phân tích thực trạng về kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường đại học kinh – Tài liệu text
phân tích thực trạng về kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường đại học kinh tế thành phố hỗ chí minh
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (710.84 KB, 20 trang )
Bạn đang đọc: phân tích thực trạng về kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường đại học kinh – Tài liệu text
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH 2
1.1 Các khái niệm 2
1.1.1 Khái niệm thuyết trình 2
1.1.2 Vai trò của thuyết trình 2
1.1.3 Kỹ năng thuyết trình 2
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình 3
1.2.1 Tác phong khi thuyết trình 3
1.2.2 Nội dung thuyết trình 4
1.2.2.1 Đề tài nghiên cứu 4
1.2.2.2 Bố cục trình bày 4
1.2.2.3 Tính nhất quán 5
1.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác 6
1.2.3.1 Công cụ PowerPoint 6
1.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian 6
1.2.3.3 Yếu tố khán thính giả 7
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM 8
2.1 Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học kinh tế
TP.HCM 8
2.2 Phân tích thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại
học kinh tế TP.HCM 9
2.2.1 Tác phong khi thuyết trình 9
2.2.2 Nội dung thuyết trình 10
2.2.2.1 Đề tài nghiên cứu 10
2.2.2.2 Bố cục trình bày 10
2.2.2.3 Tính nhất quán 11
2.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác 11
2.2.3.1 Công cụ PowerPoint 11
2.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian 12
2.2.3.3 Yếu tố khán thính giả 12
Chương 3: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM 13
3.1 Mục tiêu của giải pháp 13
3.2 Giải pháp cải thiện kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học
kinh tế TP.HCM 14
3.2.1 Cải thiện tác phong khi thuyết trình 14
3.2.2 Cải thiện nội dung thuyết trình 15
3.2.2.1 Đề tài nghiên cứu 15
3.2.2.2 Bố cục trình bày 15
3.2.2.3 Tính nhất quán 15
3.2.3 Cải thiện sử dụng công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác16
3.2.3.1 Công cụ PowerPoint 16
3.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian 16
3.2.3.3 Yếu tố khán thính giả 17
3.3 Kiến nghị 17
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC: BẢNG KẾT QUẢ VỀ CÁC CÂU HỎI TÌM HIỂU VỀ “KỸ
NĂNG THUYẾT TRÌNH” CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH
TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1
MỞ ĐẦU
Thời gian gần đây, việc đổi mới phương pháp dạy và học được thực hiện
khắp các trường đại học trong cả nước. Trong đó, phương pháp thuyết trình được
áp dụng ở khá nhiều bộ môn. Qua đó, sinh viên phát triển các khả năng tìm tòi
sáng tạo, khả năng làm việc nhóm và khả năng tư duy phản biện.
Đa số sinh viên thích học bằng phương pháp thuyết trình. Nhưng giữa thích
và làm tốt là một khoảng cách không nhỏ. Thuyết trình thực sự là một nhiệm vụ
không dễ dàng bởi người thuyết trình cần được trang bị những kỹ năng nhất định
mới có thể thực hiện thành công một bài thuyết trình gồm chọn đề tài, lập đề
cương, thu thập tư liệu, biên soạn nội dung, trình bày đề tài từ chủ đề cho đến kết
luận, trả lời các câu hỏi Người thuyết trình còn phải vượt qua nỗi sợ hãi khi nói
trước đám đông thì mới mong có được một buổi thuyết trình rõ ràng, thu hút được
người theo dõi.
Khảo sát một số lớp tại trường Đại học Kinh tế TP.HCM cho thấy hầu hết
sinh viên tuy thích nhưng lại sợ thuyết trình không tốt. Và số liệu cũng ghi nhận
hầu hết sinh viên chưa thực hiện tốt thuyết trình. Có thể nói nhu cầu được hiểu biết
và rèn luyện kỹ năng thuyết trình là một đòi hỏi thực tế khách quan đối với sinh
viên hiện nay.
Trong bối cảnh trên, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Kỹ năng thuyết trình
của sinh viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM” nhằm ghi nhận thực trạng cũng
như đề ra giải pháp cải thiện nâng cao kỹ năng thuyết trình đối với sinh viên
trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
2
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm thuyết trình
Theo Wiktionary thì thuyết trình là “trình bày một cách hệ thống và sáng rõ
một vấn đề trước đông người”.
Xét đơn giản theo hành động và mục đích thì thuyết trình là trình bày bằng
lời trước nhiều người về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết
phục, gây ảnh hưởng đến người nghe.
1.1.2 Vai trò của thuyết trình
Trong công việc, cho dù một người có những hiểu biết quý giá và ý tưởng
độc đáo đến đâu đi chăng nữa, mà đến khi cần thiết lại không thể trình bày cho
người khác hiểu thì cũng khó lòng đạt được những thành công nhất định. Không ai
chấp nhận một người được xem là thành đạt mà đứng trước đám đông lại lúng
túng, nói không ra tiếng. Đáng tiếc hơn nữa, vốn hiểu biết, kinh nghiệm làm việc,
ý tưởng độc đáo của người này sẽ không giúp ích gì cho người khác.
Trong học tập, thuyết trình là yêu cầu bắt buộc đối với người sinh viên
trong một số môn học mà giảng viên áp dụng phương pháp thuyết trình; đồng thời,
thuyết trình cũng là cơ hội để người sinh viên rèn luyện khả năng trình bày trước
đám đông của mình, chuẩn bị cho hành trang ra trường làm việc thuận lợi sau này.
Để trở thành một người thành công, người ta không chỉ cần có trí tuệ thông
minh, kiến thức uyên bác, tư duy sáng tạo, phẩm chất đạo đức cao thượng, mà còn
phải có khả năng ăn nói, phong cách đĩnh đạc trước mọi người; đặc biệt là nếu
muốn trở thành nhà quản lý hay lãnh đạo.
1.1.3 Kỹ năng thuyết trình
Kỹ năng thuyết trình là khả năng sử dụng kết hợp kiến thức, thái độ,
phương pháp, công cụ cần thiết vào quá trình truyền đạt và dẫn dắt thông tin nhằm
3
làm cho nội dung thông tin có sức hấp dẫn hơn, thu hút được nhiều người nghe
hơn.
Kỹ năng thuyết trình là sự kết hợp giữa nội dung và hình thức, giữa giao
tiếp ngôn ngữ và giao tiếp hình thể, không chỉ truyền đạt thông tin đến đám đông
bằng lời nói đến cơ quan thính giác của họ, mà còn truyền đến các giác quan còn
lại gồm thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác (bằng hình ảnh, mùi, vị, tiếp xúc).
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình
1.2.1 Tác phong khi thuyết trình
Để có một buổi thuyết trình thành công thì người thuyết trình cần phải
chuẩn bị rất nhiều những yếu tố. Trong đó, tác phong của người thuyết trình chiếm
một vị trí không nhỏ đến hiệu quả của buổi thuyết trình. Tác phong ở đây bao
gồm: trang phục hay hình dáng bên ngoài; hành vi, điệu bộ và cách ứng xử; phong
cách xuất hiện …
Ấn tượng đầu tiên về người thuyết trình chính là hình dáng bên ngoài của
họ ngay khi xuất hiện. Vì thế, chúng ta cần tạo được thiện cảm đối với người nghe
ở những giây đầu tiên này. Lựa chọn, phối hợp trang phục là một kỹ năng quan
trọng ảnh hưởng trực tiếp đến bài thuyết trình. Một sự phối hợp hài hòa giữa trang
phục, đầu tóc và những trang sức kèm theo sẽ tạo được ấn tượng tốt với khán thính
giả. Mặt khác, trang phục gọn gàng, phù hợp sẽ giúp cho bạn cảm thấy tự tin,
mạnh mẽ hơn khi thuyết trình và sẽ tạo được sự tin cậy nơi người nghe. Ngược lại,
nếu chọn trang phục không hợp với cơ thể, hoàn cảnh và nội dung bài diễn thuyết
sẽ gây phản cảm cho đối phương. Từ đó, bài thuyết trình của bạn sẽ giảm sức
thuyết phục.
Ví dụ: Bạn đang thuyết trình về đề tài cách ăn mặc nơi công sở, trong khi
đó lại khoác lên người một chiếc quần jean và áo thun với màu sắc sặc sỡ, cùng
với mái tóc không được kẹp gọn gàng, hẳn lời thuyết trình của bạn sẽ không còn
sức thuyết phục nữa, thậm chí khán thính giả cũng không hứng thú nghe tiếp. Hoặc
bạn đeo quá nhiều trang sức, chẳng hạn như hai, ba chiếc vòng tay; có thể chúng sẽ
tạo ra những tiếng va chạm, tiếng động gây mất tập trung cho người nghe. Vì vậy,
4
những nội dung mà bạn muốn truyền tải đến người nghe sẽ không được trọn vẹn,
và tất nhiên là bài thuyết trình của bạn sẽ không được như ý.
Bên cạnh trang phục thuyết trình, thì phong thái, hành vi, cách ứng xử của
bạn cũng chiếm một vị trí quan trọng. Một giọng nói to, rõ ràng sẽ truyền cảm
hứng cho người nghe. Cách diễn đạt tự tin, phong thái tự nhiên sẽ làm người nghe
cảm thấy thân thiện và tin cậy. Từ đó, dễ dàng chinh phục được người nghe. Người
nghe sẽ rất buồn ngủ, mất tập trung nếu giọng nói của bạn cứ đều đều như trả bài,
mắt thì chăm chăm nhìn vào bài thuyết trình đã chuẩn bị sẵn. Điều này, là dấu hiệu
để người nghe nhận thấy bạn đang mất tự tin, bối rối về bài thuyết trình của mình.
Ngoài vấn đề trang phục và thái độ hành vi trong khi thuyết trình, thì phong
thái khi xuất hiện cũng khá quan trọng. Ấn tượng trong phút đầu tiên sẽ ảnh hưởng
đến thái độ của khán thính giả dành cho bạn. Nếu có ấn tượng tốt, họ sẽ dành thiện
cảm cho bạn. Muốn vậy, bạn hãy xuất hiện với dáng vẻ tự tin, tư thế đi, đứng
thẳng, tự nhiên. Mở đầu bằng lời chào khán thính giả và tự giới thiệu bản thân.
Nếu thiếu phần tự giới thiệu thì mọi người sẽ cho rằng bạn hoặc là tự ti, e ngại,
hoặc là ra dáng kẻ cả làm như mình nổi tiếng lắm không cần phải giới thiệu;
trường hợp nào cũng đều bất lợi cho bạn.
1.2.2 Nội dung thuyết trình
1.2.2.1 Đề tài nghiên cứu
Tổng quát thì không có sự hạn chế về đề tài nghiên cứu. Đề tài có thể là vấn
đề vĩ mô bao gồm các lĩnh vực kinh tế, chính trị pháp lý, văn hóa xã hội, khoa học
kỹ thuật, tự nhiên. Đề tài có thể là vấn đề vi mô chủ yếu đề cập vấn đề con người
bao gồm đối thủ cạnh tranh, đối tác giao dịch, khách hàng, nhà cung cấp, nội bộ
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để có tính hấp dẫn, thu hút thì cho dù chọn lĩnh vực nào, đề tài
cũng cần mang tính thời sự, tính thiết thực, tính đặc sắc, tính mới lạ, tính độc đáo.
