Dàn ý văn nghị luận lớp 9 – Tài liệu text
Dàn ý văn nghị luận lớp 9
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (149.47 KB, 22 trang )
Bạn đang đọc: Dàn ý văn nghị luận lớp 9 – Tài liệu text
A. Vài nét khái quát chương trình Tập làm văn lớp 9
Chương trình Ngữ văn THCS nói chung, chương trình tập làm văn nói riêng
được thiết kế theo hai vòng, theo tinh thần lặp lại và nâng cao. Do cấu trúc đồng
tâm nên giữa hai vòng này có những điểm giống và khác nhau. Giống trước hết là
sự lặp lại của các vấn đề chính về kiến thức và kĩ năng. Chẳng hạn ở chương trình
Tập làm văn 9 lặp lại ở kiểu bài tự sự, thuyết minh và nghị luận. Còn khác nhau là
bổ xung thêm một số vấn đề khác đồng thời tiếp nối, nâng cao, phát triển thêm
những nội dung đã học ở vòng trước. Cụ thể như sau:
Trong chương trình tập làm văn lớp 9 kiểu bài văn thuyết minh được triển
khai nhằm mục đích củng cố, rèn luyện và nâng cao nhận thức, kĩ năng viết văn
thuyết minh cho học sinh đã được hình thành ở chương trình tập làm văn lớp 8.
Đối với học sinh lớp 9 khi làm bài văn thuyết minh cần biết vận dụng một số biện
pháp nghệ thuật hoặc yếu tố miêu tả, biểu cảm để đối tượng thuyết minh hiện lên
sinh động rõ nét.
Ở lớp 9 khi viết bài văn tự sự cần nâng cao hơn ở kĩ năng vận dụng các yếu
tố miêu tả, miêu tả nội tâm, yếu tố nghị luận, hay đối thoại, độc thoại, độc thoại
độc thoại nội tâm.
Đặc biệt hơn kiểu bài văn nghị luận là đơn vị kiến thức khá trọng tâm trong
chương trình tập làm văn lớp 9.
Ở chuyên đề này bản thân tôi tập trung đề cập đến kiếu bài văn nghị luận
còn kiểu bài văn thuyết minh, tự sự sẽ thể hiện cụ thể ở chuyên đề tập làm văn lớp
dưới.
B. Một số điểm cơ bản cần lưu ý về kiểu bài văn nghị luận trong chương trình
Tập làm văn lớp 9 cần lưu ý.
Có các dạng bài: bài văn nghị luận về vấn đề xã hội hoặc nghị luận tác phẩm
văn học.
I. Kiểu bài văn Nghị luận về một vấn đề xã hội
1. Phân loại
Trong chương trình Tập làm văn lớp 9 kiểu bài văn nghị luận xã hội chia làm ba
loại nhỏ: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí, nghị luận về một hiện tượng xã
hội, nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học.
2. Một số điểm giống nhau.
2.1. Loại
Các dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống;
nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đều thuộc loại bài nghị luận
xã hội.
2.2 Các thao tác thường áp dụng khi viết bài:
Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân
tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích,
chứng minh, bình luận.
2.2.1 Thứ nhất về thao tác giải thích:
– Mục đích: Nhằm để hiểu
– Các bước:
+ Bước 1: Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một
câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người
viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến
các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn
đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ
ngữ. Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện
tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận
diện) Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề
(hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.
Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi
Là gì?
+ Bước 2: Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu
có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù
của thao tác giải thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt
lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng. Trong quan niệm làm văn
truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi Tại sao?
+ Bước 3: Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn
cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan
điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế
nào.Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu
hỏi Như thế nào?
Lưu ý khi thực hiện thao tác giải thích: Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (Là
gì, tại sao, như thế nào vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt
câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo
sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp
ba câu hỏi (Là gì, tại sao, như thế nào) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi
viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận
điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. Tuỳ theo thực tế của đề và thực tế bài làm,
bước như thế nào có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt
buộc.
2.2.2 Thứ hai về thao tác chứng minh
– Mục đích: Tạo sự tin tưởng.
– Các bước:
+ Bước 1: Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
+ Bước 2: Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng
tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.
2.2.3 Thứ ba về thao tác bình luận
– Mục đích: Tạo sự đồng tình.
– Các bước:
– Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
– Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc
hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu
đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.
– Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí
từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn.
– Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.
3. Một số điểm khác nhau cơ bản giữa các kiểu bài
3.1 Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
3.1.1 Đề tài:
-Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập ).
-Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung,
lòng độ lượng; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính
ích kỉ ).
-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em ).
-Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương đất
nước ).
3.1.2 Về cấu trúc triển khai tổng quát:
-Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì).
-Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn
đề bàn luận.
-Nêu ý nghĩa của vấn đề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí).
3.1.3.Một số đề tham khảo
– Tình thương là hạnh phúc của con người.
– “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” ý kiến trên của M.Xi-xê-
rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy nghĩ gì về việc tu
dưỡng và học tập của bản thân?
– Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học
để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.
– Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học
cách làm cần câu và cách câu cá”.
– Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nói
về kinh nghiệm thành công của mình như sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có
giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học”.
Bình luận câu nói trên. Anh, chị có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của
mình?
– “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguời
bạn, người anh em, của bố mẹ mình hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp,
nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác điều đang xảy ra trong trái tim
người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính”.
Em hãy bày tỏ ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm
Xukhômlinxki.
– Bình luận danh ngôn: “Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc”.
– Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân dịp Tết 1946, Bác Hồ
viết:
“Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là
mùa xuân của xã hội”.
Hãy giải thích và nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác.
– Giải thích câu nói của Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời
mới”.
– Đồng chí Lê Duẩn có nói: “Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân
ái”. Em hiểu câu nói đó như thế nào?
– Nhà thơ Pháp La Phôngten (La Fontaine) có nói : “ Tính ích kỉ là thuốc độc
giết chết tình bạn”. Hãy bình luận câu nói trên.
– Suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Một người bạn chân thành là một
người bạn tốt ».
– Một nhà giáo dục đã nêu một quan niệm như sau: Con đường từ nhà đến
trường của mỗi người học sinh tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cuối mỗi con đường
ấy đều giống nhau. ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ. Trình bày
suy nghĩ của em về quan niệm đó.
-Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần
thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý
kiến trên?
– Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói: “Đường đi khó không khó vì ngăn sông
cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. (Nguyễn Bá Học)
– Phải chăng bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi?
– “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương
hướng kiên định, mà không có phương hướng thì không có cuộc sống. (Lép Tôn-
xtôi)Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí
tưởng riêng của mình.
– Phải chăng Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời.
Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống.? (Noóc-man
Ku-sin, theo Những vòng tay âu yếm NXB Trẻ, 2003).
