Cổng Thông tin điện tử Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội – Hỏi đáp.

Nội dung và yêu cầu cơ bản trong quản lý Nhà nước các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo

Quản lý Nhà nước (QLNN) nhằm phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo là một loạt các biện pháp quản lý nhằm định hướng, điều chỉnh các quan hệ xã hội, các tổ chức toàn thể, người dân nhằm mục tiêu phục vụ an sinh xã hội, đảm bảo công bằng và xóa đói giảm nghèo.

Đặc điểm và yêu cầu của QLNN về các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo

Thứ nhất

, đây là hoạt động vừa mang tính chấp hành, vừa mang tính điều hành. Tính chấp hành được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các văn bản hiến pháp, luật, pháp lệnh và nghị quyết của cơ quan lập pháp, cơ quan dân cử.

Tính điều hành thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện trên thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính Nhà nước phải tiến hành càc hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền.

Để đảm bảo sự thống nhất của hai yếu tố này đòi hỏi rất nhiều yêu cầu. Trong đó, quản lý hành chính Nhà nước trước hết phải bảo đảm việc chấp hành văn bản của cơ quan dân cử đaị diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, từ đó mà thực hiện quản lý điều hành. Mọi hoạt động chấp hành và điều hành đều phải xuất phát từ mục đích nhằm phục vụ cho nhân dân, đảm bảo đời sống xã hội cho nhân dân về mọi mặt.

Thứ hai

, hoạt động QLNN cần có tính chủ động và sáng tạo. Điều này thể hiện ở việc các chủ thể quản lý hành chính căn cứ vào tình hình, đặc điểm của từng đối tượng quản lý để đề ra các biện pháp quản lý thích hợp. Tính chủ động sáng tạo còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật hành chính để điều chỉnh các hoạt động quản lý Nhà nước. Tính chủ động sáng tạo được nội hàm bởi chính bản thân sự phức tạp, đa dạng, phong phú của đối tượng quản lý và đòi hỏi các chủ thể quản lý phải áp dụng biện pháp giải quyết mọi tình huống phát sinh một cách có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, chủ động và sáng tạo không vượt ra ngoài phạm vi của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật Nhà nước.

Thứ ba

, QLNN có mục tiêu chiến lược, có chương trình và có kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Đây là hoạt động có mục đích và có định hướng rõ rệt. Vì vậy, phải có chương trình, kế họach dài hạn, trung hạn và hàng năm. Có các chỉ tiêu vừa mang tính định hướng, vừa mang tính pháp lệnh; có hệ thống pháp luật vừa được áp dụng thực thi triệt để cho hoạt động quản lý, vừa tạo hành lang pháp lý cho hoạt động đặt dưới sự quản lý ấy.

Thứ tư

, không có sự cách biệt tuyệt đối về mặt xã hội giữa chủ thể quản lý và chủ thể của quản lý (chủ thể chịu sự quản lý). Cán bộ QLNN phải là “công bộc” của nhân dân, biết lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân, thu hút được rộng rãi quần chúng nhân dân tham gia vào việc quá trình quản lý Nhà nước trong lĩnh vực dịch vụ cơ bản đối với người nghèo.

Thứ năm

, QLNN các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo có tính chuyên môn hóa và nghề nghiệp cao. Đo chính là nghiệp vụ của một nền quản lý Nhà nước văn minh, hiện đại. Khi nói đến một “nền kinh tế tri thức” thì đội ngũ quản lý của nền kinh tế tri thức ấy phải có một tầm vóc tương xứng. QLNN yêu cầu cần có trình độ kiến thức chuyên môn và kỹ năng quản lý thực tiễn làm tiêu chuẩn hàng đầu.

Thứ sáu

, tính không vụ lợi: QLNN nhất là đối với lĩnh vực xóa đói giảm nghèo cần phải coi việc phục vụ lợi ích công làm động cơ và mục đích của hoạt động. QLNN không phải vì lợi ích thù lao, càng không theo đuổi mục đích kinh doanh lợi nhuận. Cán bộ QLNN phải bảo đảm “cần kiệm, liêm chính, chí công, vô tư”.