1.2.2.2 Bố cục trình bày
5
Nội dung trình bày cần được tổ chức sắp xếp theo một bố cục nhất định, rõ
ràng, hợp lý, mang tính thuyết phục cao, nhằm dẫn dắt người nghe dễ dàng theo
dõi diễn tiến câu chuyện, từ đó hiểu được thông điệp truyền đạt.
Mở đầu: Về hình thức, cần thu hút sự chú ý và tạo thiện cảm nơi người
nghe ngay lập tức, có một số cách mở đầu như sau: kể một câu chuyện, dẫn lời
một danh nhân, đặt câu hỏi, gợi ý tò mò của khán thính giả, làm điệu bộ khác
thường. Về nội dung, nêu bật được vấn đề nghiên cứu, bao gồm lý do, nội dung,
phạm vi, giá trị của nghiên cứu.
Đoạn giữa: Về hình thức, khán thính giả có ít thời gian suy nghĩ vì phải
theo dõi thuyết trình cho nên nếu nội dung không sáng sủa, rõ ràng, ý tứ không liên
tục, tự nhiên thì họ sẽ không hiểu được diễn giả muốn nói gì và không muốn nghe
nữa. Cho nên về mặt nội dung, cần tuân thủ đúng trình tự quy định để bảo đảm
tính liền lạc, hợp lý của câu chuyện, bao gồm đi từ cơ sở lý thuyết của nghiên cứu,
đến các vấn đề cần giải quyết, yêu cầu công việc, ý tưởng và giải pháp, cung cấp
bằng chứng, lợi ích khi áp dụng giải pháp, chương trình hành động, các việc làm
cụ thể.
Kết thúc: Nếu đoạn mở tạo ấn tượng ban đầu, đoạn giữa tạo giá trị cung cấp
thông tin, thì đoạn kết có tác dụng khắc sâu vào tâm trí khán thính giả, bởi những
lời sau cùng dễ được nhớ nhất. Về mặt hình thức, phải làm sao cho khán thính giả
biết là đã kết thúc và họ ra về mà vẫn còn tiếc. Về mặt nội dung, đoạn kết nêu lên
điểm nhấn của bài trình bày, giá trị và hạn chế của nghiên cứu.
1.2.2.3 Tính nhất quán
Mỗi bài thuyết trình có sứ mạng hướng đến chỉ một chủ đích nhất định, cho
nên tính nhất quán về nội dung phải được thể hiện xuyên suốt từ đầu đến cuối bài
thuyết trình, bao gồm:
Nhất quán giữa đoạn mở đầu và đoạn kết thúc.
6
Nhất quán giữa các nội dung chi tiết trong đoạn giữa. Cụ thể là phải có sự
tương đồng giữa các nội dung cơ sở lý thuyết, thực trạng và phân tích đánh giá,
mục tiêu và giải pháp.
1.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác
1.2.3.1 Công cụ PowerPoint
Với sự phát triển của công nghệ thông tin và truyền thông, việc thuyết trình
trở nên thuận lợi hơn rất nhiều nhờ phần mềm PowerPoint: các ý tưởng trình bày
được công cụ hỗ trợ để minh họa hoặc nhấn mạnh, thời gian viết vẽ bảng được tiết
kiệm, sức thu hút khán giả được nâng cao nhờ hiệu ứng âm thanh và hình ảnh sống
động.
Để khai thác PowerPoint hiệu quả, cần tuân thủ một số nguyên tắc chung:
làm sao cho các trang chiếu trở nên dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ; các trang chiếu càng
ngắn gọn, càng súc tích càng tốt, nhưng không được quá nghèo nàn, thiếu hấp dẫn;
thiết kế chữ lớn để bảo đảm khán giả xa nhất cũng thấy; nên sử dụng chữ không
chân cho rõ ràng; không quá nhiều dòng trên một trang (6); không quá nhiều chữ
trên một dòng (6); phối màu nền và màu chữ cho tương phản, tốt nhất là màu nền
tối, màu chữ sáng.
1.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian
Không gian thuyết trình: kích thước và hình dạng phòng họp cần phù hợp
với số lượng khán thính giả; màn chiếu và bàn ghế được sắp xếp sao cho hợp lý,
bảo đảm diễn giả vừa có thể nhìn trực diện tất cả khán giả vừa có thể tham khảo
hình ảnh sơ đồ khi cần thiết; các phương tiện âm thanh, ánh sáng bảo đảm thích
hợp, không bị trục trặc bất thường.
Thời gian thuyết trình: buổi sáng thường được tiếp thu dễ dàng hơn so với
buổi trưa, chiều hay tối; thời lượng của buổi thuyết trình cũng cần phù hợp, trung
bình 30 phút đến một giờ là vừa phải; quá dài sẽ gây cảm giác chán ngán, còn quá
ngắn thì không thể tải hết lượng thông tin cần thiết (tất nhiên vấn đề thời lượng chỉ
mang tính tương đối tùy theo nội dung chủ đề thuyết trình).
7
1.2.3.3 Yếu tố khán thính giả
Khán thính giả tích cực: chăm chú lắng nghe, há miệng như muốn “uống”
từng lời của bạn, hăng hái khi bạn lớn tiếng, lo thay khi bạn lỡ quên, muốn nhắc
khi bạn ngập ngừng; tóm lại là chung vui và chia lo cùng bạn. Chỉ gặp vài tâm hồn
cảm thông như vậy cũng đủ mát lòng rồi.
Khán thính giả gây phiền: không chú ý lắng nghe mà làm việc khác, cười
nói cùng nhau thật ồn ào, ra vào phòng thuyết trình tùy tiện ảnh hưởng đến mọi
người, buồn ngủ thậm chí ngủ trong khi nghe thuyết trình, phản ứng gay gắt khi
chưa hiểu. Gặp những tình huống như trên thì bạn cần phải bình tĩnh, nhắc nhở
gián tiếp bằng cách chuyển hướng thuyết trình, ví dụ như thông qua một câu
chuyện cười, một đoạn phim ngắn; nhưng tốt nhất là bạn nên xem lại chính mình,
do thuyết trình thiếu hăng hái, hấp dẫn; do độc thoại chứ không đối thoại; do đọc
giọng đều như ru ngủ;
Những câu hỏi và tình huống: dù đã lường trước một số câu hỏi, nhưng vẫn
không tránh khỏi gặp phải những câu hỏi hay tình huống khó. Trước hết, bạn hãy
Xem thêm: Xe đạp điện dành cho học sinh cấp 2
bảo đảm hiểu đúng câu hỏi vì khá nhiều người hỏi rất dài dòng nhưng không rõ hỏi
gì. Gặp câu hỏi khó, không nên trả lời ngay, hãy suy nghĩ một chút, hoặc hỏi lại
cho rõ, mục đích có thêm thời gian chuẩn bị trả lời. Đôi khi gặp tình huống khán
thính giả muốn tranh luận, thậm chí cố tình khiêu khích, chọc tức, tìm cách bắt bẻ,
vặn vẹo. Tình huống này, cố gắng hạn chế tranh luận, công việc của bạn là thuyết
trình và thuyết phục chứ không phải tranh luận; dù bạn có đúng đến đâu chăng nữa
thì chắc gì khán thính giả đồng ý, thừa nhận họ sai.
8
Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH
CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
2.1 Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học kinh tế
TP.HCM
Số liệu khảo sát được thực hiện ngày 12/01/2011 tại giảng đường đại học
kinh tế 10,11,12 cho thấy thực trạng về kỹ năng thuyết trình của sinh viên:
47,5% sinh viên đánh giá thường xuyên phải làm thuyết trình.
78,5% sinh viên đánh giá cao vai trò của kỹ năng thuyết trình.
40% sinh viên cảm thấy lo sợ khi thuyết trình.
26,5% sinh viên hài lòng với kỹ năng thuyết trình của mình.
85% sinh viên cho rằng yếu tố tác phong trong thuyết trình là quan trọng.
82,5% sinh viên cho rằng yếu tố nội dung trong thuyết trình là quan trọng.
56,5% sinh viên cho rằng yếu tố môi trường là quan trọng.
2,5% sinh viên thực hiện thuyết trình bằng tham gia khóa học thuyết trình.
81% sinh viên thực hiện thuyết trình bằng học hỏi giảng viên và bạn bè.
16,5% sinh viên thực hiện thuyết trình bằng bản năng.
89% sinh viên muốn trau dồi kỹ năng thuyết trình bằng tham gia khóa học.
Qua số liệu khảo sát trên cho thấy việc thuyết trình trở nên quen thuộc với
các bạn sinh viên, song thực tế nhiều bạn sinh viên thường thuyết trình một cách “
bản năng” hoặc chủ động mô phỏng theo giảng viên chứ chưa được đào tạo dẫn
đến thói quen học thuộc lòng – nhớ – đọc lại trở thành phổ biến. Đa số các bạn đều
cảm thấy sợ khi thuyết trình trước đám đông dẫn đến mất tự tin khi trình bày.
Do tâm lý coi buổi thuyết trình trên lớp là không quan trọng, chỉ là thực
hiện cho có theo hình thức và cũng dựa vào sự dễ dãi của các giảng viên nên khi
thuyết trình các bạn sinh viên chỉ chú trọng vào phần nội dung và sử dụng các
công cụ để trình bày mà không chú ý đến yếu tố tác phong đó là trang phục, cử chỉ,
9
điệu bộ, giọng nói… Tuy nhiên về phần nội dung thì các bạn thường sao chép y
nguyên tài liệu tìm được từ Internet, sách hoặc tạp chí mà không biết sàng lọc dẫn
đến nội dung không có tính chặt chẽ, logic và thậm chí lạc đề.
Bên cạnh đó yếu tố môi trường cũng ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình,
đặc biệt là hành vi của khán giả. Thực tế khi có bạn thuyết trình ở trên, thì ở dưới,
bên cạnh những bạn tích cực tập trung lắng nghe, vẫn còn một số không tập trung,
hoặc nói chuyện riêng, nhắn tin điện thoại hoặc học môn khác. Nếu như người
thuyết trình cầm giấy đọc theo kiểu độc thoại thì tình trạng này ngày càng phổ biến
hơn
2.2 Phân tích và đánh giá thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên
trường Đại học kinh tế TP.HCM
2.2.1 Tác phong khi thuyết trình
Về trang phục: trừ một số trường hợp đặc biệt, còn lại đa số giảng viên xem
thuyết trình như một phương pháp, một công cụ để truyền tải môn học, cho nên
không khắt khe trong việc bắt buộc sinh viên phải trang phục đúng mức khi thuyết
trình. Do vậy, hầu hết nam sinh viên chưa chú trọng trang phục phù hợp, chưa ý
thức được trang phục người thuyết cần sang hơn người nghe một bậc. Không hiếm
sinh viên khi thuyết trình mặc áo dài tay nhưng xắn lên tới khủy, hoặc vận quần
jean, áo thun, còn dép thì không có quai hậu; trong khi hiếm hoi mới thấy sinh viên
chịu thắt cà vạt. Nữ sinh viên thì có phần chú trọng đến trang phục hơn.
Về phong thái xuất hiện: sự đường hoàng, đĩnh đạc bước lên diễn đàn
không phải sinh viên nào cũng làm được. Quan sát nhiều buổi thuyết trình của sinh
viên sẽ thấy những hình ảnh thường xuất hiện nhất là: cúi đầu lầm lũi bước, rụt vai
sợ sệt, tung tăng chạy lên, bước ra sân khấu mà mắt đảo trên trần nhà, cho tay vào
túi quần Ngay cả sinh viên đã từng thuyết trình vài lần nhưng khi xuất hiện ra
mắt khán thính giả vẫn hồi hộp, vẫn bị cảm giác ngượng nghịu, thậm chí khó thở,
không thể mở lời ngay được.