– Tiền tài và hạnh phúc.
– “Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.
Anh, chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó?
3.2 Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
3.2.1.Đề tài:
Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm. Ví dụ :
-Chấp hành luật giao thông.
-Hiến máu nhân đạo
-Nạn bạo hành trong gia đình
-Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi
-Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn
-Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng
-Những tấm gương người tốt việc tốt
-Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi
-Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ
*Lưu ý:
– Nên quy thành từng cụm đề tài nhỏ như dạng bài NLVMTT, ĐL để dễ nhận diện:
-Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập ).
-Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung,
lòng độ lượng; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính
ích kỉ ).
-Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em ).
-Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn ).
3.2.2.Về cấu trúc triển khai tổng quát:
-Nêu rõ hiện tượng.
-Nêu nguyên nhân. Phân tích các mặt đúng-sai, lợi-hại.
-Bày tỏ thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội đó.
3.2.3.Một số đề tham khảo:
– Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ,
lang thang kiếm sống trong các thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để
nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp.
Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.
– Về hiện tượng ngày càng có nhiều người dời bỏ quê hương để đổ xô về các thành
phố lớn.
– Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền
thống.
3.3 Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
3.3.1.Đề tài:
Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học,(Vấn đề
xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương
trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được
học).
3.3.2.Về cấu trúc triển khai tổng quát:
a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý
nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).
b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ
tác phẩm văn học (câu chuyện).
3.3.3.Một số đề tham khảo
– Suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện Bến quê – Nguyễn Minh Châu.
– “Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao!
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con
Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam.
4. Dàn bài
4.1 Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
a) Mở bài
– Giới thiệu vấn đề được đưa ra nghị luận.
– Nêu luận đề: dẫn nguyên văn tư tưởng đạo lí hoặc nội dung bao trùm của vấn đề.
– Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
b) Thân bài
– Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (nêu các khía cạnh nội dung của tư
tưởng, đạo lí này).
– Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh ; bác bỏ, phê phán những sai lệch
(nếu có).
– Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ thực tế, rút ra bài học nhận thức và hành
động.
– Lấy dẫn chứng minh họa (ngắn gọn, tiêu biểu, dễ hiểu).
c) Kết bài
Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc dẫn
thơ, văn để mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.
* Lưu ý:
– Muốn làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, trước hết hãy tìm hiểu sâu
về tư tưởng, đạo lí được đem ra bàn bạc.
– Tìm hiểu tư tưởng, đạo lí bằng cách phân tích, giải thích theo từng ý, từng vế của
vấn đề được nêu.
– Phát biểu nhận định, đánh giá của mình về tư tưởng, đạo lí đó.
Nêu các luận cứ và phân tích các luận cứ để khẳng định nhận định, đánh giá của
mình.
4.2 Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống
a) Cách viết mở bài
– Nghị luận về một hiện tượng đời sống cũng là một dạng văn bản. Vì vậy,
nó cũng cần bắt đầu bằng một mở bài. Và phần mở bài của nó dĩ nhiên không thể
đi ngược lại những nguyên tắc chung của mở bài.
– Nghị luận là hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người muốn được
bàn luận và đánh giá về một hiện tượng (hoặc vấn đề) nào đấy. Mở bài của một bài
nghị luận hiện tượng đời sống phải thể hiện được định hướng đánh giá và bàn luận
đó thông qua những câu hỏi, hoặc những câu có tác dụng gợi suy nghĩ, trăn trở
trong người đọc (người nghe).
b) Cách viết thân bài
– Thân bài phải gồm đủ hai thành phần là bàn luận và đánh giá, để có thể
đáp ứng yêu cầu bình luận.
– Các ý của thân bài cần được sắp xếp sao cho người đọc (người nghe) có
thể tiếp nhận sự đánh giá, bàn luận của người làm văn một cách dễ dàng và hứng
thú, vì sự bình luận chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự hướng tới người đọc (người
nghe). Chẳng hạn:
– Người đọc (người nghe) sẽ không thể tiếp nhận, và càng không thể tiếp
nhận một cách hứng thú những lời bình luận về một hiện tượng nếu họ còn mơ hồ
về cái hiện tượng được đưa ra bình luận ấy. Vì thế, trước khi bắt tay vào đánh giá
hay bàn bạc, người bình luận nên trình bày một cách trung thực, đầy đủ, rõ ràng về
hiện tượng đời sống mà mình sẽ đem ra bàn luận cùng người đọc (người nghe).
Người bình luận không nên cố trình bày hiện tượng đời sống đó sao cho phù hợp
nhất với quan điểm của mình, vì việc làm ấy có thể sẽ mâu thuẫn với yêu cầu
khách quan, trung thực và từ đó sẽ khiến người đọc (người nghe) hoài nghi, cảm
thấy sự bình luận không thật công bằng, không vô tư.
Người bình luận cũng nên vận dụng các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết
minh trong lúc trình bày để bài văn của mình thêm chính xác, rõ ràng, sinh động và
do đó, thêm sức thuyết phục người đọc (người nghe).
– Người đọc (người nghe) sẽ không thể thực sự tin vào ý kiến của người nghị luận,
nếu cảm thấy ý kiến ấy chỉ là sự áp đặt một chiều. Sức thuyết phục của bài nghị
luận sẽ cao hơn nhiều khi người nghe có điều kiện so sánh ý kiến của người nghị
luận với những ý kiến đã được nêu ra trước đó. Do vậy, người làm văn nên làm
công việc điểm lại và nhận xét một cách hợp tình hợp lí các quan điểm chính đã có
về hiện tượng đời sống được đưa ra bình luận, trước khi đưa ra quan điểm của bản
thân mình.
Việc điểm lại và nhận xét các quan điểm chính đã có về hiện tượng đời sống nêu ở
đề bài rõ ràng cũng cần phải đạt được các yêu cầu khách quan, trung thực, như vừa
nêu ở điểm trên. Vì có thế thì người nghị luận mới mong đạt được mục đích của
mình.
– Khi nêu ra và bảo vệ quan điểm của riêng mình, người bình luận có thể đứng hẳn
về một phía, ủng hộ phía mình cho là đúng và phê phán phía mà mình chắc chắn là
sai. Người bình luận cũng có thể kết hợp những phần đúng và loại bỏ phần còn hạn
chế của mỗi phía để đi tới một sự đánh giá mà mình tin là thực sự hợp lí, công
bằng. Và cũng không loại trừ khả năng người bình luận đưa ra một cách đánh giá
khác biệt của riêng mình, sau khi đã phân tích các quan điểm ý kiến khác nhau về
đề tài cần bình luận.