Nội dung cơ bản của QLNN các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo

1. Hoạch định phát triển dịch vụ 

QLNN đối với cung ứng  các dịch vụ cơ bản là một bộ phận quan trọng của quản lý Nhà nước đối với xã hội nói chung và là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy Nhà nước lên đối tượng bị quản lý trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ cho mọi người dân một cách công bằng, ổn định, hiệu quả và phi lợi nhuận thông qua đưa các nội dung phát triển các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KTXH.

Nhà nước đóng vai trò chủ thể quản lý dịch vụ cung ứng cho xã hội. Đối tượng quản lý bao gồm:

a) Các cơ quan chức năng quản lý cung ứng dịch vụ được ủy quyền bảo đảm cung ứng dịch vụ cho xã hội thuộc phạm vi được giao (các bộ, các ngành, UBND các tỉnh, thành phố, quận, huyện,…)

Dưới cơ quan quản lý cung ứng dịch vụ là:

– Các tổ chức cung ứng dịch vụ: bao gồm các tổ chức do cơ quan chức năng quản lý cung ứng dịch vụ trực tiếp thành lập, quản lý, vận hành và các tổ chức ngoài Nhà nước thực hiện theo hợp đồng hoặc ủy quyền cấp phép của các cơ quan chức năng quản lý cung ứng dịch vụ.

– Các nguồn lực, các cơ hội và các mối quan hệ trong khuôn khổ luật pháp và quy chế cho phép của Nhà nước đối với cơ quan chức năng quản lý cung ứng dịch vụ
b) Khách hàng tiêu dùng dịch vụ: Đó là người dân, vừa là đối tượng bị quản lý của Nhà nước, trong cung ứng dịch vụ với tư cách là người được hưởng lợi từ việc cung ứng dịch vụ mà Nhà nước đem lại, vừa là khách thể quản lý với tư cách là những người có quyền đòi hỏi và buộc Nhà nước phải phục vụ lại mình (vì dân đã đóng thuế, làm đủ các nghĩa vụ công dân của mình trước xã hội).

2. Tổ chức phát triển các dịch vụ cơ bản

Nguyên tắc tổ chức bộ máy, nhân sự thực hiện cung ứng dịch vụ:

– Thống nhất lãnh đạo chính trị và xã hội trong quản lý:

– Tập trung dân chủ: Việc QLNN đối với cung ứng dịch vụ cơ bản phải theo luật pháp, có kế hoạch, phải mở rộng dân chủ quyền tự chịu trách nhiệm của các cấp, phải thực hiện hạch toán kinh tế theo hướng lấy thu bù chi, từng bước đưa ra các yếu tố cạnh tranh của thị trường vào các hoạt động cung ứng dịch vụ công.

– Kết hợp hài hòa các lợi ích trong xã hội: theo hướng công bằng công khai, ổn định và phi lợi nhuận:

– Tiết kiệm hiệu quả: đòi hỏi việc QLNN đối với cung ứng dịch vụ cơ bản phải được tính toán cân nhắc các giải pháp, các quyết định một cách khoa học, chuẩn xác theo hướng giảm chi phí tối đa trên cơ sở đảm bảo số lượng, chất lượng, thời gian cung ứng cho xã hội. Không thể vì tính phi lợi nhuận và vô vị lợi của DVCB đối với người nghèo mà sản xuất và cung ứng với mọi giá.

– Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo địa phương: Trong quản lý Nhà nước đối với cung ứng dịch vụ cơ bản, một mặt phải đảm bảo sử dụng được các thành tựu khoa học công nghệ mang tính chuyên ngành vào việc sản xuất và cung ứng cho xã hội; mặt khác phải đảm bảo được sự phù hợp và tính đa dạng trong sử dụng của mỗi địa phương theo hướng mở rộng việc tự chịu trách nhiệm theo sự phân công ủy quyền của Nhà nước.

