Chuyên đề lí luận văn học – MỤC LỤC Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào muốn được giải đáp, A. ĐẶC TRƯNG – StuDocu

MỤC LỤC

Nếu bạn có bất kể câu hỏi nào muốn được giải đáp ,

  • A. ĐẶC TRƯNG VĂN HỌC………………………………………………………………………………………………………………….
      1. Đối tượng của văn học
      1. Đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật
        1. Về hệ thống tín hiệu:
        1. Về chức năng xã hội:
        1. Về tính hệ thống:
        1. Về bình diện nghĩa:
        1. Về sự có mặt của các loại ngôn ngữ:
        1. Về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc:…………………………………………………………………………………………………
      1. Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ
      1. Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ
      1. Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ
      1. Nhạc tính của ngôn ngữ thơ
        1. Thơ trữ tình:
        1. Biểu hiện:
      1. Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ
  • B. ĐỀ VĂN ỨNG DỤNG
  • C. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
    • Đề 1: Quan niệm của em về một bài thơ hay? Hãy chọn một bài thờ em cho là hay
    • tác giả và một tác phẩm Đề 2: Hàn Mặc Tử từng nói: “Người thơ phong vận như thơ ấy”. Hãy giải thích và chứng minh ngắn gọn qua một

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
động của hai vòng tròn ấy, cái tâm, không gì khác chính là con người. Lấy con người làm điểm tựa
miêu tả thế giới, văn nghệ có một điểm tựa để nhìn ra toàn thế giới. Văn nghệ bao giờ cũng nhìn
hiện thực qua cái nhìn của con người. Con người trong đời sống văn nghệ là trung tâm của các giá
trị, trung tâm đánh giá, trung tâm kinh nghiệm của các mối quan hệ. Như vậy, miêu tả con người là
phương thức miêu tả toàn thế giới. Việc biểu hiện hiện thực sâu sắc hay hời hợt, phụ thuộc vào việc
nhận thức con người, am hiểu cái nhìn về con người. Xem xét con người qua các mối quan hệ
không làm mờ đi bản chất riêng của nó mà ngược lại, qua các mối quan hệ, con người càng thể hiện
bản chất của mình từ đó có thể phát hiện tính cách độc đáo, số phận cụ thể.
Như vậy ta có thể thấy rõ rằng văn học phản ánh các quan hệ hiện thực mà trung tâm là con người
xã hội. Văn học miêu tả thế giới trong tương quan với lí tưởng, khát vọng, tình cảm của con người.
Văn học tái hiện vạn vật trong tinh toan vẹn, cảm tính sinh động.

2. Đặc điểm của ngôn ngữ nghệ thuật

2. Về hệ thống tín hiệu:

Ngôn ngữ thẩm mỹ và nghệ thuật, tức là ngôn từ trong những tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật ngôn từ, lại là một mã phức tạp hơn, là mạng lưới hệ thống tín hiệu thứ hai, được cấu trúc nên từ mạng lưới hệ thống tín hiệu thứ nhất ( từ ngôn từ tự nhiên ), “ ngôn từ lad yếu tố thứ nhất của văn học ”, “ ngôn từ trở thành vật tư thiết kế xây dựng nên những hình tượng diễn đạt tư tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ ”. Mỗi yếu tố ngôn từ trong tác phẩm văn học là một phương tiện đi lại biểu lộ, mỗi yếu tố đó nhất thiết tham gia vào việc thể hiện nội dung tư tưởng nghệ thuật và thẩm mỹ của tác phẩm .

2. Về chức năng xã hội:

Trong ngôn ngữ nghệ thuật chức năng thẩm mĩ đóng vai trò quyết định và các chức năng khác
(thông báo, trao đổi thông tin, tác động,…) chỉ đóng vai trò thứ yếu. Chức năng thẩm mĩ của ngôn
ngữ trong các tác phẩm văn học là ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ (đặc trưng nghĩa và âm thanh) là yếu tố
tạo thành hình tượng.

