm cơ hội thôn tính nước Âu Lạc.
+ Khi chiến tranh xảy ra, Mị Châu vẫn rắc lông ngỗng dọc đường chạy loạn. Một lần
nữa Mị Châu đã vô tình chỉ dẫn cho quân giặc chạy theo, đưa hai cha con đến chỗ
cùng đường tuyệt lộ. Nàng chỉ kịp nhận ra sự thật đau lòng trước lúc rơi đầu.
– Nguyên nhân của sự sai lầm: sự thiếu cảnh giác của bản thân nàng.
– Hậu quả của sự sai lầm: Dân tộc rơi vào chiến tranh, loạn lạc, nước mất, nhà tan.
Nàng chết dưới lưỡi kiếm oan nghiệt của cha.
– Thái độ của tác giả dân gian với sai lầm đó của Mị Châu:
4
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
+ Tác giả dân gian đã để thần Kim Quy hiện lên quát lớn “Kẻ nào ngồi sau ngựa
chính là giặc đó”. Câu nói ấy cũng đồng thời là lời kết tội đanh thép của công lí, của
nhân dân cho hành động vô tình mà phản quốc của Mị Châu. Đó cũng là bài học đắt
giá về mối quan hệ giữa tình cảm cá nhân với trách nhiệm công dân.
+ Hình ảnh máu Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc, xác của nàng biến thành ngọc
thành là những yếu tố kì ảo, minh chứng cho tấm lòng trong trắng mà bị lừa dối của
nàng. Hình ảnh đó phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu và thể
hiện thái độ cảm thông, thương xót, bao dung của nhân dân đối với nàng.
2.2. Bình luận hai ý kiến
– Ý kiến thứ nhất đúng khi luận tội Mị Châu với những hậu quả mà sai lầm của nàng
đã gây ra. Ý kiến thứ hai tỏ ra có lý khi tìm nguyên nhân của sự sai lầm là do bản
chất của trái tim yêu.
– Tuy nhiên, cần đặt tình yêu đôi lứa trong mối quan hệ với vận mệnh quốc gia, vận
mệnh
cộng đồng, để thấy: Trong một đất nước nhiều giặc giã, luôn đứng trước nguy cơ của
những cuộc xâm lược, một nàng công chúa chỉ biết lắng nghe tiếng nói của con tim,
của tình yêu mà vô tình với sự sống còn của xã tắc chính là có tội.
– Ngay bản thân Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lớn của mình, nàng chỉ

mong rửa tiếng “bất trung, bất hiếu” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. Mị
Châu được người Âu Lạc xưa và người Việt Nam đời đời thương xót chính là vì đã
biết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội.
3. Quan điểm của cá nhân
HS có thể nêu quan điểm riêng của bản thân mình theo nhiều cách khác nhau vẫn có
thể được chấp nhận, miễn là có các lập luận và lí lẽ logic, thuyết phục.
*Thang điểm:
– Điểm 7: Đáp ứng những yêu cầu nêu trên. Văn viết có cảm xúc, dẫn chứng
chọn lọc và thuyết phục. Diễn đạt trong sáng và lưu loát. Có thể còn vài sai sót
nhỏ.
– Điểm 5, 6: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong phú
nhưng phải làm rõ được nội dung, diễn đạt khá. Có thể còn vài sai sót nhỏ.
5
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
– Điểm 3, 4: Hiểu đề, nêu được những nội dung chủ yếu, dẫn chứng chưa thật
phong phú lời văn chưa hay nhưng rõ ràng. Có thể còn một vài lỗi dùng từ,
diễn đạt .
– Điểm 2: Chưa thật nắm vững yêu cầu của đề bài, kiến thức sơ sài hoặc diễn
đạt lúng túng phân tích còn nhiều hạn chế, bố cục lộn xộn, mắc nhiều lỗi diễn
đạt, dùng từ và ngữ pháp .
– Điểm 1: Chưa nắm vững cả nội dung và phương pháp. Nội dung sơ lược,
chung chung; nhiều lỗi dùng từ, lỗi câu.
– Điểm 0: Sai lạc hoàn toàn cả về nội dung và phương pháp.
– Lưu ý:
+ Cần trân trọng những bài viết sáng tạo và có chất văn
+ Điểm bài thi cho từ điểm 0 đến điểm 7; điểm làm tròn tính đến 0,5.
LƯU í CHUNG:
Điểm toàn bài là tổng điểm của 2 câu cộng lại.Các giám khảo có thể cho từ
điểm 0 đến điểm 10. Điểm lẻ làm tròn đến 0,5 điểm.
Đề số 2:

SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC
2014-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh THPT không chuyên)
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian phát
đề
Câu 1 (3,0 điểm).
Suy nghĩ của anh (chị) về câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
Câu 2 (7,0 điểm).
Nét độc đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua các tác phẩm đã
được học.
6
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ và tên thí sinh……… …….…….….….; Số báo danh……………………
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2014-
2015
ĐÁP ÁN MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh THPT không chuyên)
Câu 1 (3,0 điểm).
I. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụng
phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn chứng
chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức

Thí sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng phải đảm bảo được những
nội dung cơ bản sau:
a. Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ:
– Đi một ngày đàng: Gắn bó với đời sống thực tế, trải nghiệm qua thực tế.
– Học: Tiếp thu tri thức, hình thành các kĩ năng.
– Một sàng khôn: Những hiểu biết để con người trở nên khôn ngoan, tiến bộ.
Nội dung câu tục ngữ: gắn bó với thực tế dù trong thời gian ngắn (một ngày đàng)
nhưng con người sẽ thu lượm được khối lượng kiến thức rất lớn (một sàng khôn),
những kiến thức, những trải nghiệm thực tế ấy sẽ giúp con người trưởng thành lên.
Câu tục ngữ khẳng định tầm quan trọng của kiến thức thực tế đối với con người.
b. Bàn luận, mở rộng vấn đề:
– Câu tục ngữ hoàn toàn đúng đắn bởi thực tiễn đời sống là một trường học lớn, bao
gồm những sự vật, sự việc, con người với tất cả tính cụ thể, sinh động và phức tạp
của nó; những quan hệ, biến cố, những gì đang tồn tại và diễn ra trong tự nhiên và xã
hội có quan hệ với đời sống con người. Khi gắn bó với thực tế, con người có những
cảm nhận về cuộc sống một cách cụ thể, trực tiếp và chân thực nhất, đồng thời có cơ
hội được trải nghiệm, kiểm nghiệm năng lực sống, rèn luyện những kĩ năng sống cần
thiết để vững vàng đối mặt với thực tế vô cùng phức tạp, đa dạng. Thực tiễn đời sống
chính là môi trường để con người được rèn luyện, nâng cao kiến thức và bản lĩnh để
trở nên hiểu biết và vững vàng hơn.
7
(Đáp án có 04 trang)
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
– Khẳng định vai trò quan trọng của việc học trong thực tế không có nghĩa là phủ
nhận vai trò của việc học trong sách vở. Biết kết hợp tốt hai phương thức đó sẽ là con
đường dẫn tới thành công.
– Phê phán những người chưa thấy được tầm quan trọng của việc học trong thực tế.
3. Bài học nhận thức và hành động:
– Con người muốn tiến bộ, trưởng thành thì ngoài kiến thức thu nhận được từ sách vở
cần phải tích cực thâm nhập thực tế đời sống, tìm tòi kiến thức, rèn luyện kỹ năng

thực hành.
– Biết lấy kiến thức từ sách vở để soi chiếu vào thực tế, xử lý các vấn đề của thực tế.
Lưu ý: Trong quá trình bàn luận, thí sinh cần phân tích được những dẫn chứng cụ
thể để chứng minh.
III. Biểu điểm:
– Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Hành văn trong sáng, mạch lạc. Dẫn
chứng chọn lọc và thuyết phục.
– Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 1,0: Chưa nắm chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
– Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có
cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh vận dụng hiểu biết về chủ nghĩa nhân đạo trong văn học, phân tích làm
sáng tỏ những nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du (so với các tác phẩm
trước và cùng thời), chủ yếu thể hiện ở tác phẩm “Độc Tiểu Thanh Ký” và “Truyện
Kiều”. Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bật
được những ý cơ bản sau:
1. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học:
– Nhân đạo là đạo lí hướng tới con người, vì con người; là tình yêu thương giữa
người với người.
– Trong tác phẩm văn học, tư tưởng nhân đạo là tình cảm, thái độ của nhà văn
đối với cuộc sống con người thể hiện ở lòng xót thương những con người bất hạnh;
phê phán những thế lực bạo tàn áp bức, chà đạp con người; trân trọng những phẩm
chất và khát vọng tốt đẹp của con người, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con
người

– Cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu nước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốt
toàn bộ nền văn học Việt Nam. Về cơ bản có những biểu hiện chung song ở mỗi thời
kì, giai đoạn, do hoàn cảnh lịch sử xã hội, do ý thức hệ tư tưởng của các nhà văn khác
8
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
nhau nên có những biểu hiện riêng. Bằng việc thể hiện cảm hứng nhân đạo sâu sắc,
mới mẻ qua các sáng tác, Nguyễn Du đã làm nên tên tuổi một đại thi hào của dân tộc.
2. Nét độc đáo trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du:
– Lên tiếng bênh vực quyền sống của con người – những văn nghệ sĩ.
Tình thương của Nguyễn Du bao trùm lên tất thảy mọi kiếp người (Văn tế thập
loại chúng sinh), nhưng ông đặc biệt quan tâm đến đối tượng văn nghệ sĩ. Ông đã thấy ý
nghĩa xã hội của người nghệ sĩ, người cống hiến cho cuộc đời những giá trị tinh thần tốt
đẹp. Vì vậy ông không chỉ quan tâm, đồng cảm với những nạn nhân của xã hội phong
kiến theo nghĩa những người đói cơm rách áo cần được chăm lo bảo vệ như các nhà văn
khác mà còn biết thương yêu, trân trọng những chủ nhân của những giá trị văn hóa tinh
thần. Khi chủ nhân là người phụ nữ thì sự đồng cảm của nhà thơ lại càng có ý nghĩa sâu
sắc hơn. Điều này thể hiện rõ nhất qua bài thơ chữ Hán “Độc Tiểu Thanh kí”. Ở bài thơ
này, Nguyễn Du vừa khóc cho người vừa khóc cho mình. Đây là nét mới mang tinh thần
nhân bản của thời đại cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, thời đại con người không chỉ
ý thức về nhân phẩm, về tài năng cá nhân mà còn thức tỉnh nỗi đau của chính mình. Tự
thương cũng là nét mới trong tinh thần nhân bản của Nguyễn Du vì đó chính là sự tự ý
thức, là bằng nước mắt mà thấm in bản ngã của mình để chống lại sự chi phối của quan
niệm phi ngã, vô ngã thời trung đại.
– Khẳng định con người thức tỉnh, con người ý thức.
+ Nhân vật Thúy Kiều là con người của thời đại đã có ý thức sâu sắc, phong phú
về đau khổ cũng như khát vọng của mình. Trong đoạn Trao duyên (trích “Truyện
Kiều”), Thúy Kiều hi sinh chữ tình vì chữ hiếu, Kiều đã ứng xử như văn hóa thời trung
đại đòi hỏi. Nhưng Thúy Kiều không muốn nêu gương về đạo nghĩa. Ngoài hạnh phúc
gia đình, nàng còn sống với khát tình yêu tuổi trẻ; ngoài tình thương với cha mẹ và hai
em, nàng còn tình yêu với chàng Kim. Kiều thiết tha với tình yêu riêng tư, đó là biểu