3. Xây dựng quy trình triển khai thực hiện các dịch vụ

– Xác địch mục tiêu, sứ mệnh và kế hoạch cung cấp dịch vụ:

Mục tiêu hàng đầu thường được các chính quyền đặt ra là đáp ứng yêu cầu của người dân, đáp ứng các nhu cầu dịch vụ mà người dân quan tâm. Mấu chốt của sứ mệnh của tổ chức, duy trì ý chí mạnh mẽ đối với nhân viên (cán bộ) làm sao cho các khách hàng (dân chúng) của họ được hài lòng.

Dựa trên cơ sở các nguồn lực của Nhà nước, ma trận mục tiêu đặt ra, năng lực tổ chức, các cơ quan họp bàn và đề ra kế hoạch triển khai dài hạn, trung hạn. Cơ chế phối hợp, cơ chế thực hiện của các cấp, các ngành trong quá trình triển khai.

– Kế hoạch hàng năm và ngân sách thực hiện:

Kế hoạch hàng năm sẽ xây dựng khung chương trình, mục tiêu kế hoạch của chương trình, chức năng nhiệm vụ của các đơn vị tham gia, nguồn ngân sách và cơ chế đánh giá, giám sát ra sao. Mỗi kế hoạch có thể bao gồm nhiều dịch vụ cơ bản cung cấp cho người dân, hoặc chỉ chuyên sâu vào một dịch vụ nào đó. Việc xây dựng kế hoạch ngắn hạn, hoặc hàng năm có thể được thực hiện theo khuôn khổ một chương trình lớn, tuân theo sự hướng dẫn của cấp trung ương, các đơn vị thực hiện ở dưới sẽ khảo sát và đưa ra dự thảo kế hoạch rồi trình lên cơ quan có thẩm quyền xem xét phê duyệt.

– Đánh giá các kế hoạch, phê duyệt ngân sách:

Sau khi bản kế hoạch hàng năm được xem xét đánh giá trên phương diện tổng thể quy mô một quốc gia, hoặc một thành phố cho nhiều địa bàn quận huyện. Chính quyền Nhà nước cấp trung ương, hoặc tỉnh/thành sẽ xem xét cân nhắc phê duyệt ngân sách, cũng như nội dung chương trình thực hiện cho các năm cụ thể ra sao. Sau khi chương trình được sửa đổi, phê duyệt, chính quyền sẽ ban hành quyết định thực hiện các chương trình cung cấp dịch vụ đó.

– Tiến hành thực hiện:

Việc tiến hành thực hiện các chương trình cung cấp dịch vụ cơ bản thông thường được chỉ đạo từ cấp trung ương, cấp tỉnh/thành phố. Đơn vị thực hiện bắt đầu từ cấp quận/ huyện cho đến cấp cơ sở phường/xã. Việc tổ chức thực hiện, phối hợp giữa các đơn vị được thực hiện theo các chính sách văn bản của Nhà nước quy định, với sự giám sát, đánh giá của tổ chức đã được chỉ định trước đó.

– Giám sát, đánh giá, báo cáo:

Việc giám sát, đánh giá và báo cáo lên cấp chỉ đạo tình hình thực hiện là rất cần thiết. Ở trên thế giới, các đơn vị giám sát, đánh giá có thể là một đơn vị tư nhân hoặc công lập có uy tín nhằm tiến hành độc lập nhằm giám sát kết quả thực hiện các chương trình điều hành của chính phủ, giám sát các nguồn vốn được từ Nhà nước hoặc các tổ chức có được sử dụng một cách minh bạch và hiệu quả hay không.

4. Tổ chức đánh giá việc thực hiện các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo

Việc tổ chức đánh giá quá trình, kết quả thực hiện các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo là vô cùng cần thiết. Với các nước tiên tiến trên thế giới, đánh giá hoạt động cung cấp dịch vụ giờ đây là trung tâm của mối quan hệ giữa trung ương và các cơ quan ban ngành, chứ không đơn thuần là quá trình kiểm soát và kiểm toán thông thường đã từng được thực hiện nhiều năm trước đây. Một loạt các sáng kiến về đánh giá các dịch vụ cung cấp đã được đề xuất vào năm 1994 theo cách chuyển việc đánh giá từ quá trình sang đánh giá kết quả. Những đề xuất bao gồm hai giải pháp: một là nhằm vào các báo cáo việc thực hiện các hoạt động và hai là tăng cường nhấn mạnh việc xác định mục tiêu cho các mức chất lượng dịch vụ và đánh giá kết quả theo mục tiêu này. Như vậy, một công việc quan trọng đối với cơ quan cung cấp dịch vụ cơ bản cho người nghèo định nghĩa được, ở cấp tổ chức của mình, các tiêu chí và mục tiêu hoạt động hợp lý.