Về thái độ hành vi: qua khảo sát và đặc biệt là quan sát trực tiếp một số buổi
thuyết trình thì đây là kỹ năng mà sinh viên có biểu hiện yếu nhất. Rất hiếm có
10
sinh viên biết khai thác ngôn ngữ hình thể. Hầu hết sinh viên mang thái độ thiếu tự
tin, rụt rè. Phần quan trọng nhất là giao tiếp bằng ánh mắt với khán thính giả thì rất
hạn chế, bắt gặp nhiều nhất là nhìn vào giấy trên tay, nhìn vào màn hình, nhìn ra
cửa sổ, nhìn lên trần nhà có lúc nhìn xuống khán phòng nhưng cũng chỉ nhìn
phớt phía trên chứ không nhìn vào mắt khán thính giả. Giọng nói có vẻ không
được luyện tập, trau chuốt vì hầu như không phải thuyết mà là đọc hoặc nói thuộc
lòng một cách đều đều, còn khi quên thì ấp úng, ngập ngừng. Nét mặt ít biểu lộ
được sự tươi vui, hăng hái, tự tin; thay vào đó là sự căng thẳng, hồi hộp, âu lo. Do
căng thẳng nên dáng cơ thể thường không yên, không ngừng lắc lư qua lại; đôi
chân cũng đảo bộ qua lại liên tục; đôi tay thì một tay cầm micro, một tay không
biết phải làm gì nên thường cầm theo tờ giấy vừa để đỡ thừa thải vừa có cái để
nhìn và đọc.
2.2.2 Nội dung thuyết trình
2.2.2.1 Đề tài nghiên cứu
Bỏ qua trường hợp đề tài được giảng viên chọn sẵn thì sinh viên đành phải
thụ động chấp nhận. Vậy mà trong trường hợp có cơ hội được tự chọn đề tài thì đa
số sinh viên lại thích những đề tài có sẵn, đã được nhiều thế hệ sinh viên trước
thực hiện, có lẽ bởi tính dễ tham khảo thậm chí copy. Những đề tài như thế ít có
sức thu hút, mặt khác không chắc sẽ được thực hiện tốt hơn những người thuyết
trình trước đây.
2.2.2.2 Bố cục trình bày
Một số sinh viên không làm đề cương. Một số khá lớn tuy có làm đề cương
nhưng chỉ mang tính hình thức, hời hợt, cho nên khi triển khai nội dung chi tiết đã
bị lạc hướng. Điều này xuất hiện là do một số sinh viên chủ quan xem thường việc
lập đề cương. Một số sinh viên khác thì có lập nhưng không chuyển cho giảng viên
xem trước. Số khác thì chuyển cho giảng viên nhưng không thực hiện hiệu chỉnh
lại cho hợp lý.
Phần mở đầu và kết luận tưởng chừng đơn giản, vậy mà cũng chưa được
làm tốt. Nhiều sinh viên không đưa được chủ đề của bài thuyết trình vào phần mở
11
đầu và kết luận; có vẻ họ chưa hiểu đúng ý nghĩa và yêu cầu đối với hai phần này,
dẫn đến xem nhẹ và đầu tư ít vào đây.
Phần nội dung thì mắc nhiều lỗi. Nhiều tình huống đảo lộn trình tự nội dung
chi tiết giữa các phần cơ sở lý thuyết – thực trạng và phân tích thực trạng – giải
pháp; có khi nêu giải pháp trước rồi mới đến thực trạng, có khi gộp chung cơ sở lý
thuyết và giải pháp, thậm chí có lúc cả ba phần trên được gộp chung làm một.
Nguyên nhân chủ yếu là do không có đề cương hoặc đề cương không hợp lý như
đã nêu trên.
Phần kết thúc thường ngắn gọn, đơn giản, vội vã, đột ngột kiểu như “phần
trình bày của tôi đến đây là kết thúc” khiến người nghe đôi khi chưa kịp hiểu là đã
hết; ấn tượng, dư âm buổi thuyết trình khó mà đọng lại trong lòng người nghe.
2.2.2.3 Tính nhất quán
Đa số sinh viên tập trung vào phần nội dung mà không quan tâm phần mở
đầu cũng như kết thúc cho nên tính nhất quán trong cả ba phần không thể hiện rõ
nét.
Rất nhiều trường hợp phần thực trạng và giải pháp không ăn nhập với cơ sở
lý thuyết đã nêu. Nhiều trường hợp khác thì phân tích thực trạng theo hướng nêu
ưu nhược điểm, nhưng giải pháp thì theo hướng khắc phục tồn tại hoặc ngược lại.
Các trường hợp trên, bỏ qua nguyên nhân sinh viên chưa hiểu rõ, còn lại
phần lớn là do sự làm việc nhóm kém; từng thành viên được phân công thực hiện
riêng rẽ, rời rạc; khi kết hợp lại không có sự hiệu chỉnh, hoàn thiện.
2.2.3 Công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác
2.2.3.1 Công cụ PowerPoint
Phần mềm PowerPoint thật là đắc dụng, nhưng không phải sinh viên nào
cũng biết khai thác hiệu quả. Sinh viên thường quá lạm dụng hoặc không hiểu
nguyên tắc sử dụng. Các lỗi mắc phải nhiều nhất là chữ quá nhỏ, chữ quá nhiều,
đọc từng câu chữ trên màn hình, lạm dụng các hiệu ứng, lạm dụng các hình ảnh,
thiếu phương án dự phòng. Chữ quá nhỏ đến mức khó mà đọc được, nhất là những
12
ai ở cuối khán phòng. Chữ quá nhiều khiến người đọc không biết nên đọc màn
hình hay nghe thuyết trình. Đọc trên màn hình nên không thể giao tiếp ánh mắt với
khán thính giả. Lạm dụng hiệu ứng âm thanh, hình ảnh khiến người xem bị phân
tán theo dõi. Sử dụng hình ảnh không liên quan nội dung. Khi tập tin trình chiếu bị
hỏng hoặc máy chiếu có vấn đề thì hầu như không thể khắc phục, phải hoãn thuyết
trình.
2.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian
Không gian và thời gian thuyết trình: đối với sinh viên thì gần như đây là
yếu tố khách quan vì địa điểm và thời gian do nhà trường và giảng viên ấn định.
Nhiều lúc phòng họp quá rộng so với khán giả gây nên cảm giác lạc lõng, trống
trải, xa lạ; cũng có lúc phòng quá hẹp tạo nên sự chật chội, ngột ngạt, bất tiện.
Thường gặp nhất là sử dụng phòng học bố trí bàn ghế theo kiểu lớp học, sinh viên
không sắp xếp lại nên sự giao tiếp diễn giả với khán thính giả không hợp lý, thuận
tiện. Điều kiện âm thanh và ánh sáng, máy móc thiết bị nghe và nhìn, thì hoàn
toàn lệ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường. Thời gian thuyết trình
nếu đúng buổi trưa nhằm lúc hạn chế dùng phòng máy lạnh thì xem như buổi
thuyết trình sẽ gặp sự nóng bức, ngột ngạt.
2.2.3.3 Yếu tố khán thính giả
Khán thính giả gây phiền: những hình ảnh thường gặp nhất ở khán thính
giả, đặc biệt ở những dãy bàn cuối, là nói chuyện bất chấp người diễn thuyết.
Trung bình năm phút thuyết trình có một lần chuông điện thoại reng từ dưới khán
phòng. Khán giả đi trễ tự nhiên ra vào khán phòng, gây ảnh hưởng sự tập trung của
người khác.
13
Chương 3: GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦA
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
3.1 Mục tiêu của giải pháp
Mục tiêu của giải pháp mà chúng tôi đưa ra không ngoài việc cải thiện các
yếu tố chính ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình. Đó là các yếu tố đã được đề cập
ở phần trình bày về cơ sở lý luận cũng như phần thực trạng về kỹ năng thuyết trình
mà các anh chị đã được xem qua. Nếu như liên tưởng nhóm chúng tôi như một ê
kíp bác sĩ, thì sau phần chẩn bệnh được trình bày ở chương hai của tiểu luận này,
thì qua chương ba, các anh chị sẽ được xem sự kê toa bốc thuốc. Phần dẫn nhập
này sẽ giúp các anh chị có cái nhìn sơ lược trước khi đi vào chi tiết từng giải pháp.
Yếu tố cần phải cải thiện trước tiên là tác phong của người thuyết trình, yếu
tố đóng vai trò quan trọng nhất bởi vì nó là thông điệp đầu tiên mà một sinh viên
nói riêng hay một diễn giả nói chung trình ra cho khán thính giả dù muốn dù
không. Giải pháp cải thiện tác phong mà chúng tôi đưa ra sẽ theo hướng chọn lọc
bớt những tác nhân thừa không phù hợp làm mất sự tự tin của một diễn giả.
Điều thứ hai chúng tôi muốn cải thiện cho diễn giả liên quan đến phần nội
dung, thông điệp bằng ngôn ngữ trực quan cụ thể mà diễn giả muốn gửi gắm đến
khán thính giả và được xem như phần hồn của bài thuyết trình. Giải pháp chủ yếu
nằm ở cấu trúc trình bày thông điệp theo một trật tự hợp lý nhất mà chúng tôi
nghiên cứu được.
Các công cụ hỗ trợ cho việc thuyết trình mà chúng tôi gọi là phương tiện
trình bày là đối tượng thứ ba của giải pháp cải thiện. Nó được xem là cái thân xác
để chứa đựng cái phần hồn nội dung. Giải pháp của chúng tôi nhằm đến cách thức
trình bày và sự chuẩn bị đạo cụ, bao gồm cả thiết bị dự phòng cho mọi tình huống
xấu xảy ra ngoài ý muốn.
Cuối cùng, yếu tố chính còn lại cần chú ý cải thiện là khả năng quản lý các
tác nhân ngoại tác. Giải pháp chủ yếu ở yếu tố này nằm khả năng kiểm soát mức
độ phản ứng của khán thính giả. Nó bao hàm từ thời gian thuyết trình đến cách
thức tương tác, tần số đối thoại giữa người nói và người nghe.
14
3.2 Giải pháp cải thiện kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học
kinh tế TP.HCM
3.2.1 Cải thiện tác phong khi thuyết trình
Về trang phục: cho dù giảng viên không bắt buộc về trang phục, nhưng sinh
viên nên tự trang phục phù hợp cho mình. Về nguyên tắc hãy trang phục sang hơn
thính giả một bậc; điều này giúp cho ta tự tin hơn, còn thính giả sẽ nể trọng ta hơn.
Vừa phù hợp với sinh viên vốn eo hẹp về tài chính, vừa phù hợp yêu cầu thuyết
trình, thì có vẻ đối với nam sinh viên, trang phục thích hợp là quần tây sậm màu,
có thắt lưng, áo sơ mi dài tay có cài khuy, giày tây hoặc dép có quai hậu, có thể
thêm cà vạt để tăng phần sang trọng. Đối với nữ sinh viên thì cũng quần tây áo sơ
mi như nam, hoặc váy áo vét cho sang trọng. Nam thì không trang sức, trang điểm;
trong khi nữ thì cần để tăng phần duyên dáng, vẻ đẹp.