Việc lựa chọn cách làm nào trong cách kể trên cũng hoàn toàn chỉ xuất phát từ một
và chỉ một cơ sở duy nhất – cơ sở chân lí. Và sau khi đã lựa chọn được một cách
thức phù hợp với chân lí (lẽ phải) rồi thì nhiệm vụ của người bình luận là thuyết
phục người nghe (người đọc) đặt niềm tin vào sự đánh giá của mình, như chính
mình đã từng có niềm tin như thế.
– Khi tiếp tục luận bàn sâu rộng hơn, người làm văn có thể đề cập tới thái độ, hành
động, cách giải quyết cần có trước hiện tượng vừa được nhận xét, đánh giá, cũng
có thể bày tỏ những cảm nhận, suy nghĩ mà mình đã rút ra khi liên hệ với thời đại,
hoàn cảnh sống, lứa tuổi của mình và của người đang lắng nghe mình bình luận. Sự
bàn luận còn có thể đạt tới tầm vóc lớn hơn, có giá trị cao hơn nếu người bình luận
có thể mở ra những ý nghĩa sâu rộng, sâu sắc và bất ngờ nữa từ hiện tượng đời
sống mà mình đang bình luận.
c)Cách viết kết bài
– Phần kết bài phải đóng được bài văn lại bằng một khẳng định chắc chắn, không
thể nào bác bỏ.
– ở một bài nghị luận hay, phần kết không chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là chốt
lại bài văn. Một phần kết chỉ thật hay khi nó còn mở ra được một phạm vi rộng lớn
hơn cho những suy ngẫm, những điều cần bàn luận tiếp.
* Lưu ý: Khi có đề văn yêu cầu nghị luận về một hiện tượng đời sống thì trước hết
phải tìm hiểu hiện tượng đời sống được nêu trong đề, phân tích các biểu hiện của
nó, lí giải các nguyên nhân và hậu quả.
Tiếp đến nêu ý kiến nhận xét, đánh giá hiện tượng đó tốt, xấu, lợi, hại như thế nào.
Chúng ta cần có thái độ ra sao đối với hiện tượng đó. Trên cơ sở suy nghĩ đó mà
lập dàn ý để cho bài viết mạch lạc, vận dụng kết hợp hợp lí các thao tác nghị luận.
II. Kiểu bài Nghị luận về một tác phẩm văn học
1. Phân loại:
Kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học được chia làm hai loại nhỏ:
nghị luận về tác phẩm truyện( đoạn trích) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ.
2. Khái niệm
– Nghị luận về tác phẩm truyện( Hoặc đoạn trích) là trình bày những nhận xét,
đánh giá của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay nghệ thuật một tác phẩm cụ
thể.
– Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ là trình bày những nhận xét đánh giá của
mình về nội dung hay nghệ thuật của đoạn thơ hay bài thơ ấy.
3. Một số thao tác cần lưu ý khi làm bài thuộc kiểu Nghị luận một tác phẩm
văn học.
– Bước 1: Nắm chắc nội dung toàn tác phẩm
Để biết mình đã nắm chắc tác phẩm hay chưa, bạn hãy trả lời các câu hỏi sau.
Tác phẩm này do ai sáng tác? Trong hoàn cảnh nào? Đề tài và chủ đề của tác
phẩm? Bạn có thể tóm tắt nội dung của tác phẩm đó chưa (đối với tác phẩm văn
xuôi)? Đối với tác phẩm thơ thì không chỉ nắm nội dung toàn tác phẩm bạn còn
phải học thuộc lòng những phần nội dung nằm trong chương trình học. Các thủ
pháp nghệ thuật chủ đạo trong tác phẩm này là gì? v.v
– Bước 2: trước một đề bài cần xem xét các dạng đề đối với tác phẩm đó (dạng đề ở
đây được hiểu là về thể loại và nội dung)
VD: Với tác phẩm Lão Hạc chúng ta có thể gắt gặp các dạng đề nghị luận về: các
nhân vật trong tác phẩm (Lão Hạc), giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm,
nghệ thuật miêu tả tâm lý và khắc họa nhân vật, nghệ thuật xây dựng tình huống
truyện Ở mỗi dạng đề cần ddingj hướng được những ý chính.
– Bước 3: Lập dàn bài chi tiết cho từng dạng đề ở mỗi tác phẩm
Đối với mỗi dạng đề các bạn cần lập ra một dàn bài. Tuy mất thời gian nhưng
điều này sẽ giúp bạn lường hết mọi tình huống đề có thể bắt gặp và không phải
lúng túng khi làm bài .
* Với đề phân tích nhân vật, bao giờ các bạn cũng phải vạch cho mình hai ý
chính nhất: ngoại hình và tính cách. Bên cạnh đó một số yếu tố như: ngôn ngữ,
hành động, cử chỉ, nội tâm mối quan hệ với xã hội với các nhân vật khác. Tất cả
các yếu tố này tựu trung lại cũng bổ trợ và làm bật lên tính cách của nhân vật. Song
song với phân tích nội dung, các bạn cần lưu ý và nhấn mạnh đến các thủ pháp
nghệ thuật xây dựng nhân vật.
+ Hầu hết các nhân vật trong tác phẩm văn học thường mang tính hình tượng,
đại diện cho một tầng lớp, một thế hệ nên sau quá trình phân tích ngoại hình và
tính cách các bạn cần rút ra được thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tác
phẩm đó( Khái quát bình diện văn học).
+ Trong mỗi ý lớn như vậy sẽ có thêm nhiều ý nhỏ hơn, bạn hãy dùng một
mũi tên cho một ý để sơ đồ hóa dàn bài của mình. Và ở mỗi ý nhỏ, các bạn cần tìm
ra những dẫn chứng phù hợp minh chứng cho những đặc điểm đó. Dẫn chứng
chính là những đoạn trích trong tác phẩm, bạn cần học thuộc một số câu văn tiêu
biểu để minh chứng cho những ý kiến đánh giá của mình trong bài viết. Qua phân
tích những dẫn chứng đó nhân vật của bạn sẽ hiện lên với đầy đủ tính cách, chân
thực và sống động.
* Đối với dạng đề tổng hợp nghị luận về một vấn đề văn học (VD: giá trị
nhân đạo trong các tác phẩm của Nam Cao), chúng ta cần đi từ vấn đề bao quát
nhất:
+ Nhân đạo: Nhân đạo là gì?
+ Biểu hiện của tinh thần nhân đạo: Yêu thương con người, cảm thông
sâu sắc với những nỗi đau của con người, thông cảm với hoàn cảnh sống của nhân
vật (nhiều khi tinh thần nhân đạo được phản ánh ngay trong những giá trị hiện
thực), hướng con người một cuộc sống tốt đẹp hơn đều là những biểu hiện của
tinh thần nhân đạo.