hiện sâu sắc quyền sống cá nhân của con người. Do đó, Thúy Kiều của Nguyễn Du gần
với con người thực, con người tự nhiên chứ không đơn giản chỉ là tấm gương đạo lí,
biểu trưng đạo đức một chiều như nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân.
+ Nhà thơ đã để cho nhân vật sống trong đau khổ thật của hiện tại, hơn là việc ru
ngủ trong hạnh phúc siêu hình. Dùng cái chết với mong muốn kiếp sau được đoàn tụ với
Kim Trọng cũng chỉ là giấc mộng mong manh: Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Ước mơ
bao hàm tuyệt vọng, vì sự hiển hiện ấy nếu có cũng chỉ là hạnh phúc siêu hình, chỉ là
một ảo ảnh. Một cuộc trở về mà không có gặp gỡ: Dạ đài cách mặt khuất lời. Cái hạnh
phúc “nguyện ước ba sinh” của nhà Phật đưa ra để an ủi con người mà thực chất lại vò
xé lòng người trong bi kịch nặng nề, vì làm gì có sum họp khi nàng đã là người của cõi
chết, âm dương cách trở? Thúy Kiều đã trở về với hiện tại phũ phàng ở cuối đoạn trích:
Bây giờ trâm gãy, gương tan/Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân. Kiều ý thức rất rõ về khía
cạnh hiện sinh, cái “bây giờ”, “trâm gãy, gương tan”, “tơ duyên ngắn ngủi”, “nước chảy
hoa trôi”. Thúy Kiều đã được giải phóng khỏi những quan niệm tôn giáo về hạnh phúc.
9
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Nàng là “con người được thức tỉnh, dù chỉ là để khổ đau” (Đặng Thanh Lê). Đó cũng là
chiều sâu và tầm cao tư tưởng nhân văn Nguyễn Du.
+ Con người thức tỉnh, dù chỉ là thức tỉnh trong nỗi khổ đau ấy còn tiếp tục được
thể hiện trong nhiều giai đoạn thăng trầm của cuộc đời Thúy Kiều, ngay cả khi nàng trở
thành gái lầu xanh, bị vùi dập ở nơi nhơ nhớp nhất. Ở đoạn “Nỗi thương mình”, chúng ta
thấy một cô Kiều biết tự ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân, tự ý thức về quyền
sống của mình: Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh/ Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khẳng định ý thức cá nhân trong bối cảnh văn học trung đại, khi vấn đề cá nhân,
quyền sống của mỗi cá thể còn ít được nhắc đến, chúng ta có thể thấy chủ nghĩa nhân
đạo của Nguyễn Du nhiều khi đã vượt thoát khỏi khoảng trời trung đại chật hẹp để vươn
tới tầm nhân loại bao la.
– Trân trọng nhân cách, phẩm giá đối với một kỹ nữ: Nhiều nhà nho cùng thời
hoạc thuộc thế hệ sau Nguyễn Du đã có cái nhìn lên án Thúy Kiều là “tà dâm” chính là
bời những năm tháng nàng phải sống nơi lầu xanh. Nguyễn Du không né tránh hiện

thực tủi hổ đó trong cuộc đời đau khổ của Thúy Kiều, ông đã miêu tả rất chân thực.
Nhưng gửi gắm trong từng câu chữ vẫn là thái độ trân trọng, cảm thông, vẫn là sự bênh
vực cho nhân cách, phẩm giá của người kỹ nữ tài hoa bạc mệnh như Kiều. Những câu
thơ như: Khi sao phong gấm rủ là/ Giờ sao tan tác như hoa giữa đường…chất chứa,
đong đầy nỗi niềm trắc ẩn, xót thương.
Sau 15 năm lưu lạc, Nguyễn Du vẫn nhìn nàng Kiều là một người trinh trắng:
Như nàng lấy hiếu làm trinh…
3. Nguyên nhân
– Thời đại Nguyễn Du với những biến cố thăng trầm là nguyên nhân chính dẫn
đến sự chìm nổi của bao số phận, trong đó có cả số phận long đong mười năm lưu lạc
của chính bản thân Nguyễn Du.
– Những năm tháng qua khứ vàng son, sống trong gia đình người anh trai là
Nguyễn Khản, được chứng kiến biết bao số phận đau khổ, bi kịch của những người ca
nhi, kĩ nữ giữa chốn phong lưu, xa hoa.
– Hơn tất cả là tấm lòng, trái tim người nghệ sĩ luôn tha thiết với con người, cuộc
đời với những giá trị nhân văn, là “tấm lòng hiểu thấu nghìn đời” (Mộng Liên Đường
chủ nhân) của Nguyễn Du.
4. Đánh giá, nâng cao:
– Nguyễn Du đã vượt qua những ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôn
giáo, vượt khỏi chỗ đứng giai cấp mình để vươn tới khẳng định giá trị tự thân của con
người.
– Nét mới mẻ trong chủ nghĩa nhân đạo thể hiện tầm vóc tư tưởng, biểu hiện
của “sức cảm thông lạ lùng” của nhà thơ đối với con người.
– Chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ, độc đáo trong sáng tác thơ văn của Nguyễn Du
chính là một trong những ngọn nguồn làm nên sức sống lâu bền cho văn chương bậc
đại thi hào dân tộc.
10
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
III. Biểu điểm:
– Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài

viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng.
– Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
– Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý: – Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng
quát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những
suy nghĩ sáng tạo.
– Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến
0,25 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
Đề số 3:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
————————
ĐỀ ĐỀ XUẤT
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2014
-2015
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT Chuyên Vĩnh phúc
Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề.
———————————
Câu 1 (3 điểm):
Trình bày suy nghĩ của anh ( chị) về câu chuyện ngụ ngôn sau đây:
CHIM CHÀNG LÀNG
Chàng Làng vẫn thường hãnh diện và kiêu ngạo về tiếng hót của mình hơn hẳn
đồng loại. Nó có thể hót tiếng của nhiều loài chim.
Một hôm, nhân có mặt đông đủ bạn bè họ nhà chim, chú đậu tót lên cành cây cao rồi

ưỡn ngực, vươn cổ cất tiếng hót. Chú hót say sưa, khi thì giống giọng của sáo đen,
khi là giọng của chích chòe, hoạ mi Ai cũng khen chú bắt chước giống và tài tình
quá. Cuối buổi biểu diễn, một chú chim sâu đề nghị: Bây giờ anh hãy hót tiếng của
riêng anh cho bọn em nghe nào! Chàng Làng đứng mãi mà không hót được giọng của
riêng mình, Chàng Làng xấu hổ cất cánh bay thẳng. Bởi vì từ xưa đến nay, Chàng
Làng chỉ quen nhại theo giọng hót của các loài chim khác chứ đâu chịu luyện một
giọng hót riêng cho chính mình.
Câu 2 (7 điểm):
11
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Trong bài viết Đặc sắc của văn học cổ điển Việt Nam qua nội dung Truyện Kiều,
GS Đặng Thai Mai cho rằng:
Truyện Kiều cũng như tất cả các áng văn tuyệt tác trong văn học thế giới dường
như không hề biết già, mà lại còn có vẻ càng ngày càng trẻ nữa. Truyện Kiều có cả
một vận mệnh vẻ vang.
Qua kiến thức về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã học trong chương trình Ngữ
văn lớp 10, hãy nêu nhận xét của anh chị về ý kiến trên.
………………… Hết………………….
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm
Họ tên thí sinh………….……………………………. SBD ……………
SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC
————————
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC
2013-2014
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT Chuyên Vĩnh
phúc
———————————
I. Hướng dẫn chung
– Giám khảo cần nắm vững yêu cầu của Hướng dẫn chấm để đánh giá tổng

quát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm.
– Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần chủ động, linh hoạt
trong việc vận dụng đáp án và thang điểm; khuyến khích những bài viết có tư duy
khoa học, lập luận sắc sảo, có khả năng cảm thụ văn học và tính sáng tạo cao.
– Sau khi chấm xong, điểm toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm.
II. Đáp án và thang điểm
12
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Câu Ý Nội dung Điểm
1 Trình bày suy nghĩ về câu chuyện Chim Chàng Làng 3,0
1 Nhận thức về câu chuyện(0,5 điểm)
– Câu chuyện kể về loài chim Chàng Làng( còn có tên khác là chim Bách
Thanh), loài chim này có khả năng tuyệt vời là bắt chước giọng của những
loài chim khác.
– Bản thân chú chim này rất tự hào về khả năng của mình và khi có mặt
đông đủ bạn bè, họ hàng nhà chim chú lại trình diễn năng khiếu ấy cho
mọi người thưởng thức.
– Tuy nhiên khi được đề nghị hót bằng giọng của mình thì chú xấu hổ bay
đi mất vì xưa nay chú chỉ bắt chước, nhại theo chứ đâu có luyện cho mình
một giọng hót riêng.
=> Câu chuyện phê phán thói bắt chước, nhại lại mà không chịu suy nghĩ,
không chịu sáng tạo để làm nên phong cách riêng ở một số người.
0,5
2 Suy nghĩ của bản thân từ câu chuyện (2,0 điểm)
– Bắt chước là một thói quen được hình thành từ thuở ấu thơ, nó giúp con
người học hỏi được mọi thứ từ thế giới xung quanh để thích nghi với cuộc
sống.
– Bắt chước là giai đoạn đầu tiên của tư duy mà bất cứ ai cũng phải trải
qua bởi khó có thể phát minh, sáng tạo ra cái mới nếu không dựa vào
những ý tưởng cũ. Bắt chước trong một hoàn cảnh nào đó cũng được coi

là tài năng nếu sự bắt trước y như thật.
– Tuy nhiên cuộc sống không ngừng đòi hỏi sự sáng tạo. Thành công của
ngày hôm nay không thể giống với ngày hôm qua, ngày mai không thể
giống ngày hôm nay vì thế con người không thể rập khuân, bắt chước
những cái đã có.
– Câu chuyện đã phản ánh một thực trạng trong xã hội: nói theo, viết theo,
nghĩ theo, hành động theo…nhất là đối với học sinh hiện nay. Việc bắt
chước một cách máy móc đã làm các em mất đi phong cách riêng của
mình, thui chột khả năng sáng tạo, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển trong
tương lai.
0,5
0,5
0,25
0,75
3 Bài học nhận thức và hành động (0,5 điểm)
– Trong cuộc sống không tự biến mình thành những con chim Chàng
Làng.
– Không ngừng học hỏi, không ngừng tư duy, sáng tạo để khẳng định
mình và đi tới thành công.
0,25
0.25
2
Nhận xét về ý kiến của GS Đặng Thai Mai: Truyện Kiều cũng như tất
cả các áng văn tuyệt tác trong văn học thế giới dường như không hề
biết già, mà lại còn có vẻ càng ngày càng trẻ nữa. Truyện Kiều có cả
một vận mệnh vẻ vang.
7,0
1 Giới thiệu vấn đề (0,5 điểm)
– Truyện Kiều – Nguyễn Du là kết tinh của tài năng văn học bậc thầy, là
tác phẩm xuất sắc của văn học dân tộc.

– Đánh giá về Truyện Kiều, GS Đặng Thai Mai cho rằng: Truyện
Kiều cũng như tất cả các áng văn tuyệt tác trong văn học thế giới dường
như không hề biết già, mà lại còn có vẻ càng ngày càng trẻ nữa. Truyện
Kiều có cả một vận mệnh vẻ vang.
0,25
0,25
2 Giải thích ý kiến(1,0 điểm)
– Áng văn tuyệt tác : Những tác phẩm văn chương hay, đẹp đến mức coi
như không còn có thể đòi hỏi gì hơn, không thể có cái hơn. Già: Ở vào 0,5
13
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
Hết
Đề số 4:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC

ĐỀ CHÍNH THỨC

KÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2011-2012
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
(Dành cho học sinh các trường THPT)
Thời gian làm bài: 180 phút (Không kể thời gian giao đề).

Câu 1 (3,0 điểm).
Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi
lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.
(Bài kí đề danh tiến sĩ – 1442, Thân Nhân Trung).
Suy nghĩ của anh (chị) về nhận định trên.
Câu 2 (7,0 điểm).

Viết Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du đã mượn chén rượu của người để rót
rượu mình.
Anh (chị) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
HẾT
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm!
Họ tên học sinh…………………………… Số báo danh……………………………
14
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2011-2012
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂN
NĂM HỌC 2011-2012
Dành cho học sinh các trường THPT

Câu 1 (3,0 điểm).
I. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội: Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụng
phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn chứng
chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Học sinh hiểu câu nói trên, bàn luận về vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài
đối với quốc gia dân tộc. Bài viết phải đảm bảo được những nội dung cơ bản sau:
1. Giải thích ý nghĩa của lời nhận định.
– Hiền tài: Trong quan niệm của người xưa, hiền tài là người có tài năng không
những học rộng, hiểu nhiều mà còn có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống
thanh bình cho nhân dân. Hiền tài là người có cả đức hạnh, gương mẫu về đạo đức,
suốt đời chăm lo, tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân, đem hết tài năng, đức hạnh phục
vụ cho đất nước. Tóm lại hiền tài là những người có tri thức, đạo đức, có năng lực,
tâm huyết và khát vọng cống hiến cho đất nước, dân tộc.