Về phong thái xuất hiện: giáo sư Loek Hopstaken – giảng viên ĐH
Wittenborg (Hà Lan) – nổi tiếng về đào tạo quản trị nhân sự, quan hệ công chúng,
có lời khuyên ngắn gọn như sau “Hãy đi chậm rãi, kiểm soát từng di chuyển, khi ra
đến sân khấu thì đứng thẳng người vì đó là tư thế thể hiện bạn tự tin nhất”.
Về thái độ hành vi: sinh viên cần có hiểu biết về ngôn ngữ cơ thể trong
thuyết trình và phải luyện tập trước khi thuyết trình. Ngôn ngữ cơ thể phải hòa
quyện với suy nghĩ và lời nói khi thuyết trình. Ánh mắt nhìn bao quát khán phòng,
có thể dừng lại ở cá nhân nào đó, sự giao tiếp cá nhân bằng mắt trong thời gian vừa
phải 15 giây. Nét mặt phải có sự biểu cảm, không cười nhưng vẫn tươi. Động tác
tay không buông thẳng, cũng không vung quá nhiều, khi vung tay thì trong phạm
vi từ hông tới cằm. Di chuyển qua lại nên có để tạo sự thu hút nơi khán giả, nhưng
không di chuyển quá nhanh hay quá nhiều dễ gây rối mắt. Dù cho có hiểu biết
nhưng nếu thiếu luyện tập thì vẫn không quen và lúng túng như thường. Một điển
hình là việc luyện thở, trước hết là hỗ trợ cho luyện giọng, tiếp đó là giúp cho tự
tin. Có người nói “Ai mà không biết thở, cần gì phải tập?”. Thực sự phải hẳn thế.
Phổi ta trung bình chứa 2 lít không khí, vậy ta thở ra được bao nhiêu? Thông
thường chỉ thở ra có nửa lít, nghĩa là 1,5 lít với đầy thán khí vẫn còn lại trong phổi.
15
Luyện thở để ép hết không khí độc hại ra khỏi, thay thế không khí trong sạch vào,
hành động vô cùng ý nghĩa. Ngoài ra, mỗi khi cảm thấy hồi hộp, run sợ, thì hãy hít
thở những hơi thật sâu, sự bình tâm sẽ trở lại.
3.2.2 Cải thiện nội dung thuyết trình
3.2.2.1 Đề tài nghiên cứu
Nếu có cơ hội được tự chọn thì hãy chọn đề tài có tính thời sự, thiết thực,
mới lạ, độc đáo, và nhất là đề tài đó nói về vấn đề ta yêu thích nhất. Việc này tất
nhiên đòi hỏi phải nỗ lực nhiều hơn khi tra cứu tư liệu và biên soạn bài thuyết
trình.
3.2.2.2 Bố cục trình bày
Nhất thiết phải lập cho được đề cương tuân theo quy định. Đề cương càng
chi tiết càng tốt, tức là gồm đầy đủ dàn ý, ý chính, ý phụ. Nếu là thuyết trình nhóm
thì đề cương cần được nhóm thông qua. Sau đó, cần chuyển cho giảng viên xem và
nhận xét. Căn cứ theo nhận xét của giảng viên mà hiệu chỉnh đề cương cho phù
hợp.
Sau đó đi tra cứu tư liệu điền vào phần chi tiết. Cần chú trọng phần mở đầu
và phần kết luận vì là phần tạo ấn tượng ban đầu và ấn tượng sau cùng. Đừng quên
chủ đề thuyết trình phải xuất hiện ngay trong phần mở đầu. Có thể sử dụng một
trong những cách thông dụng để mở đầu: bằng một câu chuyện, mượn lời của một
danh nhân, đặt một câu hỏi, khơi gợi tính tò mò của khán thính giả,
Phần nội dung thì chú ý trình tự lô gíc bài thuyết trình gồm đặt vấn đề, cơ
sở lý thuyết áp dụng, khai triển, phân tích, đánh giá vấn đề, giải pháp giải quyết
vấn đề.
Phần kết thúc có thể áp dụng một số hình thức sau đây: tóm tắt ý trong bài,
đưa ra một lời khuyên, khuyến khích một hành động, đặt ra một câu hỏi cho khán
thính giả, phác họa một tương lai vui vẻ, mở rộng vấn đề
3.2.2.3 Tính nhất quán
16
Khi đã lập đề cương hợp lý như đã nêu trên thì tính nhất quán của bài thuyết
trình không còn đáng lo ngại. Chỉ cần tra cứu tư liệu thích hợp đưa vào bài viết.
Nếu làm việc nhóm, phân công mỗi người biên soạn một phần, thì về mặt
cá nhân cần tuân thủ theo đề cương đã lập, về mặt nhóm cần có sự hoàn thiện, hiệu
chỉnh cho đồng bộ khi ghép các phần lại.
3.2.3 Cải thiện sử dụng công cụ trình chiếu và các yếu tố ngoại tác
3.2.3.1 Công cụ PowerPoint
Số lượng trang chiếu tương ứng thời lượng thuyết trình, nhiều quá gây mất
tập trung, ít quá sẽ nhàm chán; thuyết trình 30 phút thì số trang chiếu 25-30.
Kích thước chữ to bảo đảm tất cả khán giả đều thấy rõ, cỡ 30-40 tùy loại
phông chữ. Phông chữ nên chọn không chân sẽ dễ nhìn hơn, ví dụ Arial, VNI-
Helve (phông chữ có chân như Times New Roman, VNI-Times thì chỉ thích hợp
cho sách, bài viết dài vì có tác dụng chống mỏi mắt khi đọc).
Số dòng và số chữ vừa phải. Một trang chiếu nhiều lắm chỉ 6 dòng, mỗi
dòng không quá 6 từ. Thuyết trình viên phải xem trang chiếu như là công cụ gợi
nhớ và tạo sinh động chứ không phải là bài viết để nhìn mà đọc, cho nên cần hiểu
kỹ phần trình bày để tránh quên trước quên sau, dẫn đến lúng túng phải đọc từng
từ trên trang chiếu.
Tránh sử dụng các hiệu ứng gây rối mắt kiểu như câu chữ xoay vòng gây
nhức mắt khán giả. Các hình ảnh nên vừa phải và có sự chọn lọc cho phù hợp nội
dung, không nên dễ dãi sử dụng những hình ảnh có sẵn vì khán giả dễ thấy chán vì
đã được xem quá nhiều lần, cố gắng sử dụng những hình ảnh tự tạo, đặc biệt có
liên quan đến cá nhân, tập thể nhóm thuyết trình, hay lớp học. Có thêm các đoạn
phim, hoạt cảnh, tiểu phẩm tự thực hiện thì thuyết trình sẽ sinh động, hấp dẫn hơn.
Nên lưu giữ tập tin trình chiếu ít nhất hai nơi; nếu có điều kiện thì dự phòng
máy tính, máy chiếu, mục đích để dự phòng sự cố ngoài ý muốn.
3.2.3.2 Yếu tố không gian, thời gian
17
Không gian và thời gian thuyết trình: tuy đây là yếu tố khách quan, nhưng
sinh viên có thể chủ động cải thiện hoàn cảnh bằng một số cách như: liên hệ thay
đổi địa điểm, thời gian thuyết trình phù hợp, khảo sát trước địa điểm để có sự
chuẩn bị, sắp xếp lại bàn ghế cho hợp lý, kiểm tra bảo đảm phương tiện, thiết bị
nghe nhìn cần thiết gồm chủng loại, số lượng, chất lượng, tính năng sử dụng.
3.2.3.3 Yếu tố khán thính giả
Chuẩn bị sẵn sàng cho một số tình huống không thuận lợi có thể xảy ra. Ví
dụ chuẩn bị một vài mẫu chuyện, đoạn phim ngắn, để làm thay đổi không khí
đang trầm lắng trong thính phòng. Nhắc nhở khéo léo bằng lời và chữ trên màn
hình về việc tắt chuông điện thoại di động.
Lường trước một số câu hỏi có thể xuất hiện và soạn trước nội dung trả lời.
Luôn tự nhủ phải kiềm chế, không tranh luận gay gắt làm mất lòng khán thính giả,
làm họ càng nổi xung dễ hỏi dồn ép ta vào chỗ bí.
Nếu cảm thấy thuyết trình thiếu hăng hái thì có thể thử biện pháp mạnh sau:
chuẩn bị kim/gai nhọn tự châm chích mình, bảo đảm sẽ bị kích thích, năng động
lên ngay.
3.3 Kiến nghị
Nhà trường nên đưa “Kỹ năng thuyết trình” vào chương trình giảng dạy
chính thức thành một môn học chính khóa hoặc ngoại khóa.
Giảng viên nên áp dụng phương pháp thuyết trình trong giảng dạy đối với
tất cả các môn học.
Giảng viên các môn học áp dụng phương pháp thuyết trình cần có yêu cầu
cao hơn đối với sinh viên khi thực hiện thuyết trình (về trang phục, đề cương, ).
Nhà trường mở thêm phòng ốc và phương tiện phục vụ thuyết trình. Ban
Giảng đường và thời khóa biểu sắp xếp giờ thực hiện thuyết trình hợp lý.
Đoàn Thanh niên kết hợp Nhà trường tổ chức các hội thi về kỹ năng mềm
để tạo phong trào rèn luyện kỹ năng, trong đó có thuyết trình.
18
KẾT LUẬN
Ta đã biết kỹ năng thuyết trình là một trong những chìa khóa giúp ta thành
công cho dù trong môi trường học tập hay làm việc. Đặc biệt đối với sinh viên
kinh tế, đang nuôi dưỡng hoài bão kinh doanh thì kỹ năng thuyết trình lại càng cần
thiết.
Qua bài viết, ta có thể thấy nhiều bạn sinh viên vẫn còn thiếu sự tự tin và
những kỹ năng cần thiết để có thể thuyết trình một cách hiệu quả. Nếu sinh viên
sớm quan tâm đến kỹ năng thuyết trình thì điều này không chỉ giúp sinh viên thành
công trong thời gian học đại học, mà còn mang lại cho họ nhiều lợi thế trong môi
trường công việc sau này.
Bài viết chỉ đưa đến cho các bạn sinh viên một số khái niệm, một vài giải
pháp mang tính giới thiệu nhằm giúp các bạn sinh viên có sự quan tâm đến kỹ
năng thuyết trình, thấy tầm quan trọng của thuyết trình, có nhu cầu rèn luyện kỹ
năng thuyết trình.
Các khóa hướng dẫn rèn luyện kỹ năng thuyết trình chuyên nghiệp sẽ là
điểm đến tiếp theo cho các bạn sinh viên thực sự muốn trở thành chuyên gia thuyết
trình, thành công trong tương lai.