+ Tinh thần nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao:
Khái quát về các tác phẩm của Nam Cao, các đề tài chính (đời sống của
người nông dân và trí thức nghèo)
Tinh thần nhân đạo thể hiện trong tác phẩm của Nam Cao như thế nào? bằng
những hình ảnh gì? trong tác phẩm nào? Vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm là
gì?
Giá trị nhân đạo biểu hiện trong tác phẩm của Nam Cao có gì khác so với các
nhà văn khác ở các tác phẩm khác không? (có thể so sánh với các tác phẩm Vợ
nhặt, Vợ chồng A Phủ) v.v
Lần lượt, bạn tự đặt ra những câu hỏi và trả lời cho câu hỏi của chính
mình. Điều này sẽ giúp bạn vạch được cho mình những ý chính thật đầy đủ. Sau
khi có được những ý chính bạn mới triển khai các ý phụ. Thêm vào đó bạn có thể
tham khảo các bài văn hay để bổ sung các ý cần thiết.
Bằng cách sơ đồ hóa dàn bài bằng những gạch đầu dòng và mũi tên sẽ giúp bạn
thấy rõ các ý mà mình định triển khai. Và như thế, việc sót ý là một điều hiếm khi
xảy ra khi bạn làm bài.
* Đối với dạng đề phân tích nội dung, nghệ thuật của tác phẩm cần làm
nổi bật được nội dung nghệ thuật chính của truyện có phân tích chứng minh bằng
các luận cứ tiêu biểu và xác thực, căn cứ vào từng tác phẩm để có cách triển khai
cụ thể. Cần liên hệ với các tác phẩm cùng đề tài cùng giai đoạn để người đọc người
nghe sâu sắc hơn về tác phẩm đang nghị luận.
– Bước 4: Viết bài và sửa chữa
+ Trong quá trình viết cần vận dụng đa dạng phong phú các phép lập luận. Chú ý
sử dụng ngôn từ không chỉ đúng mà cần phải hay, biểu cảm ( Ví dụ: Tôi trở về
thăm trường cũ. Có thể viết Tôi trở về thăm trường xưa. Nge như hay hơn và
hoài niệm hơn)
+ Khi viết chú ý vận dụng các phép liên kết để bài văn được lô gic chặt chẽ, tự
nhiên thuyết phục được người đọc người nghe Đặc biệt khi nghị luận một bài
thơ hoặc đoạn thơ có khác với nghị luận tác phẩm truyện ở chỗ: nếu nhưng những
xét đánh giá về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyện phải xuất phát từ ý
nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật, cách tạo dựng tình huống
truyện, cách xây dựng nhân vật thì những đánh giá về nội dung, nhệ thuật của
bài thơ, đoạn thơ lại được thể hiện qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, các bút pháp
nghệ thuật, cách ngắt nhịp Khi nghị luận một tác phẩm truyện có thể tách dời
giữa những nhận xét về nội dung và nghệ thuật nhưng nghị luận thơ lại phải đi từ
nghệ thuật đến nội dung
+ Trong quá trìh triển khai các luận điểm, luận cứ cần thể hiện sự cảm thụ và ý
kiến riêng của người viết về tác phẩm.
+ Viết xong cần đọc lại và sửa chữa bài kịp thời.
3. Dàn ý đại cương
a. Nghị luận về tác phẩm truyện hay đoạn trích.
– Mở bài: Giới thiệu tác phẩm( tùy theo yêu cầu cụ thể của đề bài) và nêu
ý kiến đánh giá sư bộ của mình.
– Thân bài: Nêu các luận điểm chính về nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm, có phân tích, chứng minh bằng các luận cứ tiêu biểu và xác thực.
– Kết bài: Nêu nhận định đánh giá chung của mình về tác phẩm truyện
( hoặc đoạn trích).
b. Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ
– Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giá
của mình( Nếu là phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác
phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó).
– Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dunh và
nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
– Kết bài: Khái quát giá trị ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.
2. Một số điểm giống nhau. 2.1. LoạiCác dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí ; nghị luận về một hiện tượng kỳ lạ đời sống ; nghị luận về một yếu tố xã hội trong tác phẩm văn học đều thuộc loại bài nghị luậnxã hội. 2.2 Các thao tác thường vận dụng khi viết bài : Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung những thao tác lập luận là lý giải, phântích, chứng tỏ, so sánh, bác bỏ, phản hồi. Ba thao tác cơ bản nhất là lý giải, chứng tỏ, phản hồi. 2.2.1 Thứ nhất về thao tác lý giải : – Mục đích : Nhằm để hiểu – Các bước : + Bước 1 : Làm rõ yếu tố được dẫn trên đề. Nếu yếu tố bộc lộ dưới dạng là mộtcâu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng sáng tạo do người ra đề đề xuất kiến nghị, ngườiviết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của yếu tố theo cách đi từ khái niệm đếncác vế câu và sau cuối là hàng loạt ý tưởng sáng tạo được trích dẫn. Khi yếu tố được diễnđạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải lý giải cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từngữ. Nếu yếu tố là một hiện tượng kỳ lạ đời sống, người viết cần cho biết đó là hiệntượng gì, hiện tượng kỳ lạ đó biểu lộ thế nào, dưới những hình thức nào ( miêu tả, nhậndiện ) Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng yếu tố, xác lập đúng yếu tố ( hoặc mức độ ) cần lý giải để chọn lí lẽ thiết yếu. Trong ý niệm làm văn truyền thống lịch sử, bước này được xem là bước vấn đáp câu hỏiLà gì ? + Bước 2 : Tìm hiểu cơ sở của yếu tố : Trả lời tại sao có yếu tố đó ( xuất phát từ đâucó yếu tố đó ). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần biểu lộ rất rõ đặc thùcủa thao tác lý giải. Người viết cần tâm lý kĩ để có cách viết ngặt nghèo về mặtlập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng. Trong ý niệm làm văntruyền thống, bước này được xem là bước vấn đáp thắc mắc Tại sao ? + Bước 3 : Nêu hướng vận dụng của yếu tố : Vấn đề được vận dụng vào thực tiễncuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này nhu yếu người viết bộc lộ quanđiểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng yếu tố vào đời sống của mình như thếnào. Trong ý niệm làm văn truyền thống cuội nguồn, bước này được xem là bước vấn đáp câuhỏi Như thế nào ? Lưu ý khi thực thi thao tác lý giải : Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi ( Làgì, tại sao, như thế nào vào đầu mỗi phần ( mỗi bước ) của bài văn. Mục đích đặtcâu hỏi : để tìm ý ( phần vấn đáp chính là ý, là vấn đề được tìm ra ) và cũng để tạosự quan tâm thiết yếu so với người đọc bài văn. Cũng hoàn toàn có thể không cần đặt trực tiếpba câu hỏi ( Là gì, tại sao, như thế nào ) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khiviết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt vấn đáp từng ý, từng luậnđiểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. Tuỳ theo trong thực tiễn của đề và thực tiễn bài làm, bước như thế nào có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắtbuộc. 2.2.2 Thứ hai về thao tác chứng tỏ – Mục đích : Tạo sự tin yêu. – Các bước : + Bước 1 : Xác định đúng mực điều cần chứng tỏ, khoanh vùng phạm vi cần chứng tỏ. + Bước 2 : Dùng dẫn chứng trong trong thực tiễn đời sống để minh hoạ nhằm mục đích làm sángtỏ điều cần chứng tỏ, khoanh vùng phạm vi cần chứng tỏ. 2.2.3 Thứ ba về thao tác phản hồi – Mục đích : Tạo sự đống ý. – Các bước : – Nêu, lý giải rõ yếu tố ( hiện tượng kỳ lạ ) cần phản hồi. – Dùng lí lẽ và dẫn chứng ( đa phần là lí lẽ ) để chứng minh và khẳng định giá trị của yếu tố hoặchiện tượng ( giá trị đúng hoặc giá trị sai ). Làm tốt phần này chính là đã bước đầuđánh giá được yếu tố ( hiện tượng kỳ lạ ) cần phản hồi. – Bàn rộng và nhìn yếu tố ( hiện tượng kỳ lạ ) cần phản hồi dưới nhiều góc nhìn ( thậm chítừ góc nhìn ngược lại ) để có cái nhìn khá đầy đủ hơn. – Khẳng định công dụng, ý nghĩa của yếu tố trong đời sống hiện tại. 3. Một số điểm khác nhau cơ bản giữa những kiểu bài3. 1 Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí3. 1.1 Đề tài : – Về nhận thức ( lí tưởng, mục tiêu sống, mục tiêu học tập ). – Về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lượng ; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính nhã nhặn, tínhích kỉ ). – Về quan hệ mái ấm gia đình ( tình mẫu tử, tình bạn bè ). – Về quan hệ xã hội ( tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê nhà đấtnước ). 3.1.2 Về cấu trúc tiến hành tổng quát : – Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận ( hiểu yếu tố cần nghị luận là gì ). – Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những bộc lộ rơi lệch có tương quan đến vấnđề bàn luận. – Nêu ý nghĩa của yếu tố ( bài học kinh nghiệm nhận thức và hành vi về tư tưởng, đạo lí ). 3.1.3. Một số đề tìm hiểu thêm – Tình thương là niềm hạnh phúc của con người. – “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành vi ” quan điểm trên của M.Xi – xê-rông ( nhà triết học La Mã cổ đại ) gợi cho anh ( chị ) những tâm lý gì về việc tudưỡng và học tập của bản thân ? – Hãy phát biểu quan điểm của mình về mục tiêu học tập do UNESCO đề xướng : “ Họcđể biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định chắc chắn mình. – Suy nghĩ của em về triết lí sau : “ Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm họccách làm cần câu và cách câu cá ”. – Trả lời thắc mắc tìm hiểu của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nóivề kinh nghiệm tay nghề thành công xuất sắc của mình như sau : “ Tôi nghĩ rằng tổng thể những gì cógiá trị một chút ít, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học ”. Bình luận câu nói trên. Anh, chị có tâm lý gì về con đường học tập sắp tới củamình ? – “ Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguờibạn, người đồng đội, của cha mẹ mình hoặc của bất kỳ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác điều đang xảy ra trong trái timngười đó thì đứa trẻ chẳng khi nào trở thành con người chân chính ”. Em hãy bày tỏ quan điểm của mình về nhận định và đánh giá trên của nhà sư phạmXukhômlinxki. – Bình luận danh ngôn : “ Tiền mua được tổng thể, trừ niềm hạnh phúc ”. – Trong thư gửi người trẻ tuổi và nhi đồng cả nước nhân ngày Tết 1946, Bác Hồviết : “ Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ làmùa xuân của xã hội ”. Hãy lý giải và nêu tâm lý của em về lời dạy của Bác. – Giải thích câu nói của Gorki : “ Sách mở ra trước mắt tôi những chân trờimới ”. – Đồng chí Lê Duẩn có nói : “ Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhânái ”. Em hiểu câu nói đó như thế nào ? – Nhà thơ Pháp La Phôngten ( La Fontaine ) có nói : “ Tính ích kỉ là thuốc độcgiết chết tình bạn ”. Hãy phản hồi câu nói trên. – Suy nghĩ của em về câu danh ngôn : “ Một người bạn chân thành là mộtngười bạn tốt ». – Một nhà giáo dục đã nêu một ý niệm như sau : Con đường từ nhà đếntrường của mỗi người học viên tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cuối mỗi con đườngấy đều giống nhau. ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ. Trình bàysuy nghĩ của em về ý niệm đó. – Phê phán thái độ hờ hững, hờ hững so với con người cũng quan trọng và cầnthiết như ca tụng lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh ( chị ) tâm lý như thế nào về ýkiến trên ? – Suy nghĩ của anh ( chị ) về câu nói : “ Đường đi khó không khó vì ngăn sôngcách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông ”. ( Nguyễn Bá Học ) – Phải chăng bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi ? – “ Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phươnghướng kiên cường, mà không có phương hướng thì không có đời sống. ( Lép Tôn-xtôi ) Anh ( chị ) hãy nêu tâm lý về vai trò của lí tưởng nói chung và trình diễn lítưởng riêng của mình. – Phải chăng Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc sống. Sự mất mát lớn nhất là bạn để cho tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống. ? ( Noóc-manKu-sin, theo Những vòng tay âu yếm NXB Trẻ, 2003 ). – Tiền tài và niềm hạnh phúc. – “ Có ba điều làm hỏng một con người : rượu, tính kiêu ngạo và sự khó chịu. Anh, chị tâm lý như thế nào về quan điểm đó ? 