– Nguyên khí: là chất làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước, xã hội.
– Cả câu: Khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của hiền tài đối với quốc gia
dân tộc. Bậc hiền tài có ý nghĩa quyết định đến sự thịnh suy của đất nước.
2. Bàn luận, mở rộng vấn đề.
15
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
– Khẳng định tính đúng đắn của nhận định: Câu nói của Thân Nhân Trung là tư tưởng
quan trọng, là sự tổng kết đường lối chiến lược về văn hoá giáo dục. Đây là một tư
tưởng hết sức đúng đắn, tiến bộ, có ý nghĩa trong mọi thời, mọi quốc gia dân tộc. Bởi
vì ở thời nào, ở đất nước nào thì hiền tài vẫn là người tạo ra phần lớn những giá trị
vật chất, tinh thần, đặc biệt ở họ có khả năng phán đoán và nhận định tình hình sáng
suốt hơn người thường.
– Nhà nước có chính sách chăm lo nuôi dưỡng, đào tạo và đãi ngộ thích đáng với
người hiền tài. Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, thời đại mở cửa và hội nhập
toàn cầu, chính sách phát triển văn hoá giáo dục ở mọi quốc gia, đặc biệt là các nước
phát triển ngày càng được chú trọng. Với nước ta, giáo dục luôn được coi là quốc
sách hàng đầu.
3. Bài học nhận thức và hành động.
– Ý thức được vai trò, tầm quan trọng của hiền tài đối với đất nước.
– Có thái độ trân trọng với bậc hiền tài.
– Bản thân cố gắng học tập tu dưỡng để trở thành người có ích cho đất nước.
III. Biểu điểm:
– Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Văn viết có cảm xúc. Dẫn chứng
chọn lọc và thuyết phục. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 1,0: Chưa hiểu chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
– Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng

Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có
cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bật
được những ý cơ bản sau:
16
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
1. Giải thích nhận định.
“Nguyễn Du mượn chén rượu của người” – cảm thương cho số phận của Tiểu
Thanh; “rót rượu mình” – bộc bạch nỗi niềm cảm thương cho chính mình. Qua Độc
Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du khóc cho nàng Tiểu Thanh và khóc cho chính mình.
2. Phân tích bài thơ làm sáng tỏ ý kiến.
– Câu chuyện cuộc đời của Tiểu Thanh đã tạo nên niềm xúc động, cảm thương
chân thành ở Nguyễn Du. Không chỉ khóc nàng Tiểu Thanh hồng nhan bạc mệnh –
cái đẹp bị vùi dập, đọa đày, Nguyễn Du còn tri âm để thấu hiểu tận cùng nỗi đau, nỗi
xót cũng là nỗi oán hận mà Tiểu Thanh phải mang theo xuống suối vàng – “Văn
chương vô mệnh lụy phần dư”. Đó là nỗi hận vì cái đẹp, cái tài bị vùi dập, chà đạp, bị
chối bỏ phũ phàng.
– Cảm thương cho bi kịch của Tiểu Thanh, Nguyễn Du bắc nhịp cầu giao
cảm để tự thấy mình là người cùng hội cùng thuyền với nàng – “mượn chén rượu
của người” và “rót rượu của mình”: tự nhận mình giống Tiểu Thanh “mắc nỗi
oan lạ lùng vì nết phong nhã” và mong mỏi tìm người khóc mình như mình đã
khóc Tiểu Thanh. Từ tiếng khóc người, nỗi thương người, Độc Tiểu Thanh kí còn
là tiếng khóc mình, nỗi thương mình; là mối tự hận, tự thương; là niềm khát khao
tri kỉ của Nguyễn Du.
3. Đánh giá, nâng cao.
– Nguyễn Du có một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu yêu thương; một trái tim
nhân đạo lớn dành cho con người mà trước hết là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh:
Thúy Kiều, người gảy đàn ở đất Long thành… Nhờ vậy, Độc Tiểu Thanh kí vừa có ý

nghĩa tố cáo phê phán xã hội bất công, tàn bạo vừa chứa đựng tư tưởng nhân đạo,
nhân văn lớn lao, sâu sắc. Tư tưởng ấy được cô đúc trong một bài thơ thất ngôn bát
cú Đường luật hàm súc, phảng phất giọng điệu bi phẫn do rất nhiều thanh trắc, gợi
cảm giác trĩu nặng, ngưng đọng.
– Nguyễn Du cũng là một con người khổ đau, cô đơn, không có tri kỉ. Tâm sự
đó của Nguyễn Du cần được hậu thế thấu hiểu qua những thi phẩm của ông. Bởi lẽ,
tiếng nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn học dân tộc nào, thời đại
17
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
nào cũng hướng tới. Chẳng vậy mà nhà văn Bùi Hiển cho rằng : “Ở nước nào cũng
thế thôi, sự cảm thông sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết”.
III. Biểu điểm:
– Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
– Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
– Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm
của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy nghĩ sáng
tạo.
– Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến
0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
Đề số 5:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC

ĐỀ CHÍNH THỨC

KÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC 2011-2012
ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN
Dành cho học sinh trường THPT chuyên
Thời gian làm bài 180 phút không kể thời gian giao đề.

Câu 1 (3,0 điểm).
Có ý kiến cho rằng: Nếu anh bắn súng lục vào quá khứ thì tương lai sẽ bắn
anh bằng đại bác. Nhưng Tổng giám đốc tập đoàn Coca Cola, Bryan Dion lại khẳng
định: Bạn chớ để cuộc sống trôi qua kẽ tay vì bạn cứ mải đắm chìm trong quá khứ
18
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
hay ảo tưởng về tương lai. Chỉ bằng cách sống cuộc đời mình trong từng khoảnh
khắc của nó, bạn sẽ sống trọn vẹn từng ngày của đời mình.
Anh (chị) suy nghĩ như thế nào trước những lời khuyên ấy.
Câu 2 (7,0 điểm).
Trong bài viết Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, Phạm Văn Đồng viết: Sự
nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc.
Anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.
HẾT
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.
Họ tên học sinh…………………………… Số báo danh……………………………
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
HƯỚNG DẪN CHẤM CHỌN HSG LỚP 10 THPT NĂM HỌC
2011-2012
MÔN NGỮ VĂN

Dành cho học sinh trường THPT chuyên.

Câu 1 (3,0 điểm).
I. Yêu cầu về kĩ năng
Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội: Bố cục và hệ thống ý sáng rõ. Biết vận
dụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận chặt chẽ. Dẫn
19
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
chứng chọn lọc, thuyết phục. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính
tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Bài viết phải đảm bảo được những nội dung cơ bản sau:
1. Giải thích.
– Quá khứ: là cái đã qua, là thời gian đã qua.
– Hiện tại: là cái đang xảy ra, là thời gian đang sống.
– Tương lai: là cái chưa tới, có thể xảy ra, là thời gian sắp tới, sẽ tới.
– Bắn: ẩn dụ, chỉ thái độ, cách đối xử của con người với quá khứ, tương lai.
– Cuộc sống trôi qua kẽ tay: để cuộc sống trôi qua phí hoài, vô ích, thái độ thờ ơ với
cuộc sống.
– Ý kiến thứ nhất: Bằng cách nói hình ảnh: bắn súng lục vào quá khứ, tương lai sẽ
bắn anh bằng đại bác, cách dùng hình ảnh mang ý nghĩa tăng tiến: súng lục- đại bác,
người nói muốn khẳng định: Cách đối xử của mỗi người với quá khứ như thế nào thì
tương lai họ nhận được sẽ như thế, thậm chí còn tồi tệ hơn thế. Câu nói đề nghị một
lối sống, một thái độ sống: trân trọng quá khứ, biết ơn quá khứ.
– Ý kiến thứ hai: Bằng cách nói nhấn mạnh, phủ định để khẳng định: chớ để…chỉ
bằng cách… sống trọn vẹn từng ngày, người nói muốn đề nghị một lối sống: trân
trọng từng khoảnh khắc của hiện tại, sống hết mình trong hiện tại.
– Hai ý kiến tưởng chừng đối lập nhưng kì thực là sự bổ sung ý nghĩa cho nhau, cùng
hướng con người tới một lối sống, một thái độ sống tích cực, đúng đắn: sống là phải
biết trân trọng quá khứ, biết ơn nguồn cội. Song đồng thời phải biết đón nhận hiện

tại, sống hết mình cho hiện tại và biết vun đắp cho tương lai.
2. Phân tích, bàn luận.
– Tại sao sống là phải biết trân trọng quá khứ?
+ Quá khứ là truyền thống, là lịch sử, là nguồn cội, tổ tiên, là văn hoá, văn minh
xưa… Quá khứ là những gì đã xảy ra, trôi qua, không bao giờ lấy lại được. Do đó,
con người phải biết trân trọng quá khứ, nguồn cội…, trân trọng chính mình.
+ Vì phải có quá khứ mới có hiện tại và tương lai, với quá khứ người ta xây
dựng hiện tại và tương lai.
20
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
+ Quá khứ chính là tấm gương soi để con người tự nhận thức và rút ra những bài
học kinh nghiệm quí báu cho mình.
+ Nếu con người quay lưng, “bắn vào quá khứ”, con người sẽ trở thành những
kẻ vô ơn, bạc nghĩa. Họ sẽ bị tương lai đáp trả hậu quả tương xứng.
VD:
Nếu cha mẹ không kính trọng ông bà, quay lưng lại truyền thống, nguồn cội…
thì khó mà dạy nổi con cháu; sau này họ cũng dễ bị con cháu khinh thường.
Đối với một quốc gia dân tộc, trong quá trình hội nhập văn hoá, nếu không biết
giữ gìn bản sắc, sẽ dễ bị diệt vong.
vv…
– Tại sao phải biết trân trọng hiện tại, sống hết mình cho hiện tại?
+ Vì hiện tại là cái đang hiện hữu, con người xây đắp những thứ quan trọng nhất
trong hiện tại: những giá trị vật chất, những giá trị tinh thần…
+ Hiện tại hôm nay cũng sẽ trở thành quá khứ ngày mai. Đời người là hữu hạn.
Vì thế, nếu con người lãng quên hiện tại, tất yếu họ sẽ luôn phải nuối tiếc những gì đã
trôi qua, không đạt được.
+ Quá khứ dù đẹp đẽ, thiêng liêng, cũng là cái đã qua. Tương lai dù hấp dẫn
nhưng nếu ta không thực hiện hôm nay thì cũng chỉ là mơ ước. Bởi vậy, mỗi người
cần biết sống thực sự, ngay trong hiện tại.
3. Mở rộng.

– Trân trọng quá khứ là như thế nào?
– Trân trọng hiện tại, sống hết mình trong hiện tại là ra sao?
– Nêu một số lối sống, thái độ sống chưa hợp lí:
+ Hoặc quá đề cao quá khứ mà coi nhẹ hiện tại.
+ Hoặc chạy theo chủ nghĩa hiện sinh, thực dụng mà lãng quên quá khứ.
– Bài học nhận thức, hành động của bản thân.
III. Biểu điểm:
– Điểm 3,0: Đáp ứng được các yêu cầu nêu trên; Văn viết có cảm xúc. Dẫn chứng
chọn lọc và thuyết phục. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
21
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
– Điểm 2,0: Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong
phú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 1,0: Chưa hiểu chắc yêu cầu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi.
– Điểm 0: Không hiểu đề, sai lạc phương pháp.
Câu 2 (7,0 điểm)
I. Yêu cầu về kĩ năng
Hiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết phân tích dẫn chứng để
làm sáng tỏ vấn đề. Bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ. Hành văn trôi chảy. Văn viết có
cảm xúc. Không mắc các lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả.
II. Yêu cầu về kiến thức
Học sinh biết huy động kiến thức tổng hợp về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Trãi
,phân tích làm rõ tinh thần yêu nước và tự hào dân tộc. (Cần hiểu rõ ý kiến của Phạm
Văn Đồng: Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi chính là nói đến cuộc đời và
những sáng tác văn học của ông). Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau
nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau:
1. Giải thích bài ca yêu nước và tự hào dân tộc.
Lòng yêu nước, tự hào dân tộc đã được nâng lên ở mức độ cao hơn, đẹp hơn. Cuộc
đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi là biểu hiện tuyệt vời của lòng yêu nước,
đẹp như một bài ca.