2.2.3. 1 Công cụ PowerPoint 112.2.3.2 Yếu tố khoảng trống, thời hạn 122.2.3.3 Yếu tố khán thính giả 12C hương 3 : GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦASINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM 133.1 Mục tiêu của giải pháp 133.2 Giải pháp cải tổ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại họckinh tế TP.HCM 143.2.1 Cải thiện tác phong khi thuyết trình 143.2.2 Cải thiện nội dung thuyết trình 153.2.2.1 Đề tài nghiên cứu và điều tra 153.2.2.2 Bố cục trình diễn 153.2.2.3 Tính đồng điệu 153.2.3 Cải thiện sử dụng công cụ trình chiếu và những yếu tố ngoại tác163. 2.3.1 Công cụ PowerPoint 163.2.3.2 Yếu tố khoảng trống, thời hạn 163.2.3.3 Yếu tố khán thính giả 173.3 Kiến nghị 17K ẾT LUẬN 18T ÀI LIỆU THAM KHẢOPHỤ LỤC : BẢNG KẾT QUẢ VỀ CÁC CÂU HỎI TÌM HIỂU VỀ “ KỸNĂNG THUYẾT TRÌNH ” CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINHTẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHMỞ ĐẦUThời gian gần đây, việc thay đổi giải pháp dạy và học được thực hiệnkhắp những trường ĐH trong cả nước. Trong đó, chiêu thức thuyết trình đượcáp dụng ở khá nhiều bộ môn. Qua đó, sinh viên tăng trưởng những năng lực tìm tòisáng tạo, năng lực thao tác nhóm và năng lực tư duy phản biện. Đa số sinh viên thích học bằng chiêu thức thuyết trình. Nhưng giữa thíchvà làm tốt là một khoảng cách không nhỏ. Thuyết trình thực sự là một nhiệm vụkhông thuận tiện bởi người thuyết trình cần được trang bị những kỹ năng nhất địnhmới hoàn toàn có thể thực thi thành công xuất sắc một bài thuyết trình gồm chọn đề tài, lập đềcương, tích lũy tư liệu, biên soạn nội dung, trình diễn đề tài từ chủ đề cho đến kếtluận, vấn đáp những câu hỏi Người thuyết trình còn phải vượt qua nỗi sợ hãi khi nóitrước đám đông thì mới mong có được một buổi thuyết trình rõ ràng, lôi cuốn đượcngười theo dõi. Khảo sát 1 số ít lớp tại trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh cho thấy hầu hếtsinh viên tuy thích nhưng lại sợ thuyết trình không tốt. Và số liệu cũng ghi nhậnhầu hết sinh viên chưa triển khai tốt thuyết trình. Có thể nói nhu yếu được hiểu biếtvà rèn luyện kỹ năng thuyết trình là một yên cầu thực tiễn khách quan so với sinhviên lúc bấy giờ. Trong toàn cảnh trên, nhóm nghiên cứu và điều tra đã chọn đề tài ” Kỹ năng thuyết trìnhcủa sinh viên trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh ” nhằm mục đích ghi nhận tình hình cũngnhư đề ra giải pháp cải tổ nâng cao kỹ năng thuyết trình so với sinh viêntrường Đại học Kinh tế TP.HCM.Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH1. 1 Các khái niệm1. 1.1 Khái niệm thuyết trìnhTheo Wiktionary thì thuyết trình là ” trình diễn một cách mạng lưới hệ thống và sáng rõmột yếu tố trước đông người “. Xét đơn thuần theo hành vi và mục tiêu thì thuyết trình là trình diễn bằnglời trước nhiều người về một yếu tố nào đó nhằm mục đích cung ứng thông tin hoặc thuyếtphục, gây ảnh hưởng tác động đến người nghe. 1.1.2 Vai trò của thuyết trìnhTrong việc làm, mặc dầu một người có những hiểu biết quý giá và ý tưởngđộc đáo đến đâu đi chăng nữa, mà đến khi thiết yếu lại không hề trình diễn chongười khác hiểu thì cũng khó lòng đạt được những thành công xuất sắc nhất định. Không aichấp nhận một người được xem là thành đạt mà đứng trước đám đông lại lúngtúng, nói không ra tiếng. Đáng tiếc hơn nữa, vốn hiểu biết, kinh nghiệm tay nghề thao tác, sáng tạo độc đáo độc lạ của người này sẽ không giúp ích gì cho người khác. Trong học tập, thuyết trình là nhu yếu bắt buộc so với người sinh viêntrong một số ít môn học mà giảng viên vận dụng chiêu thức thuyết trình ; đồng thời, thuyết trình cũng là thời cơ để người sinh viên rèn luyện năng lực trình diễn trướcđám đông của mình, chuẩn bị sẵn sàng cho hành trang ra trường thao tác thuận tiện sau này. Để trở thành một người thành công xuất sắc, người ta không chỉ cần có trí tuệ thôngminh, kiến thức và kỹ năng uyên bác, tư duy phát minh sáng tạo, phẩm chất đạo đức hùng vĩ, mà cònphải có năng lực ăn nói, phong thái đĩnh đạc trước mọi người ; đặc biệt quan trọng là nếumuốn trở thành nhà quản trị hay chỉ huy. 1.1.3 Kỹ năng thuyết trìnhKỹ năng thuyết trình là năng lực sử dụng tích hợp kiến thức và kỹ năng, thái độ, chiêu thức, công cụ thiết yếu vào quy trình truyền đạt và dẫn dắt thông tin nhằmlàm cho nội dung thông tin có sức mê hoặc hơn, lôi cuốn được nhiều người nghehơn. Kỹ năng thuyết trình là sự tích hợp giữa nội dung và hình thức, giữa giaotiếp ngôn từ và tiếp xúc hình thể, không riêng gì truyền đạt thông tin đến đám đôngbằng lời nói đến cơ quan thính giác của họ, mà còn truyền đến những giác quan cònlại gồm thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác ( bằng hình ảnh, mùi, vị, tiếp xúc ). 1.2 Các yếu tố tác động ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình1. 2.1 Tác phong khi thuyết trìnhĐể có một buổi thuyết trình thành công xuất sắc thì người thuyết trình cần phảichuẩn bị rất nhiều những yếu tố. Trong đó, tác phong của người thuyết trình chiếmmột vị trí không nhỏ đến hiệu suất cao của buổi thuyết trình. Tác phong ở đây baogồm : phục trang hay hình dáng bên ngoài ; hành vi, điệu bộ và cách ứng xử ; phongcách Open … Ấn tượng tiên phong về người thuyết trình chính là hình dáng bên ngoài củahọ ngay khi Open. Vì thế, tất cả chúng ta cần tạo được thiện cảm so với người ngheở những giây tiên phong này. Lựa chọn, phối hợp phục trang là một kỹ năng quantrọng tác động ảnh hưởng trực tiếp đến bài thuyết trình. Một sự phối hợp hài hòa giữa trangphục, đầu tóc và những trang sức đẹp kèm theo sẽ tạo được ấn tượng tốt với khán thínhgiả. Mặt khác, phục trang ngăn nắp, tương thích sẽ giúp cho bạn cảm thấy tự tin, can đảm và mạnh mẽ hơn khi thuyết trình và sẽ tạo được sự đáng tin cậy nơi người nghe. Ngược lại, nếu chọn phục trang không hợp với khung hình, thực trạng và nội dung bài diễn thuyếtsẽ gây phản cảm cho đối phương. Từ đó, bài thuyết trình của bạn sẽ giảm sứcthuyết phục. Ví dụ : Bạn đang thuyết trình về đề tài cách ăn mặc nơi văn phòng, trong khiđó lại khoác lên người một chiếc quần jean và áo phông thun với sắc tố sặc sỡ, cùngvới mái tóc không được kẹp ngăn nắp, hẳn lời thuyết trình của bạn sẽ không cònsức thuyết phục nữa, thậm chí còn khán thính giả cũng không hứng thú nghe tiếp. Hoặcbạn đeo quá nhiều trang sức đẹp, ví dụ điển hình như hai, ba chiếc vòng tay ; hoàn toàn có thể chúng sẽtạo ra những tiếng va chạm, tiếng động gây mất tập trung chuyên sâu cho người nghe. Vì vậy, những nội dung mà bạn muốn truyền tải đến người nghe sẽ không được toàn vẹn, và tất yếu là bài thuyết trình của bạn sẽ không được suôn sẻ. Bên cạnh phục trang thuyết trình, thì phong thái, hành vi, cách ứng xử củabạn cũng chiếm một vị trí quan trọng. Một giọng nói to, rõ ràng sẽ truyền cảmhứng cho người nghe. Cách diễn đạt tự tin, phong thái tự nhiên sẽ làm người nghecảm thấy thân thiện và an toàn và đáng tin cậy. Từ đó, thuận tiện chinh phục được người nghe. Ngườinghe sẽ rất buồn ngủ, mất tập trung chuyên sâu nếu giọng nói của bạn cứ túc tắc như trả bài, mắt thì chăm chăm nhìn vào bài thuyết trình đã chuẩn bị sẵn sàng sẵn. Điều này, là dấu hiệuđể người nghe nhận thấy bạn đang mất tự tin, hoảng sợ về bài thuyết trình của mình. Ngoài yếu tố phục trang và thái độ hành vi trong khi thuyết trình, thì phongthái khi Open cũng khá quan trọng. Ấn tượng trong phút tiên phong sẽ ảnh hưởngđến thái độ của khán thính giả dành cho bạn. Nếu có ấn tượng tốt, họ sẽ dành thiệncảm cho bạn. Muốn vậy, bạn hãy Open với hình dáng tự tin, tư thế đi, đứngthẳng, tự nhiên. Mở đầu bằng lời chào khán thính giả và tự ra mắt bản thân. Nếu thiếu phần tự trình làng thì mọi người sẽ cho rằng bạn hoặc là tự ti, lo lắng, hoặc là ra dáng kẻ cả làm như mình nổi tiếng lắm không cần phải trình làng ; trường hợp nào cũng đều bất lợi cho bạn. 1.2.2 Nội dung thuyết trình1. 2.2.1 Đề tài nghiên cứuTổng quát thì không có sự hạn chế về đề tài điều tra và nghiên cứu. Đề tài hoàn toàn có thể là vấnđề vĩ mô gồm có những nghành nghề dịch vụ kinh tế tài chính, chính trị pháp lý, văn hóa truyền thống xã hội, khoa họckỹ thuật, tự nhiên. Đề tài hoàn toàn có thể là yếu tố vi mô hầu hết đề cập yếu tố con ngườibao gồm đối thủ cạnh tranh cạnh tranh đối đầu, đối tác chiến lược thanh toán giao dịch, người mua, nhà sản xuất, nội bộdoanh nghiệp. Tuy nhiên, để có tính mê hoặc, lôi cuốn thì mặc dầu chọn nghành nào, đề tàicũng cần mang tính thời sự, tính thiết thực, tính rực rỡ, tính mới lạ, tính độc lạ. 1.2.2. 