3.2 Dạng nghị luận về một hiện tượng kỳ lạ đời sống3. 2.1. Đề tài : Những hiện tượng kỳ lạ tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm. Ví dụ : – Chấp hành luật giao thông vận tải. – Hiến máu nhân đạo-Nạn bạo hành trong gia đình-Phong trào người trẻ tuổi tiếp sức mùa thi-Cuộc hoạt động giúp sức đồng bào hoạn nạn-Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng-Những tấm gương người tốt việc tốt-Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi-Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp sức * Lưu ý : – Nên quy thành từng cụm đề tài nhỏ như dạng bài NLVMTT, ĐL để dễ nhận diện : – Về nhận thức ( lí tưởng, mục tiêu sống, mục tiêu học tập ). – Về tâm hồn, tính cách ( lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lượng ; tính trung thực, tính cương quyết, tính hoà nhã, tính nhã nhặn, tínhích kỉ ). – Về quan hệ mái ấm gia đình ( tình mẫu tử, tình đồng đội ). – Về quan hệ xã hội ( tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn ). 3.2.2. Về cấu trúc tiến hành tổng quát : – Nêu rõ hiện tượng kỳ lạ. – Nêu nguyên do. Phân tích những mặt đúng-sai, lợi-hại. – Bày tỏ thái độ, quan điểm về hiện tượng kỳ lạ xã hội đó. 3.2.3. Một số đề tìm hiểu thêm : – Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá thể, mái ấm gia đình, tổ chức triển khai thu nhận trẻ nhỏ cơ nhỡ, long dong kiếm sống trong những thành phố, thị xã về những mái ấm tình thương đểnuôi dạy, giúp những em học tập, rèn luyện, vươn lên sống lành mạnh, tốt đẹp. Anh ( chị ) hãy bày tỏ tâm lý về hiện tượng kỳ lạ đó. – Về hiện tượng kỳ lạ ngày càng có nhiều người dời bỏ quê nhà để đổ xô về những thànhphố lớn. – Về hiện tượng kỳ lạ nhiều người trong lớp trẻ thời điểm ngày hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyềnthống. 3.3 Dạng nghị luận về một yếu tố xã hội trong tác phẩm văn học3. 3.1. Đề tài : Một yếu tố xã hội có ý nghĩa thâm thúy nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, ( Vấn đềxã hội có ý nghĩa hoàn toàn có thể lấy từ hai nguồn : tác phẩm văn học đã học trong chươngtrình hoặc một câu truyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa đượchọc ). 3.3.2. Về cấu trúc tiến hành tổng quát : a / Phần một : Phân tích văn bản ( hoặc nêu vắn tắt nội dung câu truyện ) để rút ra ýnghĩa của yếu tố ( hoặc câu truyện ). b / Phần hai ( trọng tâm ) : Nghị luận ( phát biểu ) về ý nghĩa của yếu tố xã hội rút ra từtác phẩm văn học ( câu truyện ). 3.3.3. Một số đề tìm hiểu thêm – Suy nghĩ của anh ( chị ) từ ý nghĩa của câu truyện Bến quê – Nguyễn Minh Châu. – “ Con cò mà đi ăn đêm, Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao. Ông ơi, ông vớt tôi nao ! Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng. Có xáo thì xáo nước trong, Đừng xáo nước đục, đau lòng cò conTừ bài ca dao, hãy bàn về yếu tố lẽ sống của con người Nước Ta. 4. Dàn bài4. 1 Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lía ) Mở bài – Giới thiệu yếu tố được đưa ra nghị luận. – Nêu luận đề : dẫn nguyên văn tư tưởng đạo lí hoặc nội dung bao trùm của yếu tố. – Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ tiến hành. b ) Thân bài – Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận ( nêu những góc nhìn nội dung của tưtưởng, đạo lí này ). – Phân tích, chứng tỏ, phản hồi những góc nhìn ; bác bỏ, phê phán những rơi lệch ( nếu có ). – Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, liên hệ thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm nhận thức và hànhđộng. – Lấy dẫn chứng minh họa ( ngắn gọn, tiêu biểu vượt trội, dễ hiểu ). c ) Kết bàiTóm tắt những ý, nhấn mạnh vấn đề luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm mục đích chốt lại bài viết hoặc dẫnthơ, văn để lan rộng ra, gợi ý thêm cho người đọc về yếu tố đang bàn luận. * Lưu ý : – Muốn làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, trước hết hãy tìm hiểu và khám phá sâuvề tư tưởng, đạo lí được đem ra đàm đạo. – Tìm hiểu tư tưởng, đạo lí bằng cách nghiên cứu và phân tích, lý giải theo từng ý, từng vế củavấn đề được nêu. – Phát biểu đánh giá và nhận định, nhìn nhận của mình về tư tưởng, đạo lí đó. Nêu những luận cứ và nghiên cứu và phân tích những luận cứ để khẳng định chắc chắn đánh giá và nhận định, nhìn nhận củamình. 4.2 Dạng nghị luận về một hiện tượng kỳ lạ đời sốnga ) Cách viết mở bài – Nghị luận về một hiện tượng kỳ lạ đời sống cũng là một dạng văn bản. Vì vậy, nó cũng cần mở màn bằng một mở bài. Và phần mở bài của nó đương nhiên không thểđi ngược lại những nguyên tắc chung của mở bài. – Nghị luận là hoạt động giải trí nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu nhu yếu của con người muốn đượcbàn luận và nhìn nhận về một hiện tượng kỳ lạ ( hoặc yếu tố ) nào đấy. Mở bài của một bàinghị luận hiện tượng kỳ lạ đời sống phải bộc lộ được khuynh hướng nhìn nhận và bàn luậnđó trải qua những câu hỏi, hoặc những câu có tính năng gợi tâm lý, trăn trởtrong người đọc ( người nghe ). b ) Cách viết thân bài – Thân bài phải gồm đủ hai thành phần là bàn luận và nhìn nhận, để có thểđáp ứng nhu yếu phản hồi. – Các ý của thân bài cần được sắp xếp sao cho người đọc ( người nghe ) cóthể tiếp đón sự nhìn nhận, bàn luận của người làm văn một cách thuận tiện và hứngthú, vì sự phản hồi chỉ có ý nghĩa khi nó thực sự hướng tới người đọc ( ngườinghe ). Chẳng hạn : – Người đọc ( người nghe ) sẽ không hề đảm nhiệm, và càng không hề tiếpnhận một cách hứng thú những lời phản hồi về một hiện tượng kỳ lạ nếu họ còn mơ hồvề