2. Phân tích, chứng minh.
a. Qua cuộc đời:
– Nguyễn Trãi sớm có mối căm thù giặc sâu sắc (thù nhà, nợ nước, khắc sâu lời cha
dặn ở cửa ải, quyết tâm rửa nhục cho nước, trả thù cho cha).
– Sống thiếu thốn, nghèo khổ nhưng vẫn luôn giữ vững khí tiết (thời kì bị bắt giam
lỏng ở Đông Quan).
– Nung nấu ý chí phục thù, tìm người kết nghĩa chống giặc (theo giúp Lê Lợi khởi
nghĩa chống quân Minh, kiên trì chịu đựng gian khổ, nếm mật nằm gai, hi sinh chiến
đấu đến cùng cho thắng lợi của dân tộc).
– Tuổi già, vẫn trở lại gánh vác việc nước (giúp vua xây dựng đất nước, xây dựng kỉ
cương cho một nền thịnh trị lâu dài để đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân).
22
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
– Nguyễn Trãi sáng tác một lượng lớn tác phẩm về nhiều mặt góp phần cứu nước và
phát triển đất nước.
b.Qua thơ văn:
– Lòng yêu nước được thể hiện đầy đủ và rõ nét qua thơ văn.
+ Căm thù giặc sâu sắc, quyết không đội trời chung:
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống.
+ Băn khoăn đau xót trước cảnh mất nước, sẵn sàng chịu đựng gian khổ hi sinh
vì nước:
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời;
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh…
…Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi”.
+ Đối với Nguyễn Trãi, yêu nước là thương dân, suốt đời Nguyễn Trãi mạng
nặng tấm lòng ưu ái đối với vận mệnh của nhân dân:
Đọc sách thì thông đòi nghĩa sách

Chăn dân mựa nữa mất lòng dân
(Bảo kính cảnh giới -57)
– Thơ văn Nguyễn Trãi còn sáng ngời niềm tự hào dân tộc:

+ Tự hào về lịch sử dân tộc:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một
phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau.
Song hào kiệt thời nào cũng có.
23
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
(Bình Ngô đại cáo).
+Tự hào về sức mạnh của dân tộc, đề cao chí khí anh hùng của dân tộc:
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
…Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận sạch không kình ngạc,
Đánh hai trận tan tác chim muông.
(Bình Ngô đại cáo).
Nói đến sức mạnh của dân tộc chính là đề cao sức mạnh của nhân dân: Lật thuyền
mới biết dân như nước (Đóng cửa biển).
3. Đánh giá.
– Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi có điểm nhất quán: lòng yêu
nước và tinh thần tự hào dân tộc. Tất cả thể hiện trọn vẹn, chói ngời vẻ đẹp của một

nhân cách vĩ đại.
– Cuộc đời, những tư tưởng trong thơ văn Nguyễn Trãi mãi là những giá trị bất
hủ.
III. Biểu điểm:
– Điểm 7,0: Đáp ứng được yêu cầu nêu trên, văn viết sâu sắc, diễn đạt trong sáng. Bài
viết thể hiện sự sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 5-6: Cơ bản đáp ứng được yêu cầu trên, văn viết chưa thật sâu sắc nhưng diễn
đạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 3-4: Cơ bản hiểu yêu cầu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tích
được dẫn chứng song ý chưa sâu sắc. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
– Điểm 1-2: Chưa hiểu rõ yêu cầu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình bày cẩu thả.
– Điểm 0: Sai lạc cả nội dung và phương pháp.
* Lưu ý:
– Giám khảo nắm vững yêu cầu của hướng dẫn chấm để đánh giá tổng quát bài làm
của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những suy nghĩ sáng
tạo.
24
Tuyển tập các đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 (kèm đáp án chi tiết)
– Việc chi tiết hóa điểm số của các câu, các ý phải đảm bảo không sai lệch với tổng
điểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến
0,5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài.
Đề số 6:
SỞ GD&ĐT VĨNH
PHÚC
ĐỀ THI ĐỀ XUẤT
KÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 NĂM HỌC 2013-2014
ĐỀ THI MÔN:NGỮ VĂN
Dành cho học sinh các trường THPT
Thời gian làm bài: 180 phút (không kể thời gian giao đề)

ĐỀ BÀI
Câu 1: Nghị luận xã hội (3,0 điểm)
Anh,chị hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của mình về tấm lòng nhân hậu trong
cuộc sống.
Câu 2: Nghị luận văn học (7,0 điểm)
Cảm nhận của anh,chị về câu chuyện truyền thuyết Truyện An Dương Vương và Mị
Châu – Trọng Thủy (sách Ngữ văn 10).