2 Bố cục trình bàyNội dung trình diễn cần được tổ chức triển khai sắp xếp theo một bố cục tổng quan nhất định, rõràng, hài hòa và hợp lý, mang tính thuyết phục cao, nhằm mục đích dẫn dắt người nghe thuận tiện theodõi diễn tiến câu truyện, từ đó hiểu được thông điệp truyền đạt. Mở đầu : Về hình thức, cần lôi cuốn sự quan tâm và tạo thiện cảm nơi ngườinghe ngay lập tức, có một số ít cách khởi đầu như sau : kể một câu truyện, dẫn lờimột danh nhân, đặt câu hỏi, gợi ý tò mò của khán thính giả, làm điệu bộ khácthường. Về nội dung, nêu bật được yếu tố nghiên cứu và điều tra, gồm có nguyên do, nội dung, khoanh vùng phạm vi, giá trị của điều tra và nghiên cứu. Đoạn giữa : Về hình thức, khán thính giả có ít thời hạn tâm lý vì phảitheo dõi thuyết trình do đó nếu nội dung không sáng sủa, rõ ràng, ý tứ không liêntục, tự nhiên thì họ sẽ không hiểu được diễn thuyết muốn nói gì và không muốn nghenữa. Cho nên về mặt nội dung, cần tuân thủ đúng trình tự pháp luật để bảo đảmtính liền lạc, hài hòa và hợp lý của câu truyện, gồm có đi từ cơ sở kim chỉ nan của điều tra và nghiên cứu, đến những yếu tố cần xử lý, nhu yếu việc làm, ý tưởng sáng tạo và giải pháp, cung cấpbằng chứng, quyền lợi khi vận dụng giải pháp, chương trình hành vi, những việc làmcụ thể. Kết thúc : Nếu đoạn mở tạo ấn tượng khởi đầu, đoạn giữa tạo giá trị cung cấpthông tin, thì đoạn kết có công dụng khắc sâu vào tâm lý khán thính giả, bởi nhữnglời sau cùng dễ được nhớ nhất. Về mặt hình thức, phải làm thế nào cho khán thính giảbiết là đã kết thúc và họ ra về mà vẫn còn tiếc. Về mặt nội dung, đoạn kết nêu lênđiểm nhấn của bài trình diễn, giá trị và hạn chế của điều tra và nghiên cứu. 1.2.2. 3 Tính nhất quánMỗi bài thuyết trình có sứ mạng hướng đến chỉ một chủ đích nhất định, chonên tính đồng nhất về nội dung phải được biểu lộ xuyên suốt từ đầu đến cuối bàithuyết trình, gồm có : Nhất quán giữa đoạn mở màn và đoạn kết thúc. Nhất quán giữa những nội dung cụ thể trong đoạn giữa. Cụ thể là phải có sựtương đồng giữa những nội dung cơ sở triết lý, tình hình và nghiên cứu và phân tích nhìn nhận, tiềm năng và giải pháp. 1.2.3 Công cụ trình chiếu và những yếu tố ngoại tác1. 2.3.1 Công cụ PowerPointVới sự tăng trưởng của công nghệ thông tin và truyền thông online, việc thuyết trìnhtrở nên thuận tiện hơn rất nhiều nhờ ứng dụng PowerPoint : những sáng tạo độc đáo trình bàyđược công cụ tương hỗ để minh họa hoặc nhấn mạnh vấn đề, thời hạn viết vẽ bảng được tiếtkiệm, sức lôi cuốn người theo dõi được nâng cao nhờ hiệu ứng âm thanh và hình ảnh sốngđộng. Để khai thác PowerPoint hiệu suất cao, cần tuân thủ 1 số ít nguyên tắc chung : làm thế nào cho những trang chiếu trở nên dễ nhìn, dễ hiểu, dễ nhớ ; những trang chiếu càngngắn gọn, càng súc tích càng tốt, nhưng không được quá nghèo nàn, thiếu mê hoặc ; phong cách thiết kế chữ lớn để bảo vệ người theo dõi xa nhất cũng thấy ; nên sử dụng chữ khôngchân cho rõ ràng ; không quá nhiều dòng trên một trang ( 6 ) ; không quá nhiều chữtrên một dòng ( 6 ) ; phối màu nền và màu chữ cho tương phản, tốt nhất là màu nềntối, màu chữ sáng. 1.2.3. 2 Yếu tố khoảng trống, thời gianKhông gian thuyết trình : kích cỡ và hình dạng phòng họp cần phù hợpvới số lượng khán thính giả ; màn chiếu và bàn và ghế được sắp xếp sao cho hài hòa và hợp lý, bảo vệ diễn thuyết vừa hoàn toàn có thể nhìn trực diện tổng thể người theo dõi vừa hoàn toàn có thể tham khảohình ảnh sơ đồ khi thiết yếu ; những phương tiện đi lại âm thanh, ánh sáng bảo vệ thíchhợp, không bị trục trặc không bình thường. Thời gian thuyết trình : buổi sáng thường được tiếp thu thuận tiện hơn so vớibuổi trưa, chiều hay tối ; thời lượng của buổi thuyết trình cũng cần tương thích, trungbình 30 phút đến một giờ là vừa phải ; quá dài sẽ gây cảm xúc chán ngán, còn quángắn thì không hề tải hết lượng thông tin thiết yếu ( tất yếu yếu tố thời lượng chỉmang tính tương đối tùy theo nội dung chủ đề thuyết trình ). 1.2.3. 3 Yếu tố khán thính giảKhán thính giả tích cực : chú ý lắng nghe, há miệng như muốn ” uống ” từng lời của bạn, nhiệt huyết khi bạn lớn tiếng, lo thay khi bạn lỡ quên, muốn nhắckhi bạn ngập ngừng ; Kết luận là chung vui và chia lo cùng bạn. Chỉ gặp vài tâm hồncảm thông như vậy cũng đủ mát lòng rồi. Khán thính giả gây phiền : không quan tâm lắng nghe mà thao tác khác, cườinói cùng nhau thật ồn ào, ra vào phòng thuyết trình tùy tiện ảnh hưởng tác động đến mọingười, buồn ngủ thậm chí còn ngủ trong khi nghe thuyết trình, phản ứng nóng bức khichưa hiểu. Gặp những trường hợp như trên thì bạn cần phải bình tĩnh, nhắc nhởgián tiếp bằng cách chuyển hướng thuyết trình, ví dụ như trải qua một câuchuyện cười, một đoạn phim ngắn ; nhưng tốt nhất là bạn nên xem lại chính mình, do thuyết trình thiếu nhiệt huyết, mê hoặc ; do độc thoại chứ không đối thoại ; do đọcgiọng đều như ru ngủ ; Những câu hỏi và trường hợp : dù đã lường trước một số ít câu hỏi, nhưng vẫnkhông tránh khỏi gặp phải những câu hỏi hay trường hợp khó. Trước hết, bạn hãybảo đảm hiểu đúng câu hỏi vì khá nhiều người hỏi rất dài dòng nhưng không rõ hỏigì. Gặp câu hỏi khó, không nên vấn đáp ngay, hãy tâm lý một chút ít, hoặc hỏi lạicho rõ, mục tiêu có thêm thời hạn sẵn sàng chuẩn bị vấn đáp. Đôi khi gặp trường hợp khánthính giả muốn tranh luận, thậm chí còn cố ý khiêu khích, chọc tức, tìm cách bắt bẻ, vặn vẹo. Tình huống này, nỗ lực hạn chế tranh luận, việc làm của bạn là thuyếttrình và thuyết phục chứ không phải tranh luận ; dù bạn có đúng đến đâu chăng nữathì chắc gì khán thính giả chấp thuận đồng ý, thừa nhận họ sai. Chương 2 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNHCỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM 2.1 Thực trạng kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại học kinh tếTP. HCMSố liệu khảo sát được triển khai ngày 12/01/2011 tại giảng đường đại họckinh tế 10,11,12 cho thấy tình hình về kỹ năng thuyết trình của sinh viên : 47,5 % sinh viên nhìn nhận tiếp tục phải làm thuyết trình. 78,5 % sinh viên nhìn nhận cao vai trò của kỹ năng thuyết trình. 40 % sinh viên cảm thấy lúng túng khi thuyết trình. 26,5 % sinh viên hài lòng với kỹ năng thuyết trình của mình. 85 % sinh viên cho rằng yếu tố tác phong trong thuyết trình là quan trọng. 82,5 % sinh viên cho rằng yếu tố nội dung trong thuyết trình là quan trọng. 56,5 % sinh viên cho rằng yếu tố thiên nhiên và môi trường là quan trọng. 2,5 % sinh viên thực thi thuyết trình bằng tham gia khóa học thuyết trình. 81 % sinh viên thực thi thuyết trình bằng học hỏi giảng viên và bè bạn. 16,5 % sinh viên triển khai thuyết trình bằng bản năng. 89 % sinh viên muốn trau dồi kỹ năng thuyết trình bằng tham gia khóa học. Qua số liệu khảo sát trên cho thấy việc thuyết trình trở nên quen thuộc vớicác bạn sinh viên, tuy nhiên trong thực tiễn nhiều bạn sinh viên thường thuyết trình một cách “ bản năng ” hoặc dữ thế chủ động mô phỏng theo giảng viên chứ chưa được huấn luyện và đào tạo dẫnđến thói quen học thuộc lòng – nhớ – đọc lại trở thành thông dụng. Đa số những bạn đềucảm thấy sợ khi thuyết trình trước đám đông dẫn đến mất tự tin khi trình diễn. Do tâm ý coi buổi thuyết trình trên lớp là không quan trọng, chỉ là thựchiện cho có theo hình thức và cũng dựa vào sự dễ dãi của những giảng viên nên khithuyết trình những bạn sinh viên chỉ chú trọng vào phần nội dung và sử dụng cáccông cụ để trình diễn mà không quan tâm đến yếu tố tác phong đó là phục trang, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói … Tuy nhiên về phần nội dung thì những bạn thường sao chép ynguyên tài liệu tìm được từ Internet, sách hoặc tạp chí mà không biết sàng lọc dẫnđến nội dung không có tính ngặt nghèo, logic và thậm chí còn lạc đề. Bên cạnh đó yếu tố thiên nhiên và môi trường cũng tác động ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình, đặc biệt quan trọng là hành vi của người theo dõi. Thực tế khi có bạn thuyết trình ở trên, thì ở dưới, bên cạnh những bạn tích cực tập trung chuyên sâu lắng nghe, vẫn còn 1 số ít không tập trung chuyên sâu, hoặc trò chuyện riêng, gửi tin nhắn điện thoại thông minh hoặc học môn khác. Nếu như ngườithuyết trình cầm giấy đọc theo kiểu độc thoại thì thực trạng này ngày càng phổ biếnhơn2. 