cái hiện tượng kỳ lạ được đưa ra phản hồi ấy. Vì thế, trước khi bắt tay vào đánh giáhay luận bàn, người phản hồi nên trình diễn một cách trung thực, rất đầy đủ, rõ ràng vềhiện tượng đời sống mà mình sẽ đem ra bàn luận cùng người đọc ( người nghe ). Người phản hồi không nên cố trình diễn hiện tượng kỳ lạ đời sống đó sao cho phù hợpnhất với quan điểm của mình, vì việc làm ấy hoàn toàn có thể sẽ xích míc với yêu cầukhách quan, trung thực và từ đó sẽ khiến người đọc ( người nghe ) không tin, cảmthấy sự phản hồi không thật công minh, không vô tư. Người phản hồi cũng nên vận dụng những yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyếtminh trong lúc trình diễn để bài văn của mình thêm đúng mực, rõ ràng, sinh động vàdo đó, thêm sức thuyết phục người đọc ( người nghe ). – Người đọc ( người nghe ) sẽ không hề thực sự tin vào quan điểm của người nghị luận, nếu cảm thấy quan điểm ấy chỉ là sự áp đặt một chiều. Sức thuyết phục của bài nghịluận sẽ cao hơn nhiều khi người nghe có điều kiện kèm theo so sánh quan điểm của người nghịluận với những quan điểm đã được nêu ra trước đó. Do vậy, người làm văn nên làmcông việc điểm lại và nhận xét một cách hợp tình hợp lý những quan điểm chính đã cóvề hiện tượng kỳ lạ đời sống được đưa ra phản hồi, trước khi đưa ra quan điểm của bảnthân mình. Việc điểm lại và nhận xét những quan điểm chính đã có về hiện tượng kỳ lạ đời sống nêu ởđề bài rõ ràng cũng cần phải đạt được những nhu yếu khách quan, trung thực, như vừanêu ở điểm trên. Vì có thế thì người nghị luận mới mong đạt được mục tiêu củamình. – Khi nêu ra và bảo vệ quan điểm của riêng mình, người phản hồi hoàn toàn có thể đứng hẳnvề một phía, ủng hộ phía mình cho là đúng và phê phán phía mà mình chắc như đinh làsai. Người phản hồi cũng hoàn toàn có thể tích hợp những phần đúng và vô hiệu phần còn hạnchế của mỗi phía để đi tới một sự nhìn nhận mà mình tin là thực sự hợp lý, côngbằng. Và cũng không loại trừ năng lực người phản hồi đưa ra một cách đánh giákhác biệt của riêng mình, sau khi đã nghiên cứu và phân tích những quan điểm quan điểm khác nhau vềđề tài cần phản hồi. Việc lựa chọn cách làm nào trong cách kể trên cũng trọn vẹn chỉ xuất phát từ mộtvà chỉ một cơ sở duy nhất – cơ sở chân lí. Và sau khi đã lựa chọn được một cáchthức tương thích với chân lí ( lẽ phải ) rồi thì trách nhiệm của người phản hồi là thuyếtphục người nghe ( người đọc ) đặt niềm tin vào sự nhìn nhận của mình, như chínhmình đã từng có niềm tin như vậy. – Khi liên tục luận bàn sâu rộng hơn, người làm văn hoàn toàn có thể đề cập tới thái độ, hànhđộng, cách xử lý cần có trước hiện tượng kỳ lạ vừa được nhận xét, nhìn nhận, cũngcó thể bày tỏ những cảm nhận, tâm lý mà mình đã rút ra khi liên hệ với thời đại, thực trạng sống, lứa tuổi của mình và của người đang lắng nghe mình phản hồi. Sựbàn luận còn hoàn toàn có thể đạt tới tầm vóc lớn hơn, có giá trị cao hơn nếu người bình luậncó thể mở ra những ý nghĩa sâu rộng, thâm thúy và giật mình nữa từ hiện tượng kỳ lạ đờisống mà mình đang phản hồi. c ) Cách viết kết bài – Phần kết bài phải đóng được bài văn lại bằng một khẳng định chắc chắn chắc như đinh, khôngthể nào bác bỏ. – ở một bài nghị luận hay, phần kết không chỉ làm một trách nhiệm duy nhất là chốtlại bài văn. Một phần kết chỉ thật hay khi nó còn mở ra được một khoanh vùng phạm vi rộng lớnhơn cho những suy ngẫm, những điều cần bàn luận tiếp. * Lưu ý : Khi có đề văn nhu yếu nghị luận về một hiện tượng kỳ lạ đời sống thì trước hếtphải tìm hiểu và khám phá hiện tượng kỳ lạ đời sống được nêu trong đề, nghiên cứu và phân tích những biểu lộ củanó, lí giải những nguyên do và hậu quả. Tiếp đến nêu quan điểm nhận xét, nhìn nhận hiện tượng kỳ lạ đó tốt, xấu, lợi, hại như thế nào. Chúng ta cần có thái độ thế nào so với hiện tượng kỳ lạ đó. Trên cơ sở tâm lý đó màlập dàn ý để cho bài viết mạch lạc, vận dụng phối hợp hợp lý những thao tác nghị luận. II. Kiểu bài Nghị luận về một tác phẩm văn học1. Phân loại : Kiểu bài văn nghị luận về một tác phẩm văn học được chia làm hai loại nhỏ : nghị luận về tác phẩm truyện ( đoạn trích ) và nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ. 2. Khái niệm – Nghị luận về tác phẩm truyện ( Hoặc đoạn trích ) là trình diễn những nhận xét, nhìn nhận của mình về nhân vật, sự kiện, chủ đề hay thẩm mỹ và nghệ thuật một tác phẩm cụthể. – Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ là trình diễn những nhận xét nhìn nhận củamình về nội dung hay nghệ thuật và thẩm mỹ của đoạn thơ hay bài thơ ấy. 3. Một số thao tác cần quan tâm khi làm bài thuộc kiểu Nghị luận một tác phẩmvăn học. – Bước 1 : Nắm chắc nội dung toàn tác phẩmĐể biết mình đã nắm chắc tác phẩm hay chưa, bạn hãy vấn đáp những câu hỏi sau. Tác phẩm này do ai sáng tác ? Trong thực trạng nào ? Đề tài và chủ đề của tácphẩm ? Bạn hoàn toàn có thể tóm tắt nội dung của tác phẩm đó chưa ( so với tác phẩm vănxuôi ) ? Đối với tác phẩm thơ thì không chỉ nắm nội dung toàn tác phẩm bạn cònphải học thuộc lòng những phần nội dung nằm trong chương trình học. Các thủpháp thẩm mỹ và nghệ thuật chủ yếu trong tác phẩm này là gì ? v.v – Bước 2 : trước một đề bài cần xem xét những dạng đề so với tác phẩm đó ( dạng đề ởđây được hiểu là về thể loại và nội dung ) VD : Với tác phẩm Lão Hạc tất cả chúng ta hoàn toàn có thể gắt gặp những dạng đề nghị luận về : cácnhân vật trong tác phẩm ( Lão Hạc ), giá trị hiện thực và nhân đạo trong tác phẩm, nghệ thuật và thẩm mỹ miêu tả tâm ý và khắc họa nhân vật, nghệ thuật và thẩm mỹ thiết kế xây dựng tình huốngtruyện Ở mỗi dạng đề cần ddingj hướng được những ý chính. – Bước 3 : Lập dàn bài chi tiết cụ thể cho từng dạng đề ở mỗi tác phẩmĐối với mỗi dạng đề những