Hết
Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
Giám thị không giải thích gì thêm.
Họ và tên học sinh……………………………….Số báo danh……………….
25
kiến trên và đưa ra quan điểm của bản thân mình. HếtThí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không được lý giải gìthêm. Họ và tên thí sinh ; SBDTuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCHƯỚNG DẪN CHẤM CHỌN HSG LỚP 10 THPTNĂM HỌC năm trước – 2015M ÔN : NGỮ VĂNDành cho học sinh trường trung học phổ thông Chuyên — — — — — — — — — — — Câu 1 ( 3,0 điểm ) I. Yêu cầu về kỹ năngBiết cách làm bài văn nghị luận xã hội : Bố cục và mạng lưới hệ thống ý sáng rõ. Biết vậndụng và phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy, lập luận ngặt nghèo, dẫnchứng tinh lọc, thuyết phục. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chínhtả. II. Yêu cầu về kiến thứcBài viết phải bảo vệ những nội dung cơ bản sau : 1. Giải thích quan điểm – Tự hào : là sự hãnh diện, tự tin về điều gì đó. – 4000 năm văn hiến : là quy trình lịch sử dân tộc lâu bền hơn, gắn liền với công cuộc dựng nướcvà giữ nước, tạo nên những truyền thống lịch sử văn hoá truyền kiếp và tốt đẹp của dân tộc bản địa. – Xấu hổ : cảm xúc hổ thẹn vì lỗi lầm hoặc sự kém cỏi, không xứng danh. – 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sách lịch sử chứ không được thể hiệntrong cách hành xử đời thường ” : chỉ sự tương phản đầy nghịch lý, nhấn mạnh vấn đề nhữngtruyền thống văn hoá truyền kiếp tốt đẹp chỉ là triết lý đóng khung trong sử sách, cònthực tế đời sống không chứng tỏ cho truyền thống lịch sử văn hoá truyền kiếp đó. Ý cả câu là một lời cảnh tỉnh so với mỗi người Nước Ta : không nên ngủ quên trongquá khứ và hãnh diện về truyền thống lịch sử văn hoá truyền kiếp của dân tộc bản địa mà cần để truyềnthống văn hoá tốt đẹp đó bộc lộ trong thực tiễn đời sống hàng ngày. 2. Phân tích lý giải2. 1. Vì sao nói “ thật đáng tự hào vì Nước Ta có 4000 năm văn hiến ” ? – Vì trong trong thực tiễn không phải dân tộc bản địa nào cũng có lịch sử dân tộc tăng trưởng truyền kiếp như vậy. – Trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tạo ra những giá trị vậtchất và ý thức, hình thành truyền thống văn hoá của dân tộc bản địa với những nét tốt đẹp, biểuhiện đa dạng và phong phú ở nhiều nghành nghề dịch vụ của đời sống. Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) 2.2. Vì sao nói “ Thật xấu hổ nếu 4000 năm văn hiến chỉ là một chương trong sáchlịch sử chứ không được biểu lộ trong cách hành xử đời thường ” ? – Vì 4000 năm văn hiến là nền tảng, hành trang quý báu, nhưng nó trọn vẹn là thànhtựu của quá khứ. Không thể chỉ tự hào về những điều trong sử sách, vì văn hoá củamột dân tộc bản địa cần bộc lộ thành những điều đơn cử trong đời sống hiện tại. – Thực tế lúc bấy giờ đáng cảnh báo nhắc nhở vì sự xuống cấp trầm trọng của những giá trị văn hoá trong lốisống, VD : truyền thống lịch sử nhân đạo, tương thân tương ái ngàn xưa đang đứng trướcnguy cơ bị đẩy lùi bởi thói vô cảm và chủ nghĩa cá thể ; truyền thống lịch sử trọng tìnhnghĩa mai một trước chủ nghĩa thực dụng và toan tính3. Đánh giá – Ý kiến trên có công dụng nhắc nhở, cảnh tỉnh mỗi người Nước Ta nhìn lại chínhmình, để biết trân trọng quá khứ của cha ông đồng thời có ý thức gìn giữ và phát triểnnhững truyền thống lịch sử văn hoá tốt đẹp trong hiện tại. – Tuy nhiên, sẽ là phiến diện nếu không ghi nhận những tấm gương nỗ lực để bảo vệvà phát huy truyền thống cuội nguồn đó trong đời sống. Từ đó, rút ra bài học kinh nghiệm nhận thức và hànhđộng cho bản thân. * Thang điểm : – Cho điểm 3 : hiểu đúng nội dung của câu nói và trình diễn không thiếu những ý trên, yêu cầucó lý lẽ, lập luận ngặt nghèo, diễn đạt trong sáng. – Cho điểm 2 : cung ứng được 50% nhu yếu trên ; lập luận ngặt nghèo, diễn đạt trongsáng để làm sáng tỏ ý nghĩa của câu nói. – Cho điểm 1 : bài làm sơ sài, lập luận chưa ngặt nghèo, còn một vài sai sót nhỏ về dùngtừ, đặt câu … Lưu ý : Thí sinh hoàn toàn có thể trình diễn theo nhiều cách khác nhau, hoàn toàn có thể có những ýkiến riêng, miễn sao phải tương thích với nhu yếu của đề bài, diễn đạt trong sáng mạchlạc thì dù chọn cách nào thì cũng được điểm tối đa. Câu 2 ( 7,0 điểm ) I. Yêu cầu về kỹ năngTuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) Hiểu đề, biết cách làm bài nghị luận văn học. Biết lý giải quan điểm, biết nghiên cứu và phân tích dẫnchứng để làm sáng tỏ đánh giá và nhận định. Bố cục rõ ràng, lập luận ngặt nghèo, hành văn trôichảy, văn viết có xúc cảm. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. II. Yêu cầu về kiến thức1. Giải thích quan điểm – Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh vấn đề vào hậu quả sự sai lầm đáng tiếc của Mị Châu, từ đó đưa ra lờiluận tội nghiêm khắc. – Ý kiến thứ hai ( phát biểu ở dạng tác phẩm thơ ) thiên về tìm nguyên do của sự sailầm, đặt ra câu hỏi nhằm mục đích bênh vực Mị Châu, cho sự “ khờ dại ” đó là thực chất của tìnhyêu, thực chất của người phụ nữ khi yêu. Mỗi quan điểm một quan điểm nhìn nhận khác nhau về nhân vật Mị Châu, kẻ kết tội, ngườibênh vực. Đó cũng là sự nhiều mẫu mã trong tiếp đón văn học, sự mê hoặc mà hìnhtượng văn học tạo ra. 2. Phân tích nhân vật Mị Châu, phản hồi những quan điểm trên. 2.1. Phân tích nhân vật – Giới thiệu khái quát về nhân vật – Sự sai lầm đáng tiếc của Mị Châu : + Mị Châu không chỉ là một người dân của quốc gia Âu Lạc mà còn là một nàngcông chúa, có vai trò quan trọng so với cả vương quốc, nhưng nàng đã ngây thơ khôngcảnh giác, coi bí hiểm vương quốc như gia tài riêng của mái ấm gia đình. Nàng cho Trọng Thuỷxem nỏ thần, lại còn giảng giải cho y cách sử dụng nỏ. Hành động đó đã vô tình tiếptay cho quân địch có thêm thời cơ thôn tính nước Âu Lạc. + Khi cuộc chiến tranh xảy ra, Mị Châu vẫn rắc lông ngỗng dọc đường chạy loạn. Một lầnnữa Mị Châu đã vô tình hướng dẫn cho quân giặc chạy theo, đưa hai cha con đến chỗcùng đường tuyệt lộ. Nàng chỉ kịp nhận ra thực sự đau lòng trước lúc rơi đầu. – Nguyên nhân của sự sai lầm đáng tiếc : sự thiếu cẩn trọng của bản thân nàng. – Hậu quả của sự sai lầm đáng tiếc : Dân tộc rơi vào cuộc chiến tranh, loạn lạc, nước mất, nhà tan. Nàng chết dưới lưỡi kiếm oan nghiệt của cha. – Thái độ của tác giả dân gian với sai lầm đáng tiếc đó của Mị Châu : Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) + Tác giả dân gian đã để thần Kim Quy hiện lên quát lớn “ Kẻ nào ngồi sau ngựachính là giặc đó ”. Câu nói ấy cũng đồng thời là lời kết tội đanh thép của công lí, củanhân dân cho hành vi vô tình mà phản quốc của Mị Châu. Đó cũng là bài học kinh nghiệm đắtgiá về mối quan hệ giữa tình cảm cá thể với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. + Hình ảnh máu Mị Châu chảy xuống biển thành ngọc, xác của nàng biến thành ngọcthành là những yếu tố kì ảo, vật chứng cho tấm lòng trong trắng mà bị lừa dối củanàng. Hình ảnh đó phần nào thanh minh cho sự vô tình gây tội của Mị Châu và thểhiện thái độ cảm thông, thương xót, bao dung của nhân dân so với nàng. 2.2. Bình luận hai quan điểm – Ý kiến thứ nhất đúng khi luận tội Mị Châu với những hậu quả mà sai lầm đáng tiếc của nàngđã gây ra. Ý kiến thứ hai tỏ ra có lý khi tìm nguyên do của sự sai lầm đáng tiếc là do bảnchất của trái tim yêu. – Tuy nhiên, cần đặt tình yêu đôi lứa trong mối quan hệ với vận mệnh vương quốc, vậnmệnhcộng đồng, để thấy : Trong một quốc gia nhiều giặc giã, luôn đứng trước rủi ro tiềm ẩn củanhững cuộc xâm lược, một nàng công chúa chỉ biết lắng nghe tiếng nói của con tim, của tình yêu mà vô tình với sự sống còn của xã tắc chính là có tội. – Ngay bản thân Mị Châu trước khi chết cũng nhận ra tội lớn của mình, nàng chỉmong rửa tiếng “ bất trung, bất hiếu ” chứ không kêu oan, cũng không xin tha tội. MịChâu được người Âu Lạc xưa và người Nước Ta đời đời thương xót chính là vì đãbiết tội, dám nhận tội và cam lòng chịu tội. 3. Quan điểm của cá nhânHS hoàn toàn có thể nêu quan điểm riêng của bản thân mình theo nhiều cách khác nhau vẫn cóthể được gật đầu, miễn là có những lập luận và lí lẽ logic, thuyết phục. * Thang điểm : – Điểm 7 : Đáp ứng những nhu yếu nêu trên. Văn viết có cảm hứng, dẫn chứngchọn lọc và thuyết phục. Diễn đạt trong sáng và lưu loát. Có thể còn vài sai sótnhỏ. – Điểm 5, 6 : Đáp ứng được nhu yếu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phong phúnhưng phải làm rõ được nội dung, diễn đạt khá. Có thể còn vài sai sót nhỏ. Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) – Điểm 3, 4 : Hiểu đề, nêu được những nội dung đa phần, dẫn chứng chưa thậtphong phú lời văn chưa hay nhưng rõ ràng. Có thể còn một vài lỗi dùng từ, diễn đạt. – Điểm 2 : Chưa thật nắm vững nhu yếu của đề bài, kỹ năng và kiến thức sơ sài hoặc diễnđạt lúng túng nghiên cứu và phân tích còn nhiều hạn chế, bố cục tổng quan lộn xộn, mắc nhiều lỗi diễnđạt, dùng từ và ngữ pháp. – Điểm 1 : Chưa nắm vững cả nội dung và chiêu thức. Nội dung sơ lược, chung chung ; nhiều lỗi dùng từ, lỗi câu. – Điểm 0 : Sai lạc trọn vẹn cả về nội dung và giải pháp. – Lưu ý : + Cần trân trọng những bài viết phát minh sáng tạo và có chất văn + Điểm bài thi cho từ điểm 0 đến điểm 7 ; điểm làm tròn tính đến 0,5. LƯU í CHUNG : Điểm toàn bài là tổng điểm của 2 câu cộng lại. Các giám khảo hoàn toàn có thể cho từđiểm 0 đến điểm 10. Điểm lẻ làm tròn đến 0,5 điểm. Đề số 2 : SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚCĐỀ ĐỀ XUẤTKỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC2014-2015ĐỀ THI MÔN : NGỮ VĂN ( Dành cho học sinh trung học phổ thông không chuyên ) Thời gian làm bài : 180 phút, không kể thời hạn phátđềCâu 1 ( 3,0 điểm ). Suy nghĩ của anh ( chị ) về câu tục ngữ : “ Đi một ngày đàng học một sàng khôn ”. Câu 2 ( 7,0 điểm ). Nét độc lạ trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua những tác phẩm đãđược học. Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) HếtThí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không lý giải gì thêm. Họ và tên thí sinh … … … … …. … …. …. …. ; Số báo danh … … … … … … … … SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCKỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC năm trước – năm ngoái ĐÁP ÁN MÔN : NGỮ VĂN ( Dành cho học sinh trung học phổ thông không chuyên ) Câu 1 ( 3,0 điểm ). I. Yêu cầu về kĩ năngBiết cách làm bài văn nghị luận xã hội. Bố cục và mạng lưới hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụngphối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận ngặt nghèo. Dẫn chứngchọn lọc, thuyết phục. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. II. Yêu cầu về kiến thứcThí sinh hoàn toàn có thể trình diễn theo những cách khác nhau nhưng phải bảo vệ được nhữngnội dung cơ bản sau : a. Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ : – Đi một ngày đàng : Gắn bó với đời sống trong thực tiễn, thưởng thức qua thực tiễn. – Học : Tiếp thu tri thức, hình thành những kĩ năng. – Một sàng khôn : Những hiểu biết để con người trở nên khôn ngoan, tân tiến. Nội dung câu tục ngữ : gắn bó với thực tiễn dù trong thời hạn ngắn ( một ngày đàng ) nhưng con người sẽ thu lượm được khối lượng kiến thức và kỹ năng rất lớn ( một sàng khôn ), những kỹ năng và kiến thức, những thưởng thức thực tiễn ấy sẽ giúp con người trưởng thành lên. Câu tục ngữ khẳng định chắc chắn tầm quan trọng của kỹ năng và kiến thức trong thực tiễn so với con người. b. Bàn luận, lan rộng ra yếu tố : – Câu tục ngữ trọn vẹn đúng đắn bởi thực tiễn đời sống là một trường học lớn, baogồm những sự vật, vấn đề, con người với toàn bộ tính đơn cử, sinh động và phức tạpcủa nó ; những quan hệ, biến cố, những gì đang sống sót và diễn ra trong tự nhiên và xãhội có quan hệ với đời sống con người. Khi gắn bó với trong thực tiễn, con người có nhữngcảm nhận về đời sống một cách đơn cử, trực tiếp và chân thực nhất, đồng thời có cơhội được thưởng thức, kiểm nghiệm năng lượng sống, rèn luyện những kĩ năng sống cầnthiết để vững vàng đương đầu với thực tiễn vô cùng phức tạp, phong phú. Thực tiễn đời sốngchính là thiên nhiên và môi trường để con người được rèn luyện, nâng cao kiến thức và kỹ năng và bản lĩnh đểtrở nên hiểu biết và vững vàng hơn. ( Đáp án có 04 trang ) Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) – Khẳng định vai trò quan trọng của việc học trong thực tiễn không có nghĩa là phủnhận vai trò của việc học trong sách vở. Biết tích hợp tốt hai phương pháp đó sẽ là conđường dẫn tới thành công xuất sắc. – Phê phán những người chưa thấy được tầm quan trọng của việc học trong thực tiễn. 3. Bài học nhận thức và hành vi : – Con người muốn văn minh, trưởng thành thì ngoài kỹ năng và kiến thức thu nhận được từ sách vởcần phải tích cực xâm nhập thực tiễn đời sống, tìm tòi kiến thức và kỹ năng, rèn luyện kỹ năngthực hành. – Biết lấy kỹ năng và kiến thức từ sách vở để soi chiếu vào thực tiễn, giải quyết và xử lý những yếu tố của thực tiễn. Lưu ý : Trong quy trình bàn luận, thí sinh cần nghiên cứu và phân tích được những dẫn chứng cụthể để chứng tỏ. III. Biểu điểm : – Điểm 3,0 : Đáp ứng được những nhu yếu nêu trên ; Hành văn trong sáng, mạch lạc. Dẫnchứng tinh lọc và thuyết phục. – Điểm 2,0 : Cơ bản cung ứng được những nhu yếu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phongphú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. – Điểm 1,0 : Chưa nắm chắc nhu yếu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi. – Điểm 0 : Không hiểu đề, sai lầm chiêu thức. Câu 2 ( 7,0 điểm ) I. Yêu cầu về kĩ năngHiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết nghiên cứu và phân tích dẫn chứng đểlàm sáng tỏ yếu tố. Bố cục rõ ràng, lập luận ngặt nghèo. Hành văn trôi chảy. Văn viết cócảm xúc. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. II. Yêu cầu về kiến thứcThí sinh vận dụng hiểu biết về chủ nghĩa nhân đạo trong văn học, nghiên cứu và phân tích làmsáng tỏ những nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du ( so với những tác phẩmtrước và cùng thời ), hầu hết biểu lộ ở tác phẩm “ Độc Tiểu Thanh Ký ” và “ TruyệnKiều ”. Thí sinh hoàn toàn có thể trình diễn theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bậtđược những ý cơ bản sau : 1. Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học : – Nhân đạo là đạo lí hướng tới con người, vì con người ; là tình yêu thương giữangười với người. – Trong tác phẩm văn học, tư tưởng nhân đạo là tình cảm, thái độ của nhà vănđối với đời sống con người biểu lộ ở lòng xót thương những con người xấu số ; phê phán những thế lực bạo tàn áp bức, chà đạp con người ; trân trọng những phẩmchất và khát vọng tốt đẹp của con người, đòi quyền sống, quyền niềm hạnh phúc cho conngười – Cảm hứng nhân đạo cùng với cảm hứng yêu nước là hai sợi chỉ đỏ xuyên suốttoàn bộ nền văn học Nước Ta. Về cơ bản có những bộc lộ chung tuy nhiên ở mỗi thờikì, quy trình tiến độ, do thực trạng lịch sử dân tộc xã hội, do ý thức hệ tư tưởng của những nhà văn khácTuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) nhau nên có những bộc lộ riêng. Bằng việc biểu lộ cảm hứng nhân đạo thâm thúy, mới mẻ và lạ mắt qua những sáng tác, Nguyễn Du đã làm nên tên tuổi một đại thi hào của dân tộc bản địa. 2. Nét độc lạ trong chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du : – Lên tiếng bênh vực quyền sống của con người – những văn nghệ sĩ. Tình thương của Nguyễn Du bao trùm lên tất thảy mọi kiếp người ( Văn tế thậploại chúng sinh ), nhưng ông đặc biệt quan trọng chăm sóc đến đối tượng người dùng văn nghệ sĩ. Ông đã thấy ýnghĩa xã hội của người nghệ sĩ, người góp sức cho cuộc sống những giá trị ý thức tốtđẹp. Vì vậy ông không chỉ chăm sóc, đồng cảm với những nạn nhân của xã hội phongkiến theo nghĩa những người đói cơm rách nát áo cần được chăm sóc bảo vệ như những nhà vănkhác mà còn biết thương mến, trân trọng những gia chủ của những giá trị văn hóa truyền thống tinhthần. Khi gia chủ là người phụ nữ thì sự đồng cảm của nhà thơ lại càng có ý nghĩa sâusắc hơn. Điều này biểu lộ rõ nhất qua bài thơ chữ Hán “ Độc Tiểu Thanh kí ”. Ở bài thơnày, Nguyễn Du vừa khóc cho người vừa khóc cho mình. Đây là nét mới mang tinh thầnnhân bản của thời đại cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, thời đại con người không chỉý thức về nhân phẩm, về năng lực cá thể mà còn thức tỉnh nỗi đau của chính mình. Tựthương cũng là nét mới trong ý thức nhân bản của Nguyễn Du vì đó chính là sự tự ýthức, là bằng nước mắt mà thấm in bản ngã của mình để chống lại sự chi phối của quanniệm phi ngã, vô ngã thời trung đại. – Khẳng định con người thức tỉnh, con người ý thức. + Nhân vật Thúy Kiều là con người của thời đại đã có ý thức thâm thúy, phong phúvề đau khổ cũng như khát vọng của mình. Trong đoạn Trao duyên ( trích “ TruyệnKiều ” ), Thúy Kiều hi sinh chữ tình vì chữ hiếu, Kiều đã ứng xử như văn hóa truyền thống thời trungđại yên cầu. Nhưng Thúy Kiều không muốn nêu gương về đạo nghĩa. Ngoài hạnh phúcgia đình, nàng còn sống với khát tình yêu tuổi trẻ ; ngoài tình thương với cha mẹ và haiem, nàng còn tình yêu với chàng Kim. Kiều thiết tha với tình yêu riêng tư, đó là biểuhiện thâm thúy quyền sống cá thể của con người. Do đó, Thúy Kiều của Nguyễn Du gầnvới con người thực, con người tự nhiên chứ không đơn thuần chỉ là tấm gương đạo lí, biểu trưng đạo đức một chiều như nàng Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân. + Nhà thơ đã để cho nhân vật sống trong đau khổ thật của hiện tại, hơn là việc rungủ trong niềm hạnh phúc siêu hình. Dùng cái chết với mong ước kiếp sau được đoàn viên vớiKim Trọng cũng chỉ là giấc mộng mong manh : Thấy hiu hiu gió thì hay chị về. Ước mơbao hàm vô vọng, vì sự hiển hiện ấy nếu có cũng chỉ là niềm hạnh phúc siêu hình, chỉ làmột ảo ảnh. Một cuộc trở lại mà không có gặp gỡ : Dạ đài cách mặt khuất lời. Cái hạnhphúc “ nguyện ước ba sinh ” của nhà Phật đưa ra để an ủi con người mà thực ra lại vòxé lòng người trong thảm kịch nặng nề, vì làm gì có đoàn viên khi nàng đã là người của cõichết, âm khí và dương khí cách trở ? Thúy Kiều đã trở lại với hiện tại phũ phàng ở cuối đoạn trích : Bây giờ trâm gãy, gương tan / Kể làm thế nào xiết muôn vàn ái ân. Kiều ý thức rất rõ về khíacạnh hiện sinh, cái “ giờ đây ”, “ trâm gãy, gương tan ”, “ tơ duyên ngắn ngủi ”, “ nước chảyhoa trôi ”. Thúy Kiều đã được giải phóng khỏi những ý niệm tôn giáo về niềm hạnh phúc. Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) Nàng là “ con người được thức tỉnh, dù chỉ là để khổ đau ” ( Đặng Thanh Lê ). Đó cũng làchiều sâu và tầm cao tư tưởng nhân văn Nguyễn Du. + Con người thức tỉnh, dù chỉ là thức tỉnh trong nỗi khổ đau ấy còn liên tục đượcthể hiện trong nhiều quy trình tiến độ thăng trầm của cuộc sống Thúy Kiều, ngay cả khi nàng trởthành gái lầu xanh, bị vùi dập ở nơi nhơ nhớp nhất. Ở đoạn “ Nỗi thương mình ”, chúng tathấy một cô Kiều biết tự ý thức về phẩm giá, nhân cách bản thân, tự ý thức về quyềnsống của mình : Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh / Giật mình, mình lại thương mình xót xa. Khẳng định ý thức cá thể trong toàn cảnh văn học trung đại, khi yếu tố cá thể, quyền sống của mỗi thành viên còn ít được nhắc đến, tất cả chúng ta hoàn toàn có thể thấy chủ nghĩa nhânđạo của Nguyễn Du nhiều khi đã vượt thoát khỏi khoảng chừng trời trung đại chật hẹp để vươntới tầm quả đât bát ngát. – Trân trọng nhân cách, phẩm giá so với một kỹ nữ : Nhiều nhà nho cùng thờihoạc thuộc thế hệ sau Nguyễn Du đã có cái nhìn lên án Thúy Kiều là “ tà dâm ” chính làbời những năm tháng nàng phải sống nơi lầu xanh. Nguyễn Du không tránh mặt hiệnthực tủi hổ đó trong cuộc sống đau khổ của Thúy Kiều, ông đã miêu tả rất chân thực. Nhưng gửi gắm trong từng câu chữ vẫn là thái độ trân trọng, cảm thông, vẫn là sự bênhvực cho nhân cách, phẩm giá của người kỹ nữ tài hoa bạc mệnh như Kiều. Những câuthơ như : Khi sao phong gấm rủ là / Giờ sao tan tác như hoa giữa đường … chất chứa, đong đầy nỗi niềm trắc ẩn, xót thương. Sau 15 năm lưu lạc, Nguyễn Du vẫn nhìn nàng Kiều là một người trinh trắng : Như nàng lấy hiếu làm trinh … 3. Nguyên nhân – Thời đại Nguyễn Du với những biến cố thăng trầm là nguyên do chính dẫnđến sự chìm nổi của bao số phận, trong đó có cả số phận long đong mười năm lưu lạccủa chính bản thân Nguyễn Du. – Những năm tháng qua khứ vàng son, sống trong mái ấm gia đình người anh trai làNguyễn Khản, được tận mắt chứng kiến biết bao số phận đau khổ, thảm kịch của những người canhi, kĩ nữ giữa chốn phong phú, xa hoa. – Hơn toàn bộ là tấm lòng, trái tim người nghệ sĩ luôn tha thiết với con người, cuộcđời với những giá trị nhân văn, là “ tấm lòng hiểu thấu nghìn đời ” ( Mộng Liên Đườngchủ nhân ) của Nguyễn Du. 4. Đánh giá, nâng cao : – Nguyễn Du đã vượt qua những ràng buộc của ý thức hệ phong kiến và tôngiáo, vượt khỏi chỗ đứng giai cấp mình để vươn tới chứng minh và khẳng định giá trị tự thân của conngười. – Nét mới mẻ và lạ mắt trong chủ nghĩa nhân đạo bộc lộ tầm vóc tư tưởng, biểu hiệncủa “ sức cảm thông lạ lùng ” của nhà thơ so với con người. – Chủ nghĩa nhân đạo mới mẻ và lạ mắt, độc lạ trong sáng tác thơ văn của Nguyễn Duchính là một trong những ngọn nguồn tạo ra sự sức sống lâu bền cho văn chương bậcđại thi hào dân tộc bản địa. 10T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) III. Biểu điểm : – Điểm 7,0 : Đáp ứng được nhu yếu nêu trên, văn viết thâm thúy, diễn đạt trong sáng. Bàiviết bộc lộ sự phát minh sáng tạo, cảm thụ riêng. – Điểm 5-6 : Cơ bản phân phối được nhu yếu trên, văn viết chưa thật thâm thúy nhưng diễnđạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ. – Điểm 3-4 : Cơ bản hiểu nhu yếu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tíchđược dẫn chứng tuy nhiên ý chưa thâm thúy. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ. – Điểm 1-2 : Chưa hiểu rõ nhu yếu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình diễn cẩu thả. – Điểm 0 : Sai lạc cả nội dung và giải pháp. * Lưu ý : – Giám khảo nắm vững nhu yếu của hướng dẫn chấm để nhìn nhận tổngquát bài làm của thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có nhữngsuy nghĩ phát minh sáng tạo. – Việc cụ thể hóa điểm số của những câu, những ý phải bảo vệ không xô lệch với tổngđiểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến0, 25 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài. Đề số 3 : SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚC — — — — — — — — ĐỀ ĐỀ XUẤTKỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC năm trước – năm ngoái ĐỀ THI MÔN : NGỮ VĂNDành cho học sinh trường THPT Chuyên Vĩnh phúcThời gian làm bài : 180 phút, không kể thời hạn giao đề. — — — — — — — — — — — Câu 1 ( 3 điểm ) : Trình bày tâm lý của anh ( chị ) về câu truyện ngụ ngôn sau đây : CHIM CHÀNG LÀNGChàng Làng vẫn thường hãnh diện và kiêu ngạo về tiếng hót của mình hơn hẳnđồng loại. Nó hoàn toàn có thể hót tiếng của nhiều loài chim. Một hôm, nhân xuất hiện đông đủ bè bạn họ nhà chim, chú đậu tót lên cành cây cao rồiưỡn ngực, vươn cổ cất tiếng hót. Chú hót say sưa, khi thì giống giọng của sáo đen, khi là giọng của chích chòe, hoạ mi Ai cũng khen chú bắt chước giống và tài tìnhquá. Cuối buổi trình diễn, một chú chim sâu đề xuất : Bây giờ anh hãy hót tiếng củariêng anh cho bọn em nghe nào ! Chàng Làng đứng mãi mà không hót được giọng củariêng mình, Chàng Làng xấu hổ cất cánh bay thẳng. Bởi vì từ xưa đến nay, ChàngLàng chỉ quen nhại theo giọng hót của những loài chim khác chứ đâu chịu luyện mộtgiọng hót riêng cho chính mình. Câu 2 ( 7 điểm ) : 11T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) Trong bài viết Đặc sắc của văn học cổ xưa Nước Ta qua nội dung Truyện Kiều, GS Đặng