2 Phân tích và nhìn nhận tình hình kỹ năng thuyết trình của sinh viêntrường Đại học kinh tế tài chính TP.HCM 2.2.1 Tác phong khi thuyết trìnhVề phục trang : trừ một số ít trường hợp đặc biệt quan trọng, còn lại hầu hết giảng viên xemthuyết trình như một giải pháp, một công cụ để truyền tải môn học, cho nênkhông khắc nghiệt trong việc bắt buộc sinh viên phải phục trang đúng mức khi thuyếttrình. Do vậy, hầu hết nam sinh viên chưa chú trọng phục trang tương thích, chưa ýthức được phục trang người thuyết cần sang hơn người nghe một bậc. Không hiếmsinh viên khi thuyết trình mặc áo dài tay nhưng xắn lên tới khủy, hoặc vận quầnjean, áo phông thun, còn dép thì không có quai hậu ; trong khi khan hiếm mới thấy sinh viênchịu thắt cà vạt. Nữ sinh viên thì có phần chú trọng đến phục trang hơn. Về phong thái Open : sự đường hoàng, đĩnh đạc bước lên diễn đànkhông phải sinh viên nào cũng làm được. Quan sát nhiều buổi thuyết trình của sinhviên sẽ thấy những hình ảnh thường Open nhất là : cúi đầu lầm lũi bước, rụt vaisợ sệt, tung tăng chạy lên, bước ra sân khấu mà mắt hòn đảo trên trần nhà, cho tay vàotúi quần Ngay cả sinh viên đã từng thuyết trình vài lần nhưng khi Open ramắt khán thính giả vẫn hoảng sợ, vẫn bị cảm xúc ngượng nghịu, thậm chí còn khó thở, không hề mở lời ngay được. Về thái độ hành vi : qua khảo sát và đặc biệt quan trọng là quan sát trực tiếp một số ít buổithuyết trình thì đây là kỹ năng mà sinh viên có biểu lộ yếu nhất. Rất hiếm có10sinh viên biết khai thác ngôn từ hình thể. Hầu hết sinh viên mang thái độ thiếu tựtin, ngần ngại. Phần quan trọng nhất là tiếp xúc bằng ánh mắt với khán thính giả thì rấthạn chế, phát hiện nhiều nhất là nhìn vào giấy trên tay, nhìn vào màn hình hiển thị, nhìn racửa sổ, nhìn lên trần nhà có lúc nhìn xuống khán phòng nhưng cũng chỉ nhìnphớt phía trên chứ không nhìn vào mắt khán thính giả. Giọng nói có vẻ như khôngđược rèn luyện, trau chuốt vì phần nhiều không phải thuyết mà là đọc hoặc nói thuộclòng một cách túc tắc, còn khi quên thì ấp úng, ngập ngừng. Nét mặt ít biểu lộđược sự vui tươi, nhiệt huyết, tự tin ; thay vào đó là sự stress, bồn chồn, âu lo. Docăng thẳng nên dáng khung hình thường không yên, không ngừng lắc lư qua lại ; đôichân cũng hòn đảo bộ qua lại liên tục ; đôi tay thì một tay cầm micro, một tay khôngbiết phải làm gì nên thường cầm theo tờ giấy vừa để đỡ thừa thải vừa có cái đểnhìn và đọc. 2.2.2 Nội dung thuyết trình2. 2.2.1 Đề tài nghiên cứuBỏ qua trường hợp đề tài được giảng viên chọn sẵn thì sinh viên đành phảithụ động gật đầu. Vậy mà trong trường hợp có thời cơ được tự chọn đề tài thì đasố sinh viên lại thích những đề tài có sẵn, đã được nhiều thế hệ sinh viên trướcthực hiện, có lẽ rằng bởi tính dễ tìm hiểu thêm thậm chí còn copy. Những đề tài như thế ít cósức lôi cuốn, mặt khác không chắc sẽ được triển khai tốt hơn những người thuyếttrình trước đây. 2.2.2. 2 Bố cục trình bàyMột số sinh viên không làm đề cương. Một số khá lớn tuy có làm đề cươngnhưng chỉ mang tính hình thức, hời hợt, vì vậy khi tiến hành nội dung cụ thể đãbị lạc hướng. Điều này Open là do một số ít sinh viên chủ quan xem thường việclập đề cương. Một số sinh viên khác thì có lập nhưng không chuyển cho giảng viênxem trước. Số khác thì chuyển cho giảng viên nhưng không thực thi hiệu chỉnhlại cho hài hòa và hợp lý. Phần mở màn và Kết luận tưởng chừng đơn thuần, vậy mà cũng chưa đượclàm tốt. Nhiều sinh viên không đưa được chủ đề của bài thuyết trình vào phần mở11đầu và Tóm lại ; có vẻ như họ chưa hiểu đúng ý nghĩa và nhu yếu so với hai phần này, dẫn đến xem nhẹ và góp vốn đầu tư ít vào đây. Phần nội dung thì mắc nhiều lỗi. Nhiều trường hợp đảo lộn trình tự nội dungchi tiết giữa những phần cơ sở kim chỉ nan – tình hình và nghiên cứu và phân tích tình hình – giảipháp ; có khi nêu giải pháp trước rồi mới đến tình hình, có khi gộp chung cơ sở lýthuyết và giải pháp, thậm chí còn có lúc cả ba phần trên được gộp chung làm một. Nguyên nhân hầu hết là do không có đề cương hoặc đề cương không hài hòa và hợp lý nhưđã nêu trên. Phần kết thúc thường ngắn gọn, đơn thuần, vội vã, bất thần kiểu như ” phầntrình bày của tôi đến đây là kết thúc ” khiến người nghe nhiều lúc chưa kịp hiểu là đãhết ; ấn tượng, dư âm buổi thuyết trình khó mà đọng lại trong lòng người nghe. 2.2.2. 3 Tính nhất quánĐa số sinh viên tập trung chuyên sâu vào phần nội dung mà không chăm sóc phần mởđầu cũng như kết thúc vì vậy tính đồng nhất trong cả ba phần không bộc lộ rõnét. Rất nhiều trường hợp phần tình hình và giải pháp không ăn nhập với cơ sởlý thuyết đã nêu. Nhiều trường hợp khác thì nghiên cứu và phân tích tình hình theo hướng nêuưu điểm yếu kém, nhưng giải pháp thì theo hướng khắc phục sống sót hoặc ngược lại. Các trường hợp trên, bỏ lỡ nguyên do sinh viên chưa hiểu rõ, còn lạiphần lớn là do sự thao tác nhóm kém ; từng thành viên được phân công thực hiệnriêng rẽ, rời rạc ; khi tích hợp lại không có sự hiệu chỉnh, hoàn thành xong. 2.2.3 Công cụ trình chiếu và những yếu tố ngoại tác2. 2.3.1 Công cụ PowerPointPhần mềm PowerPoint thật là đắc dụng, nhưng không phải sinh viên nàocũng biết khai thác hiệu suất cao. Sinh viên thường quá lạm dụng hoặc không hiểunguyên tắc sử dụng. Các lỗi mắc phải nhiều nhất là chữ quá nhỏ, chữ quá nhiều, đọc từng câu chữ trên màn hình hiển thị, lạm dụng những hiệu ứng, lạm dụng những hình ảnh, thiếu giải pháp dự trữ. Chữ quá nhỏ đến mức khó mà đọc được, nhất là những12ai ở cuối khán phòng. Chữ quá nhiều khiến người đọc không biết nên đọc mànhình hay nghe thuyết trình. Đọc trên màn hình hiển thị nên không hề tiếp xúc ánh mắt vớikhán thính giả. Lạm dụng hiệu ứng âm thanh, hình ảnh khiến người xem bị phântán theo dõi. Sử dụng hình ảnh không tương quan nội dung. Khi tập tin trình chiếu bịhỏng hoặc máy chiếu có yếu tố thì hầu hết không hề khắc phục, phải hoãn thuyếttrình. 2.2.3. 2 Yếu tố khoảng trống, thời gianKhông gian và thời hạn thuyết trình : so với sinh viên thì gần như đây làyếu tố khách quan vì khu vực và thời hạn do nhà trường và giảng viên ấn định. Nhiều lúc phòng họp quá rộng so với người theo dõi gây nên cảm xúc lạc lõng, trốngtrải, lạ lẫm ; cũng có lúc phòng quá hẹp tạo nên sự eo hẹp, ngột ngạt, phiền phức. Thường gặp nhất là sử dụng phòng học sắp xếp bàn và ghế theo kiểu lớp học, sinh viênkhông sắp xếp lại nên sự tiếp xúc diễn thuyết với khán thính giả không hài hòa và hợp lý, thuậntiện. Điều kiện âm thanh và ánh sáng, máy móc thiết bị nghe và nhìn, thì hoàntoàn phụ thuộc vào điều kiện kèm theo cơ sở vật chất của nhà trường. Thời gian thuyết trìnhnếu đúng buổi trưa nhằm mục đích lúc hạn chế dùng phòng máy lạnh thì xem như buổithuyết trình sẽ gặp sự nóng giãy, ngột ngạt. 2.2.3. 3 Yếu tố khán thính giảKhán thính giả gây phiền : những hình ảnh thường gặp nhất ở khán thínhgiả, đặc biệt quan trọng ở những dãy bàn cuối, là chuyện trò mặc kệ người diễn thuyết. Trung bình năm phút thuyết trình có một lần chuông điện thoại cảm ứng reng từ dưới khánphòng. Khán giả đi trễ tự nhiên ra vào khán phòng, gây ảnh hưởng tác động sự tập trung chuyên sâu củangười khác. 13C hương 3 : GIẢI PHÁP CẢI THIỆN KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH CỦASINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM 3.1 Mục tiêu của giải phápMục tiêu của giải pháp mà chúng tôi đưa ra không ngoài việc cải tổ cácyếu tố chính tác động ảnh hưởng đến kỹ năng thuyết trình. Đó là những yếu tố đã được đề cậpở phần trình diễn về cơ sở lý luận cũng như phần tình hình về kỹ năng thuyết trìnhmà những anh chị đã được xem qua. Nếu như liên tưởng nhóm chúng tôi như một êkíp bác sĩ, thì sau phần chẩn bệnh được trình diễn ở chương hai của tiểu luận này, thì qua chương ba, những anh chị sẽ được xem sự kê toa bốc thuốc. Phần dẫn nhậpnày sẽ giúp những anh chị có cái nhìn sơ lược trước khi đi vào cụ thể từng giải pháp. Yếu tố cần phải cải tổ thứ nhất là tác phong của người thuyết trình, yếutố đóng vai trò quan trọng nhất chính bới nó là thông điệp tiên phong mà một sinh viênnói riêng hay một diễn thuyết nói chung trình ra cho khán thính giả dù muốn dùkhông. Giải pháp cải tổ tác phong mà chúng tôi đưa ra sẽ theo hướng chọn lọcbớt những tác nhân thừa không tương thích làm mất sự tự tin của một diễn thuyết. Điều thứ hai chúng tôi muốn cải tổ cho diễn thuyết tương quan đến phần nộidung, thông điệp bằng ngôn từ trực quan đơn cử mà diễn thuyết muốn gửi gắm đếnkhán thính giả và được xem như phần hồn của bài thuyết trình. Giải pháp chủ yếunằm ở cấu trúc trình diễn thông điệp theo một trật tự hài hòa và hợp lý nhất mà chúng tôinghiên cứu được. Các công cụ tương hỗ cho việc thuyết trình mà chúng tôi gọi là phương tiệntrình bày là đối tượng người dùng thứ ba của giải pháp cải tổ. Nó được xem là cái thân xácđể tiềm ẩn cái phần hồn nội dung. Giải pháp của chúng tôi nhằm mục đích đến cách thứctrình bày và sự chuẩn bị sẵn sàng đạo cụ, gồm có cả thiết bị dự trữ cho mọi tình huốngxấu xảy ra ngoài ý muốn. Cuối cùng, yếu tố chính còn lại cần quan tâm cải tổ là năng lực quản trị cáctác nhân ngoại tác. Giải pháp đa phần ở yếu tố này nằm năng lực trấn áp mứcđộ phản ứng của khán thính giả. Nó bao hàm từ thời hạn thuyết trình đến cáchthức tương tác, tần số đối thoại giữa người nói và người nghe. 143.2 Giải pháp cải tổ kỹ năng thuyết trình của sinh viên trường Đại họckinh tế TP.HCM 3.2.1 Cải thiện tác phong khi thuyết trìnhVề phục trang : mặc dầu giảng viên không bắt buộc về phục trang, nhưng sinhviên nên tự phục trang tương thích cho mình. Về nguyên tắc hãy phục trang sang