bạn cần lập ra một dàn bài. Tuy mất thời hạn nhưngđiều này sẽ giúp bạn lường hết mọi trường hợp đề hoàn toàn có thể phát hiện và không phảilúng túng khi làm bài. * Với đề nghiên cứu và phân tích nhân vật, khi nào những bạn cũng phải vạch cho mình hai ýchính nhất : ngoại hình và tính cách. Bên cạnh đó một số ít yếu tố như : ngôn từ, hành vi, cử chỉ, nội tâm mối quan hệ với xã hội với những nhân vật khác. Tất cảcác yếu tố này tựu trung lại cũng hỗ trợ và làm bật lên tính cách của nhân vật. Songsong với nghiên cứu và phân tích nội dung, những bạn cần chú ý quan tâm và nhấn mạnh vấn đề đến những thủ phápnghệ thuật kiến thiết xây dựng nhân vật. + Hầu hết những nhân vật trong tác phẩm văn học thường mang tính hình tượng, đại diện thay mặt cho một những tầng lớp, một thế hệ nên sau quy trình nghiên cứu và phân tích ngoại hình vàtính cách những bạn cần rút ra được thông điệp mà nhà văn muốn gửi gắm qua tácphẩm đó ( Khái quát bình diện văn học ). + Trong mỗi ý lớn như vậy sẽ có thêm nhiều ý nhỏ hơn, bạn hãy dùng mộtmũi tên cho một ý để sơ đồ hóa dàn bài của mình. Và ở mỗi ý nhỏ, những bạn cần tìmra những dẫn chứng tương thích dẫn chứng cho những đặc thù đó. Dẫn chứngchính là những đoạn trích trong tác phẩm, bạn cần học thuộc 1 số ít câu văn tiêubiểu để dẫn chứng cho những quan điểm nhìn nhận của mình trong bài viết. Qua phântích những dẫn chứng đó nhân vật của bạn sẽ hiện lên với vừa đủ tính cách, chânthực và sôi động. * Đối với dạng đề tổng hợp nghị luận về một yếu tố văn học ( VD : giá trịnhân đạo trong những tác phẩm của Nam Cao ), tất cả chúng ta cần đi từ yếu tố bao quátnhất : + Nhân đạo : Nhân đạo là gì ? + Biểu hiện của tinh thần nhân đạo : Yêu thương con người, cảm thôngsâu sắc với những nỗi đau của con người, thông cảm với thực trạng sống của nhânvật ( nhiều khi tinh thần nhân đạo được phản ánh ngay trong những giá trị hiệnthực ), hướng con người một đời sống tốt đẹp hơn đều là những bộc lộ củatinh thần nhân đạo. + Tinh thần nhân đạo trong tác phẩm của Nam Cao : Khái quát về những tác phẩm của Nam Cao, những đề tài chính ( đời sống củangười nông dân và tri thức nghèo ) Tinh thần nhân đạo bộc lộ trong tác phẩm của Nam Cao như thế nào ? bằngnhững hình ảnh gì ? trong tác phẩm nào ? Vấn đề tác giả đặt ra trong tác phẩm làgì ? Giá trị nhân đạo biểu lộ trong tác phẩm của Nam Cao có gì khác so với cácnhà văn khác ở những tác phẩm khác không ? ( hoàn toàn có thể so sánh với những tác phẩm Vợnhặt, Vợ chồng A Phủ ) v.v Lần lượt, bạn tự đặt ra những câu hỏi và vấn đáp cho câu hỏi của chínhmình. Điều này sẽ giúp bạn vạch được cho mình những ý chính thật không thiếu. Saukhi có được những ý chính bạn mới tiến hành những ý phụ. Thêm vào đó bạn có thểtham khảo những bài văn hay để bổ trợ những ý thiết yếu. Bằng cách sơ đồ hóa dàn bài bằng những gạch đầu dòng và mũi tên sẽ giúp bạnthấy rõ những ý mà mình định tiến hành. Và như vậy, việc sót ý là một điều hiếm khixảy ra khi bạn làm bài. * Đối với dạng đề nghiên cứu và phân tích nội dung, nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm cần làmnổi bật được nội dung nghệ thuật và thẩm mỹ chính của truyện có nghiên cứu và phân tích chứng tỏ bằngcác luận cứ tiêu biểu vượt trội và xác nhận, địa thế căn cứ vào từng tác phẩm để có cách triển khaicụ thể. Cần liên hệ với những tác phẩm cùng đề tài cùng tiến trình để người đọc ngườinghe thâm thúy hơn về tác phẩm đang nghị luận. – Bước 4 : Viết bài và sửa chữa thay thế + Trong quy trình viết cần vận dụng phong phú phong phú và đa dạng những phép lập luận. Chú ýsử dụng ngôn từ không chỉ đúng mà cần phải hay, biểu cảm ( Ví dụ : Tôi trở vềthăm trường cũ. Có thể viết Tôi trở về thăm trường xưa. Nge như hay hơn vàhoài niệm hơn ) + Khi viết chú ý vận dụng những phép link để bài văn được lô gic ngặt nghèo, tựnhiên thuyết phục được người đọc người nghe Đặc biệt khi nghị luận một bàithơ hoặc đoạn thơ có khác với nghị luận tác phẩm truyện ở chỗ : nếu nhưng nhữngxét nhìn nhận về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm truyện phải xuất phát từ ýnghĩa của diễn biến, tính cách, số phận của nhân vật, cách tạo dựng tình huốngtruyện, cách thiết kế xây dựng nhân vật thì những nhìn nhận về nội dung, nhệ thuật củabài thơ, đoạn thơ lại được bộc lộ qua ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, những bút phápnghệ thuật, cách ngắt nhịp Khi nghị luận một tác phẩm truyện hoàn toàn có thể tách dờigiữa những nhận xét về nội dung và thẩm mỹ và nghệ thuật nhưng nghị luận thơ lại phải đi từnghệ thuật đến nội dung + Trong quá trìh tiến hành những vấn đề, luận cứ cần biểu lộ sự cảm thụ và ýkiến riêng của người viết về tác phẩm. + Viết xong cần đọc lại và thay thế sửa chữa bài kịp thời. 3. Dàn ý đại cươnga. Nghị luận về tác phẩm truyện hay đoạn trích. – Mở bài : Giới thiệu tác phẩm ( tùy theo nhu yếu đơn cử của đề bài ) và nêuý kiến nhìn nhận sư bộ của mình. – Thân bài : Nêu những vấn đề chính về nội dung và nghệ thuật và thẩm mỹ của tácphẩm, có nghiên cứu và phân tích, chứng tỏ bằng những luận cứ tiêu biểu vượt trội và xác nhận. – Kết bài : Nêu đánh giá và nhận định nhìn nhận chung của mình về tác phẩm truyện ( hoặc đoạn trích ). b. Nghị luận về đoạn thơ hoặc bài thơ – Mở bài : Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giácủa mình ( Nếu là nghiên cứu và phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tácphẩm và khái quát nội dung cảm hứng của nó ). – Thân bài : Lần lượt trình diễn những tâm lý, nhìn nhận về nội dunh vànghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ. – Kết bài : Khái quát giá trị ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ .
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