Thai Mai cho rằng : Truyện Kiều cũng như toàn bộ những áng văn tuyệt tác trong văn học quốc tế dườngnhư không hề biết già, và lại còn có vẻ như ngày càng trẻ nữa. Truyện Kiều có cảmột vận mệnh vẻ vang. Qua kỹ năng và kiến thức về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã học trong chương trình Ngữvăn lớp 10, hãy nêu nhận xét của anh chị về quan điểm trên. … … … … … … … Hết … … … … … … …. Cán bộ coi thi không lý giải gì thêmHọ tên thí sinh … … … …. … … … … … … … … … … …. SBD … … … … … SỞ GD&ĐT VĨNH PHÚC — — — — — — — — KỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC2013-2014HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN : NGỮ VĂNDành cho học sinh trường trung học phổ thông Chuyên Vĩnhphúc — — — — — — — — — — — I. Hướng dẫn chung – Giám khảo cần nắm vững nhu yếu của Hướng dẫn chấm để nhìn nhận tổngquát bài làm của thí sinh, tránh cách chấm đếm ý cho điểm. – Do đặc trưng của bộ môn Ngữ văn nên giám khảo cần dữ thế chủ động, linh hoạttrong việc vận dụng đáp án và thang điểm ; khuyến khích những bài viết có tư duykhoa học, lập luận tinh tế, có năng lực cảm thụ văn học và tính phát minh sáng tạo cao. – Sau khi chấm xong, điểm toàn bài làm tròn đến 0,25 điểm. II. Đáp án và thang điểm12Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) Câu Ý Nội dung Điểm1 Trình bày tâm lý về câu truyện Chim Chàng Làng 3,01 Nhận thức về câu truyện ( 0,5 điểm ) – Câu chuyện kể về loài chim Chàng Làng ( còn có tên khác là chim BáchThanh ), loài chim này có năng lực tuyệt vời là bắt chước giọng của nhữngloài chim khác. – Bản thân chú chim này rất tự hào về năng lực của mình và khi có mặtđông đủ bè bạn, họ hàng nhà chim chú lại trình diễn năng khiếu sở trường ấy chomọi người chiêm ngưỡng và thưởng thức. – Tuy nhiên khi được đề xuất hót bằng giọng của mình thì chú xấu hổ bayđi mất vì lâu nay chú chỉ bắt chước, nhại theo chứ đâu có luyện cho mìnhmột giọng hót riêng. => Câu chuyện phê phán thói bắt chước, nhại lại mà không chịu tâm lý, không chịu phát minh sáng tạo để tạo ra sự phong thái riêng ở 1 số ít người. 0,52 Suy nghĩ của bản thân từ câu truyện ( 2,0 điểm ) – Bắt chước là một thói quen được hình thành từ thuở ấu thơ, nó giúp conngười học hỏi được mọi thứ từ quốc tế xung quanh để thích nghi với cuộcsống. – Bắt chước là quy trình tiến độ tiên phong của tư duy mà bất kỳ ai cũng phải trảiqua bởi khó hoàn toàn có thể ý tưởng, phát minh sáng tạo ra cái mới nếu không dựa vàonhững sáng tạo độc đáo cũ. Bắt chước trong một thực trạng nào đó cũng được coilà năng lực nếu sự bắt trước y hệt như thật. – Tuy nhiên đời sống không ngừng yên cầu sự phát minh sáng tạo. Thành công củangày thời điểm ngày hôm nay không hề giống với ngày trong ngày hôm qua, ngày mai không thểgiống ngày ngày hôm nay vì vậy con người không hề rập khuân, bắt chướcnhững cái đã có. – Câu chuyện đã phản ánh một tình hình trong xã hội : nói theo, viết theo, nghĩ theo, hành vi theo … nhất là so với học sinh lúc bấy giờ. Việc bắtchước một cách máy móc đã làm những em mất đi phong thái riêng củamình, thui chột năng lực phát minh sáng tạo, tác động ảnh hưởng lớn tới sự tăng trưởng trongtương lai. 0,50,50,250,753 Bài học nhận thức và hành vi ( 0,5 điểm ) – Trong đời sống không tự biến mình thành những con chim ChàngLàng. – Không ngừng học hỏi, không ngừng tư duy, phát minh sáng tạo để khẳng địnhmình và đi tới thành công xuất sắc. 0,250. 25N hận xét về quan điểm của GS Đặng Thai Mai : Truyện Kiều cũng như tấtcả những áng văn tuyệt tác trong văn học quốc tế có vẻ như không hềbiết già, và lại còn có vẻ như ngày càng trẻ nữa. Truyện Kiều có cảmột vận mệnh vẻ vang. 7,01 Giới thiệu yếu tố ( 0,5 điểm ) – Truyện Kiều – Nguyễn Du là kết tinh của năng lực văn học bậc thầy, làtác phẩm xuất sắc của văn học dân tộc bản địa. – Đánh giá về Truyện Kiều, GS Đặng Thai Mai cho rằng : TruyệnKiều cũng như tổng thể những áng văn tuyệt tác trong văn học quốc tế dườngnhư không hề biết già, và lại còn có vẻ như ngày càng trẻ nữa. TruyệnKiều có cả một vận mệnh vẻ vang. 0,250,252 Giải thích quan điểm ( 1,0 điểm ) – Áng văn tuyệt tác : Những tác phẩm văn chương hay, đẹp đến mức coinhư không còn hoàn toàn có thể yên cầu gì hơn, không hề có cái hơn. Già : Ở vào 0,513 Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) HếtĐề số 4 : SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCĐỀ CHÍNH THỨCKÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC 2011 – 2012 ĐỀ THI MÔN : NGỮ VĂN ( Dành cho học sinh những trường trung học phổ thông ) Thời gian làm bài : 180 phút ( Không kể thời hạn giao đề ). Câu 1 ( 3,0 điểm ). Hiền tài là nguyên khí của vương quốc, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồilên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. ( Bài kí đề danh tiến sỹ – 1442, Thân Nhân Trung ). Suy nghĩ của anh ( chị ) về đánh giá và nhận định trên. Câu 2 ( 7,0 điểm ). Viết Độc Tiểu Thanh kí, Nguyễn Du đã mượn chén rượu của người để rótrượu mình. Anh ( chị ) hãy làm sáng tỏ quan điểm trên. HẾTCán bộ coi thi không lý giải gì thêm ! Họ tên học sinh … … … … … … … … … … … Số báo danh … … … … … … … … … … … 14T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCKỲ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC 2011 – 2012H ƯỚNG DẪN CHẤM MÔN NGỮ VĂNNĂM HỌC 2011 – 2012D ành cho học sinh những trường THPTCâu 1 ( 3,0 điểm ). I. Yêu cầu về kĩ năngBiết cách làm bài văn nghị luận xã hội : Bố cục và mạng lưới hệ thống ý sáng rõ. Biết vận dụngphối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận ngặt nghèo. Dẫn chứngchọn lọc, thuyết phục. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. II. Yêu cầu về kiến thứcHọc sinh hiểu câu nói trên, bàn luận về vai trò, tầm quan trọng đặc biệt quan trọng của hiền tàiđối với vương quốc dân tộc bản địa. Bài viết phải bảo vệ được những nội dung cơ bản sau : 1. Giải thích ý nghĩa của lời đánh giá và nhận định. – Hiền tài : Trong ý niệm của người xưa, hiền tài là người có năng lực khôngnhững học rộng, hiểu nhiều mà còn có đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sốngthanh bình cho nhân dân. Hiền tài là người có cả đức hạnh, gương mẫu về đạo đức, suốt đời chăm sóc, tu dưỡng phẩm hạnh cho bản thân, đem hết kĩ năng, đức hạnh phụcvụ cho quốc gia. Tóm lại hiền tài là những người có tri thức, đạo đức, có năng lượng, tận tâm và khát vọng góp sức cho quốc gia, dân tộc bản địa. – Nguyên khí : là chất làm ra sự sống còn và tăng trưởng của quốc gia, xã hội. – Cả câu : Khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt quan trọng của hiền tài so với quốc giadân tộc. Bậc hiền tài có ý nghĩa quyết định hành động đến sự thịnh suy của quốc gia. 2. Bàn luận, lan rộng ra yếu tố. 15T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) – Khẳng định tính đúng đắn của nhận định và đánh giá : Câu nói của Thân Nhân Trung là tư tưởngquan trọng, là sự tổng kết đường lối kế hoạch về văn hoá giáo dục. Đây là một tưtưởng rất là đúng đắn, tân tiến, có ý nghĩa trong mọi thời, mọi vương quốc dân tộc bản địa. Bởivì ở thời nào, ở quốc gia nào thì hiền tài vẫn là người tạo ra hầu hết những giá trịvật chất, niềm tin, đặc biệt quan trọng ở họ có năng lực phán đoán và đánh giá và nhận định tình hình sángsuốt hơn người thường. – Nhà nước có chủ trương chăm sóc nuôi dưỡng, huấn luyện và đào tạo và đãi ngộ thích đáng vớingười hiền tài. Trong thời đại của nền kinh tế tri thức, thời đại Open và hội nhậptoàn cầu, chủ trương tăng trưởng văn hoá giáo dục ở mọi vương quốc, đặc biệt quan trọng là những nướcphát triển ngày càng được chú trọng. Với nước ta, giáo dục luôn được coi là quốcsách số 1. 3. Bài học nhận thức và hành vi. – Ý thức được vai trò, tầm quan trọng của hiền tài so với quốc gia. – Có thái độ trân trọng với bậc hiền tài. – Bản thân cố gắng nỗ lực học tập tu dưỡng để trở thành người có ích cho quốc gia. III. Biểu điểm : – Điểm 3,0 : Đáp ứng được những nhu yếu nêu trên ; Văn viết có xúc cảm. Dẫn chứngchọn lọc và thuyết phục. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. – Điểm 2,0 : Cơ bản phân phối được những nhu yếu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phongphú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. – Điểm 1,0 : Chưa hiểu chắc nhu yếu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi. – Điểm 0 : Không hiểu đề, sai lầm chiêu thức. Câu 2 ( 7,0 điểm ) I. Yêu cầu về kĩ năngHiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết nghiên cứu và phân tích dẫn chứng đểlàm sáng tỏ yếu tố. Bố cục rõ ràng, lập luận ngặt nghèo. Hành văn trôi chảy. Văn viết cócảm xúc. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. II. Yêu cầu về kiến thứcThí sinh hoàn toàn có thể trình diễn theo nhiều cách khác nhau nhưng phải làm nổi bậtđược những ý cơ bản sau : 16T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) 1. Giải thích đánh giá và nhận định. “ Nguyễn Du mượn chén rượu của người ” – cảm thương cho số phận của TiểuThanh ; “ rót rượu mình ” – bộc bạch nỗi niềm cảm thương cho chính mình. Qua ĐộcTiểu Thanh kí, Nguyễn Du khóc cho nàng Tiểu Thanh và khóc cho chính mình. 2. Phân tích bài thơ làm sáng tỏ quan điểm. – Câu chuyện cuộc sống của Tiểu Thanh đã tạo nên niềm xúc động, cảm thươngchân thành ở Nguyễn Du. Không chỉ khóc nàng Tiểu Thanh hồng nhan bạc mệnh – cái đẹp bị vùi dập, đọa đày, Nguyễn Du còn tri âm để đồng cảm tận cùng nỗi đau, nỗixót cũng là nỗi oán hận mà Tiểu Thanh phải mang theo xuống suối vàng – “ Vănchương vô mệnh lụy phần dư ”. Đó là nỗi hận vì cái đẹp, cái tài bị vùi dập, chà đạp, bịchối bỏ phũ phàng. – Cảm thương cho thảm kịch của Tiểu Thanh, Nguyễn Du bắc nhịp cầu giaocảm để tự thấy mình là người cùng hội cùng thuyền với nàng – “ mượn chén rượucủa người ” và “ rót rượu của mình ” : tự nhận mình giống Tiểu Thanh “ mắc nỗioan lạ lùng vì nết phong nhã ” và mong mỏi tìm người khóc mình như mình đãkhóc Tiểu Thanh. Từ tiếng khóc người, nỗi thương người, Độc Tiểu Thanh kí cònlà tiếng khóc mình, nỗi thương mình ; là mối tự hận, tự thương ; là niềm khát khaotri kỉ của Nguyễn Du. 3. Đánh giá, nâng cao. – Nguyễn Du có một tâm hồn tinh xảo, nhạy cảm, giàu yêu thương ; một trái timnhân đạo lớn dành cho con người mà trước hết là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh : Thúy Kiều, người gảy đàn ở đất Long thành … Nhờ vậy, Độc Tiểu Thanh kí vừa có ýnghĩa tố cáo phê phán xã hội bất công, tàn tệ vừa tiềm ẩn tư tưởng nhân đạo, nhân văn lớn lao, thâm thúy. Tư tưởng ấy được cô đúc trong một bài thơ thất ngôn bátcú Đường luật hàm súc, phảng phất giọng điệu bi phẫn do rất nhiều thanh trắc, gợicảm giác trĩu nặng, ngưng đọng. – Nguyễn Du cũng là một con người khổ đau, đơn độc, không có tri kỉ. Tâm sựđó của Nguyễn Du cần được hậu thế đồng cảm qua những thi phẩm của ông. Bởi lẽ, lời nói tri âm giữa người đọc và người viết là điều văn học dân tộc bản địa nào, thời đại17Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) nào cũng hướng tới. Chẳng vậy mà nhà văn Bùi Hiển cho rằng : “ Ở nước nào cũngthế thôi, sự cảm thông sẻ chia giữa người đọc và người viết là trên hết ”. III. Biểu điểm : – Điểm 7,0 : Đáp ứng được nhu yếu nêu trên, văn viết thâm thúy, diễn đạt trong sáng. Bàiviết biểu lộ sự phát minh sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. – Điểm 5-6 : Cơ bản cung ứng được nhu yếu trên, văn viết chưa thật thâm thúy nhưng diễnđạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ. – Điểm 3-4 : Cơ bản hiểu nhu yếu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tíchđược dẫn chứng tuy nhiên ý chưa thâm thúy. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ. – Điểm 1-2 : Chưa hiểu rõ nhu yếu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình diễn cẩu thả. – Điểm 0 : Sai lạc cả nội dung và giải pháp. * Lưu ý : – Giám khảo nắm vững nhu yếu của hướng dẫn chấm để nhìn nhận tổng quát bài làmcủa thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những tâm lý sángtạo. – Việc cụ thể hóa điểm số của những câu, những ý phải bảo vệ không rơi lệch với tổngđiểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến0, 5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài. Đề số 5 : SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCĐỀ CHÍNH THỨCKÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC 2011 – 2012 ĐỀ THI MÔN : NGỮ VĂNDành cho học sinh trường trung học phổ thông chuyênThời gian làm bài 180 phút không kể thời hạn giao đề. Câu 1 ( 3,0 điểm ). Có quan điểm cho rằng : Nếu anh bắn súng lục vào quá khứ thì tương lai sẽ bắnanh bằng đại bác. Nhưng Tổng giám đốc tập đoàn lớn Coca Cola, Bryan Dion lại khẳngđịnh : Bạn chớ để đời sống trôi qua kẽ tay vì bạn cứ mải đắm chìm trong quá khứ18Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) hay ảo tưởng về tương lai. Chỉ bằng cách sống cuộc sống mình trong từng khoảnhkhắc của nó, bạn sẽ sống toàn vẹn từng ngày của đời mình. Anh ( chị ) tâm lý như thế nào trước những lời khuyên ấy. Câu 2 ( 7,0 điểm ). Trong bài viết Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc bản địa, Phạm Văn Đồng viết : Sựnghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi là bài ca yêu nước và tự hào dân tộc bản địa. Anh ( chị ) hãy làm sáng tỏ đánh giá và nhận định trên. HẾTCán bộ coi thi không lý giải gì thêm. Họ tên học sinh … … … … … … … … … … … Số báo danh … … … … … … … … … … … SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCHƯỚNG DẪN CHẤM CHỌN HSG LỚP 10 trung học phổ thông NĂM HỌC2011-2012MÔN NGỮ VĂNDành cho học sinh trường trung học phổ thông chuyên. Câu 1 ( 3,0 điểm ). I. Yêu cầu về kĩ năngBiết cách làm bài văn nghị luận xã hội : Bố cục và mạng lưới hệ thống ý sáng rõ. Biết vậndụng phối hợp nhiều thao tác nghị luận. Hành văn trôi chảy. Lập luận ngặt nghèo. Dẫn19Tuyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) chứng tinh lọc, thuyết phục. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chínhtả. II. Yêu cầu về kiến thứcBài viết phải bảo vệ được những nội dung cơ bản sau : 1. Giải thích. – Quá khứ : là cái đã qua, là thời hạn đã qua. – Hiện tại : là cái đang xảy ra, là thời hạn đang sống. – Tương lai : là cái chưa tới, hoàn toàn có thể xảy ra, là thời hạn sắp tới, sẽ tới. – Bắn : ẩn dụ, chỉ thái độ, cách đối xử của con người với quá khứ, tương lai. – Cuộc sống trôi qua kẽ tay : để đời sống trôi qua phí hoài, vô ích, thái độ hờ hững vớicuộc sống. – Ý kiến thứ nhất : Bằng cách nói hình ảnh : bắn súng lục vào quá khứ, tương lai sẽbắn anh bằng đại bác, cách dùng hình ảnh mang ý nghĩa tăng tiến : súng lục – đại bác, người nói muốn khẳng định chắc chắn : Cách đối xử của mỗi người với quá khứ như thế nào thìtương lai họ nhận được sẽ như vậy, thậm chí còn còn tồi tệ hơn thế. Câu nói đề xuất mộtlối sống, một thái độ sống : trân trọng quá khứ, biết ơn quá khứ. – Ý kiến thứ hai : Bằng cách nói nhấn mạnh vấn đề, phủ định để chứng minh và khẳng định : chớ để … chỉbằng cách … sống toàn vẹn từng ngày, người nói muốn ý kiến đề nghị một lối sống : trântrọng từng khoảnh khắc của hiện tại, sống hết mình trong hiện tại. – Hai quan điểm tưởng chừng trái chiều nhưng kì thực là sự bổ trợ ý nghĩa cho nhau, cùnghướng con người tới một lối sống, một thái độ sống tích cực, đúng đắn : sống là phảibiết trân trọng quá khứ, biết ơn nguồn cội. Song đồng thời phải biết tiếp đón hiệntại, sống hết mình cho hiện tại và biết vun đắp cho tương lai. 2. Phân tích, bàn luận. – Tại sao sống là phải biết trân trọng quá khứ ? + Quá khứ là truyền thống cuội nguồn, là lịch sử vẻ vang, là nguồn cội, tổ tiên, là văn hoá, văn minhxưa … Quá khứ là những gì đã xảy ra, trôi qua, không khi nào lấy lại được. Do đó, con người phải ghi nhận trân trọng quá khứ, nguồn cội …, trân trọng chính mình. + Vì phải có quá khứ mới có hiện tại và tương lai, với quá khứ người ta xâydựng hiện tại và tương lai. 20T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) + Quá khứ chính là tấm gương soi để con người tự nhận thức và rút ra những bàihọc kinh nghiệm tay nghề quí báu cho mình. + Nếu con người quay sống lưng, “ bắn vào quá khứ ”, con người sẽ trở thành nhữngkẻ vô ơn, bạc nghĩa. Họ sẽ bị tương lai đáp trả hậu quả tương ứng. VD : Nếu cha mẹ không kính trọng ông bà, quay sống lưng lại truyền thống cuội nguồn, nguồn cội … thì khó mà dạy nổi con cháu ; sau này họ cũng dễ bị con cháu khinh thường. Đối với một vương quốc dân tộc bản địa, trong quy trình hội nhập văn hoá, nếu không biếtgiữ gìn truyền thống, sẽ dễ bị diệt vong.vv … – Tại sao phải biết trân trọng hiện tại, sống hết mình cho hiện tại ? + Vì hiện tại là cái đang hiện hữu, con người xây đắp những thứ quan trọng nhấttrong hiện tại : những giá trị vật chất, những giá trị ý thức … + Hiện tại ngày hôm nay cũng sẽ trở thành quá khứ ngày mai. Đời người là hữu hạn. Vì thế, nếu con người quên béng hiện tại, tất yếu họ sẽ luôn phải nuối tiếc những gì đãtrôi qua, không đạt được. + Quá khứ dù đẹp tươi, thiêng liêng, cũng là cái đã qua. Tương lai dù hấp dẫnnhưng nếu ta không thực thi ngày hôm nay thì cũng chỉ là mơ ước. Bởi vậy, mỗi ngườicần biết sống thực sự, ngay trong hiện tại. 3. Mở rộng. – Trân trọng quá khứ là ra làm sao ? – Trân trọng hiện tại, sống hết mình trong hiện tại là thế nào ? – Nêu một số ít lối sống, thái độ sống chưa hợp lý : + Hoặc quá tôn vinh quá khứ mà coi nhẹ hiện tại. + Hoặc chạy theo chủ nghĩa hiện sinh, thực dụng mà quên béng quá khứ. – Bài học nhận thức, hành vi của bản thân. III. Biểu điểm : – Điểm 3,0 : Đáp ứng được những nhu yếu nêu trên ; Văn viết có xúc cảm. Dẫn chứngchọn lọc và thuyết phục. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. 21T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) – Điểm 2,0 : Cơ bản phân phối được những nhu yếu nêu trên. Dẫn chứng chưa thật phongphú. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. – Điểm 1,0 : Chưa hiểu chắc nhu yếu của đề bài. Kiến thức sơ sài. Còn mắc nhiều lỗi. – Điểm 0 : Không hiểu đề, sai lầm giải pháp. Câu 2 ( 7,0 điểm ) I. Yêu cầu về kĩ năngHiểu đề, biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Biết nghiên cứu và phân tích dẫn chứng đểlàm sáng tỏ yếu tố. Bố cục rõ ràng, lập luận ngặt nghèo. Hành văn trôi chảy. Văn viết cócảm xúc. Không mắc những lỗi diễn đạt, dùng từ, ngữ pháp, chính tả. II. Yêu cầu về kiến thứcHọc sinh biết kêu gọi kiến thức và kỹ năng tổng hợp về cuộc sống và thơ văn Nguyễn Trãi, nghiên cứu và phân tích làm rõ niềm tin yêu nước và tự hào dân tộc bản địa. ( Cần hiểu rõ quan điểm của PhạmVăn Đồng : Sự nghiệp và tác phẩm của Nguyễn Trãi chính là nói đến cuộc sống vànhững sáng tác văn học của ông ). Thí sinh hoàn toàn có thể trình diễn theo nhiều cách khác nhaunhưng phải bảo vệ những ý cơ bản sau : 1. Giải thích bài ca yêu nước và tự hào dân tộc bản địa. Lòng yêu nước, tự hào dân tộc bản địa đã được nâng lên ở mức độ cao hơn, đẹp hơn. Cuộcđời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi là biểu lộ tuyệt vời của lòng yêu nước, đẹp như một bài ca. 2. Phân tích, chứng tỏ. a. Qua cuộc sống : – Nguyễn Trãi sớm có mối căm thù giặc thâm thúy ( thù nhà, nợ nước, khắc sâu lời chadặn ở cửa ải, quyết tâm rửa nhục cho nước, trả thù cho cha ). – Sống thiếu thốn, bần hàn nhưng vẫn luôn giữ vững khí tiết ( thời kì bị bắt giamlỏng ở Đông Quan ). – Nung nấu ý chí báo thù, tìm người kết nghĩa chống giặc ( theo giúp Lê Lợi khởinghĩa chống quân Minh, kiên trì chịu đựng khó khăn, nếm mật nằm gai, hi sinh chiếnđấu đến cùng cho thắng lợi của dân tộc bản địa ). – Tuổi già, vẫn trở lại gánh vác việc nước ( giúp vua thiết kế xây dựng quốc gia, thiết kế xây dựng kỉcương cho một nền thịnh trị vĩnh viễn để đem lại ấm no, niềm hạnh phúc cho nhân dân ). 22T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) – Nguyễn Trãi sáng tác một lượng lớn tác phẩm về nhiều mặt góp thêm phần cứu nước vàphát triển quốc gia. b. Qua thơ văn : – Lòng yêu nước được bộc lộ vừa đủ và rõ nét qua thơ văn. + Căm thù giặc thâm thúy, quyết không đội trời chung : Ngẫm thù lớn há đội trời chungCăm giặc nước thề không cùng sống. + Băn khoăn đau xót trước cảnh mất nước, sẵn sàng chuẩn bị chịu đựng khó khăn hi sinhvì nước : Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời ; Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối. Quên ăn vì giận, sách lược thao xem xét đã tinh … … Những trằn trọc trong cơn mộng mị, Chỉ do dự một nỗi đồ hồi ”. + Đối với Nguyễn Trãi, yêu nước là thương dân, suốt đời Nguyễn Trãi mạngnặng tấm lòng ưu tiên so với vận mệnh của nhân dân : Đọc sách thì thông đòi nghĩa sáchChăn dân mựa nữa mất lòng dân ( Bảo kính cảnh giới – 57 ) – Thơ văn Nguyễn Trãi còn sáng ngời niềm tự hào dân tộc bản địa : + Tự hào về lịch sử vẻ vang dân tộc bản địa : Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập, Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế mộtphương. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau. Song hào kiệt thời nào cũng có. 23T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án chi tiết cụ thể ) ( Bình Ngô đại cáo ). + Tự hào về sức mạnh của dân tộc bản địa, tôn vinh chí khí anh hùng của dân tộc bản địa : Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật, Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay. … Gươm mài đá, đá núi cũng mòn, Voi uống nước, nước sông phải cạn. Đánh một trận sạch không kình ngạc, Đánh hai trận tan tác chim muông. ( Bình Ngô đại cáo ). Nói đến sức mạnh của dân tộc bản địa chính là tôn vinh sức mạnh của nhân dân : Lật thuyềnmới biết dân như nước ( Đóng cửa biển ). 3. Đánh giá. – Cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Nguyễn Trãi có điểm đồng điệu : lòng yêunước và niềm tin tự hào dân tộc bản địa. Tất cả biểu lộ toàn vẹn, chói ngời vẻ đẹp của mộtnhân cách vĩ đại. – Cuộc đời, những tư tưởng trong thơ văn Nguyễn Trãi mãi là những giá trị bấthủ. III. Biểu điểm : – Điểm 7,0 : Đáp ứng được nhu yếu nêu trên, văn viết thâm thúy, diễn đạt trong sáng. Bàiviết bộc lộ sự phát minh sáng tạo, cảm thụ riêng. Có thể còn một vài sai sót nhỏ. – Điểm 5-6 : Cơ bản phân phối được nhu yếu trên, văn viết chưa thật thâm thúy nhưng diễnđạt trong sáng. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ. – Điểm 3-4 : Cơ bản hiểu nhu yếu của đề. Bố cục bài viết rõ ràng. Chọn và phân tíchđược dẫn chứng tuy nhiên ý chưa thâm thúy. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ. – Điểm 1-2 : Chưa hiểu rõ nhu yếu của đề. Diễn đạt lúng túng, trình diễn cẩu thả. – Điểm 0 : Sai lạc cả nội dung và chiêu thức. * Lưu ý : – Giám khảo nắm vững nhu yếu của hướng dẫn chấm để nhìn nhận tổng quát bài làmcủa thí sinh. Cần khuyến khích những bài viết có chất văn, có những tâm lý sángtạo. 24T uyển tập những đề thi học sinh giỏi môn ngữ văn lớp 10 ( kèm đáp án cụ thể ) – Việc cụ thể hóa điểm số của những câu, những ý phải bảo vệ không xô lệch với tổngđiểm của câu và được thống nhất trong hội đồng chấm. Điểm lẻ được làm tròn đến0, 5 điểm sau khi đã chấm xong và cộng tổng điểm toàn bài. Đề số 6 : SỞ GD&ĐT VĨNHPHÚCĐỀ THI ĐỀ XUẤTKÌ THI CHỌN HSG LỚP 10 NĂM HỌC 2013 – năm trước ĐỀ THI MÔN : NGỮ VĂNDành cho học sinh những trường THPTThời gian làm bài : 180 phút ( không kể thời hạn giao đề ) ĐỀ BÀICâu 1 : Nghị luận xã hội ( 3,0 điểm ) Anh, chị hãy viết bài văn trình diễn tâm lý của mình về tấm lòng nhân hậu trongcuộc sống. Câu 2 : Nghị luận văn học ( 7,0 điểm ) Cảm nhận của anh, chị về câu truyện thần thoại cổ xưa Truyện An Dương Vương và MịChâu – Trọng Thủy ( sách Ngữ văn 10 ). HếtThí sinh không được sử dụng tài liệu. Giám thị không lý giải gì thêm. Họ và tên học sinh … … … … … … … … … … … …. Số báo danh … … … … … …. 25

Source: https://evbn.org
Category: Học Sinh