hơnthính giả một bậc ; điều này giúp cho ta tự tin hơn, còn thính giả sẽ nể trọng ta hơn. Vừa tương thích với sinh viên vốn eo hẹp về kinh tế tài chính, vừa tương thích nhu yếu thuyếttrình, thì có vẻ so với nam sinh viên, phục trang thích hợp là quần tây sậm màu, có thắt lưng, áo sơ mi dài tay có cài khuy, giày tây hoặc dép có quai hậu, có thểthêm cà vạt để tăng phần sang trọng và quý phái. Đối với nữ sinh viên thì cũng quần tây áo sơmi như nam, hoặc váy áo vét cho sang trọng và quý phái. Nam thì không trang sức đẹp, trang điểm ; trong khi nữ thì cần để tăng phần duyên dáng, vẻ đẹp. Về phong thái Open : giáo sư Loek Hopstaken – giảng viên ĐHWittenborg ( Hà Lan ) – nổi tiếng về huấn luyện và đào tạo quản trị nhân sự, quan hệ công chúng, có lời khuyên ngắn gọn như sau ” Hãy đi chậm rãi, trấn áp từng chuyển dời, khi rađến sân khấu thì đứng thẳng người vì đó là tư thế biểu lộ bạn tự tin nhất “. Về thái độ hành vi : sinh viên cần có hiểu biết về ngôn từ khung hình trongthuyết trình và phải rèn luyện trước khi thuyết trình. Ngôn ngữ khung hình phải hòaquyện với tâm lý và lời nói khi thuyết trình. Ánh mắt nhìn bao quát khán phòng, hoàn toàn có thể dừng lại ở cá thể nào đó, sự tiếp xúc cá thể bằng mắt trong thời hạn vừaphải 15 giây. Nét mặt phải có sự biểu cảm, không cười nhưng vẫn tươi. Động táctay không buông thẳng, cũng không vung quá nhiều, khi vung tay thì trong phạmvi từ hông tới cằm. Di chuyển qua lại nên có để tạo sự lôi cuốn nơi người theo dõi, nhưngkhông chuyển dời quá nhanh hay quá nhiều dễ gây rối mắt. Dù cho có hiểu biếtnhưng nếu thiếu rèn luyện thì vẫn không quen và lúng túng như thường. Một điểnhình là việc luyện thở, trước hết là tương hỗ cho luyện giọng, tiếp đó là giúp cho tựtin. Có người nói ” Ai mà không biết thở, cần gì phải tập ? “. Thực sự phải hẳn thế. Phổi ta trung bình chứa 2 lít không khí, vậy ta thở ra được bao nhiêu ? Thôngthường chỉ thở ra có nửa lít, nghĩa là 1,5 lít với đầy thán khí vẫn còn lại trong phổi. 15L uyện thở để ép hết không khí ô nhiễm ra khỏi, thay thế sửa chữa không khí trong sáng vào, hành vi vô cùng ý nghĩa. Ngoài ra, mỗi khi cảm thấy hoảng sợ, lo âu, thì hãy hítthở những hơi thật sâu, sự bình tâm sẽ trở lại. 3.2.2 Cải thiện nội dung thuyết trình3. 2.2.1 Đề tài nghiên cứuNếu có thời cơ được tự chọn thì hãy chọn đề tài có tính thời sự, thiết thực, mới lạ, độc lạ, và nhất là đề tài đó nói về yếu tố ta yêu quý nhất. Việc này tấtnhiên yên cầu phải nỗ lực nhiều hơn khi tra cứu tư liệu và biên soạn bài thuyếttrình. 3.2.2. 2 Bố cục trình bàyNhất thiết phải lập cho được đề cương tuân theo lao lý. Đề cương càngchi tiết càng tốt, tức là gồm vừa đủ dàn ý, ý chính, ý phụ. Nếu là thuyết trình nhómthì đề cương cần được nhóm trải qua. Sau đó, cần chuyển cho giảng viên xem vànhận xét. Căn cứ theo nhận xét của giảng viên mà hiệu chỉnh đề cương cho phùhợp. Sau đó đi tra cứu tư liệu điền vào phần chi tiết cụ thể. Cần chú trọng phần mở đầuvà phần Kết luận vì là phần tạo ấn tượng bắt đầu và ấn tượng sau cuối. Đừng quênchủ đề thuyết trình phải Open ngay trong phần khởi đầu. Có thể sử dụng mộttrong những cách thông dụng để khởi đầu : bằng một câu truyện, mượn lời của mộtdanh nhân, đặt một thắc mắc, khơi gợi tính tò mò của khán thính giả, Phần nội dung thì chú ý quan tâm trình tự lô gíc bài thuyết trình gồm đặt yếu tố, cơsở kim chỉ nan vận dụng, khai triển, nghiên cứu và phân tích, nhìn nhận yếu tố, giải pháp giải quyếtvấn đề. Phần kết thúc hoàn toàn có thể vận dụng 1 số ít hình thức sau đây : tóm tắt ý trong bài, đưa ra một lời khuyên, khuyến khích một hành vi, đặt ra một câu hỏi cho khánthính giả, phác họa một tương lai vui tươi, lan rộng ra vấn đề3. 2.2.3 Tính nhất quán16Khi đã lập đề cương hài hòa và hợp lý như đã nêu trên thì tính đồng điệu của bài thuyếttrình không còn đáng lo lắng. Chỉ cần tra cứu tư liệu thích hợp đưa vào bài viết. Nếu thao tác nhóm, phân công mỗi người biên soạn một phần, thì về mặtcá nhân cần tuân thủ theo đề cương đã lập, về mặt nhóm cần có sự hoàn thành xong, hiệuchỉnh cho đồng điệu khi ghép những phần lại. 3.2.3 Cải thiện sử dụng công cụ trình chiếu và những yếu tố ngoại tác3. 2.3.1 Công cụ PowerPointSố lượng trang chiếu tương ứng thời lượng thuyết trình, nhiều quá gây mấttập trung, ít quá sẽ nhàm chán ; thuyết trình 30 phút thì số trang chiếu 25-30. Kích thước chữ to bảo vệ toàn bộ người theo dõi đều thấy rõ, cỡ 30-40 tùy loạiphông chữ. Phông chữ nên chọn không chân sẽ dễ nhìn hơn, ví dụ Arial, VNI-Helve ( phông chữ có chân như Times New Roman, VNI-Times thì chỉ thích hợpcho sách, bài viết dài vì có tính năng chống mỏi mắt khi đọc ). Số dòng và số chữ vừa phải. Một trang chiếu nhiều lắm chỉ 6 dòng, mỗidòng không quá 6 từ. Thuyết trình viên phải xem trang chiếu như thể công cụ gợinhớ và tạo sinh động chứ không phải là bài viết để nhìn mà đọc, do đó cần hiểukỹ phần trình diễn để tránh quên trước quên sau, dẫn đến lúng túng phải đọc từngtừ trên trang chiếu. Tránh sử dụng những hiệu ứng gây rối mắt kiểu như câu chữ xoay vòng gâynhức mắt người theo dõi. Các hình ảnh nên vừa phải và có sự tinh lọc cho tương thích nộidung, không nên dễ dãi sử dụng những hình ảnh có sẵn vì người theo dõi dễ thấy chán vìđã được xem quá nhiều lần, cố gắng nỗ lực sử dụng những hình ảnh tự tạo, đặc biệt quan trọng cóliên quan đến cá thể, tập thể nhóm thuyết trình, hay lớp học. Có thêm những đoạnphim, hoạt cảnh, tiểu phẩm tự triển khai thì thuyết trình sẽ sinh động, mê hoặc hơn. Nên lưu giữ tập tin trình chiếu tối thiểu hai nơi ; nếu có điều kiện kèm theo thì dự phòngmáy tính, máy chiếu, mục tiêu để dự trữ sự cố ngoài ý muốn. 3.2.3. 2 Yếu tố khoảng trống, thời gian17Không gian và thời hạn thuyết trình : tuy đây là yếu tố khách quan, nhưngsinh viên hoàn toàn có thể dữ thế chủ động cải tổ thực trạng bằng 1 số ít cách như : liên hệ thayđổi khu vực, thời hạn thuyết trình tương thích, khảo sát trước khu vực để có sựchuẩn bị, sắp xếp lại bàn và ghế cho hài hòa và hợp lý, kiểm tra bảo vệ phương tiện đi lại, thiết bịnghe nhìn thiết yếu gồm chủng loại, số lượng, chất lượng, tính năng sử dụng. 3.2.3. 3 Yếu tố khán thính giảChuẩn bị chuẩn bị sẵn sàng cho một số ít trường hợp không thuận tiện hoàn toàn có thể xảy ra. Vídụ chuẩn bị sẵn sàng một vài mẫu chuyện, đoạn phim ngắn, để làm đổi khác không khíđang chững lại trong thính phòng. Nhắc nhở khôn khéo bằng lời và chữ trên mànhình về việc tắt chuông điện thoại di động. Lường trước một số ít câu hỏi hoàn toàn có thể Open và soạn trước nội dung vấn đáp. Luôn tự nhủ phải kiềm chế, không tranh luận nóng bức làm mất lòng khán thính giả, làm họ càng nổi xung dễ hỏi dồn ép ta vào chỗ bí. Nếu cảm thấy thuyết trình thiếu nhiệt huyết thì hoàn toàn có thể thử giải pháp mạnh sau : chuẩn bị sẵn sàng kim / gai nhọn tự châm chích mình, bảo vệ sẽ bị kích thích, năng độnglên ngay. 3.3 Kiến nghịNhà trường nên đưa ” Kỹ năng thuyết trình ” vào chương trình giảng dạychính thức thành một môn học chính khóa hoặc ngoại khóa. Giảng viên nên vận dụng giải pháp thuyết trình trong giảng dạy đối vớitất cả những môn học. Giảng viên những môn học vận dụng chiêu thức thuyết trình cần có yêu cầucao hơn so với sinh viên khi triển khai thuyết trình ( về phục trang, đề cương, ). Nhà trường mở thêm phòng ốc và phương tiện đi lại Giao hàng thuyết trình. BanGiảng đường và thời khóa biểu sắp xếp giờ thực thi thuyết trình hài hòa và hợp lý. Đoàn Thanh niên phối hợp Nhà trường tổ chức triển khai những hội thi về kỹ năng mềmđể tạo trào lưu rèn luyện kỹ năng, trong đó có thuyết trình. 18K ẾT LUẬNTa đã biết kỹ năng thuyết trình là một trong những chìa khóa giúp ta thànhcông mặc dầu trong môi trường học tập hay thao tác. Đặc biệt so với sinh viênkinh tế, đang nuôi dưỡng tham vọng kinh doanh thương mại thì kỹ năng thuyết trình lại càng cầnthiết. Qua bài viết, ta hoàn toàn có thể thấy nhiều bạn sinh viên vẫn còn thiếu sự tự tin vànhững kỹ năng thiết yếu để hoàn toàn có thể thuyết trình một cách hiệu suất cao. Nếu sinh viênsớm chăm sóc đến kỹ năng thuyết trình thì điều này không chỉ giúp sinh viên thànhcông trong thời hạn học ĐH, mà còn mang lại cho họ nhiều lợi thế trong môitrường việc làm sau này. Bài viết chỉ đưa đến cho những bạn sinh viên 1 số ít khái niệm, một vài giảipháp mang tính trình làng nhằm mục đích giúp những bạn sinh viên có sự chăm sóc đến kỹnăng thuyết trình, thấy tầm quan trọng của thuyết trình, có nhu yếu rèn luyện kỹnăng thuyết trình. Các khóa hướng dẫn rèn luyện kỹ năng thuyết trình chuyên nghiệp sẽ làđiểm đến tiếp theo cho những bạn sinh viên thực sự muốn trở thành chuyên viên thuyếttrình, thành công xuất sắc trong tương lai .
Source: https://evbn.org
Category: Học Sinh


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