Điều này liên quan đến việc lựa chọn các tiêu giá như thế nào để có nghĩa đối với khách hàng sử dụng dịch vụ (là người dân), trong đó phải đáp ứng được những đòi hỏi chính của dịch vụ, như tính đúng hẹn, tính có thể dự đoán trước, tính chính xác. Hệ số các chỉ số đánh giá phải cung cấp một bức tranh đầy đủ và chính xác về các hoạt động cung ứng dịch vụ cho người nghèo. Các mục tiêu cần phải có khả năng đạt được bằng sự cố gắng và trải qua thời gian chúng sẽ trở thành các đòi hỏi khắt khe để khuyến khích việc cung cấp dịch vụ cơ bản cho người nghèo một cách hiệu quả.

Tổ chức đánh giá việc thực hiện các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo có thể được thực hiện bởi bản thân tổ chức cung cấp dịch vụ, hoặc một đơn vị độc lập như công ty kiểm toán, tổ chức xã hội hoặc qua một cơ quan giám sát cấp Nhà nước nhằm đảm bảo các chính sách, các dịch vụ được cung cấp cho người dân một cách chất lượng, hiệu quả, đảm bảo minh bạch.

5. Kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các dịch vụ cơ bản đối với người nghèo

Năng lực kiểm soát ngày càng trở nên quan trọng khi Nhà nước ta đang chủ trương đẩy nhanh công tác xã hội hóa, khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư trong một số lĩnh vực xã hội như: đào tạo nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm, … Chính phủ chuyển từ trực tiếp tham gia toàn bộ vào quá trình cung cấp dịch vụ cơ bản sang tham gia trực tiếp một phần, đồng thời thực hiện việc quản lý và giám sát thông qua các cơ chế chính sách đối với các thành phần ngoài Nhà nước tham gia cung ứng các dịch vụ cơ bản. Nhà nước có thể thực hiện công tác quản lý của mình thông qua các biện pháp can thiệp dựa vào dân số, nguồn tài chính, quy định pháp luật đối với các nhà cung cấp, tổ chức bảo hiểm; định hướng hệ thống và hành vi thông qua nghiên cứu và cung cấp thông tin; các hoạt động cải tiến chất lượng và sử dụng hợp lý các khoản trợ cấp tài chính. Cụ thể trên bốn lĩnh vực sau:

– Các quy định pháp luật: lĩnh vực này bao gồm xây dựng và cưỡng chế thi hành luật pháp, điều chỉnh hoạt động của khu vực tư nhân và khu vực Nhà nước, đưa ra các tiêu chuẩn tối thiểu về dịch vụ, vệ sinh, chất lượng, các tiêu chí xác định tư cách nhà cung cấp được Nhà nước đầu tư, cơ chế chịu trách nhiệm về mặt xã hội trong việc cung cấp các dịch vụ.

– Điều phối: các cơ quan chủ quản điều phối các hoạt động phối hợp trên góc độ liên ngành, điều phối các hoạt động từ thiện của các nhà tài trợ, quản lý các nhà cung cấp tư nhân. Để công tác điều phối có hiệu quả đòi hỏi có các chính sách, vai trò lãnh đạo và các biện pháp rõ ràng.

– Giám sát và thẩm định: nhằm đảm bảo cho các hoạt động dịch vụ xã hội được thực hiện theo đúng các mục tiêu, định hướng, đúng đối tượng thụ hưởng, có hiệu quả, chất lượng…/.

Ths. Phạm Thị Thanh Mai