2. Về tính hệ thống:

Ngôn ngữ nghệ thuật và thẩm mỹ có hai bình diện nghĩa : – Hướng vào mạng lưới hệ thống ngôn từ văn hóa truyền thống với những ý nghĩa của từ, của những hình thức ngữ pháp – Hướng vào mạng lưới hệ thống hình tượng của tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ

2. Về bình diện nghĩa:

Chức năng thẩm mĩ được xác lập bởi vị trí và vai trò nó trong mạng lưới hệ thống hình tượng của tác phẩm cũng như trong mạng lưới hệ thống phong thái cá thể của tác giả. Tức là, tính năng thẩm mĩ dựa vào tính

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
hệ thống của phong cách với tư cách là một phạm trù thẩm mĩ với những thông số và những thước
đo gắn với phong cách của phong cách cá nhân, phong cách tác phẩm, phong cách khuynh hướng,
phong cách trường phái văn học.

2. Về sự có mặt của các loại ngôn ngữ:

Ngôn ngữ nghệ thuật và thẩm mỹ là biểu lộ vừa đủ nhất và điển hình nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hóa, rộng hơn là ngôn từ toàn dân. Ngôn ngữ thẩm mỹ và nghệ thuật không chỉ có ngôn từ tân tiến mà còn sử dụng những tân từ ( từ tiềm năng ), từ cổ, từ lịch sử vẻ vang, từ ngẫu hợp .. nghĩa nào đó thì ngôn từ thẩm mỹ và nghệ thuật giàu hơn ngôn từ toàn dân .

2. Về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc:…………………………………………………………………………………………………

Không chỉ có tầm bao quát hơn ngôn từ toàn dân mà ngôn từ nghệ thuật và thẩm mỹ còn có tính chât chuẩn mực. Trở thành hiện tượng kỳ lạ thẩm mỹ và nghệ thuật nhờ sự triển khai xong của nó nhờ năng lực và lao động bền chắc. Ngôn ngữ thẩm mỹ và nghệ thuật mang sắc tố riêng mỗi tác giả, cái nhìn độc lạ không bị lặp lại. Chính thế cho nên ngôn từ thẩm mỹ và nghệ thuật xứng danh giữ vai trò TT ngôn từ dân tộc bản địa .

3. Tính hình tượng của ngôn ngữ thơ

Hình tượng trong văn học nói chung và ngôn từ thơ nói riêng đều được xem xét theo ba nghĩa :

  • Hình tượng như một chi tiết có màu sắc, hình ảnh, một ẩn dụ hoặc một hình thức chuyển nghĩa
    khác gắn với nghĩa bóng
  • Hình tượng như là một nhân vật văn học
  • Hình tượng như là một kiểu đặc biệt của nhận thức và phản ánh của thế giới khách quan.
    Giả thiết thứ ba là giả thuyết chung nhất về hình tượng, còn hai cách giải quyết đều có thể coi là
    những phương tiện nhận thức và phản ánh một cách hình tượng thực tế khách quan.
    Trong ngôn ngữ học, đặc biệt phong cách học thì tính hình tượng theo nghĩa rộng nhất có thể xác
    định là thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật mà cụ thể là ngôn ngữ thơ truyền đạt không chỉ thông
    tin logic mà còn truyền được thông tin được tri giác một cách cảm tính (cảm giác, tri giác, biểu
    tượng) nhờ hệ thống những hình tượng ngôn từ. Còn bản thân hình tượng ngôn từ đầu tiên có thể
    xác định là mảnh đoạn cụm từ mang thông tin hình tượng, mà ý nghĩa của thông tin hình tượng này
    không tương đương với ý nghĩa của những yếu tố được lấy tách riêng ra của mảnh đoạn đó cộng lại.
    Một từ trong lời nói nghệ thuật không thể coi ngang bằng ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản
    nghệ thuật, từ thi ca có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình, có mối tương quan đồng

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!

“ Dữ dội ” – “ dịu êm ”, “ ồn ào ” – “ lặng lẽ ” là những cặp trạng thái đối nghịch của hình tượng sóng nó gợi lên những trạng thái khác nhau khi yêu của hình tượng nhân vật em. Đây là những trạng thái đối nghịch nhưng lại thống nhất, hài hòa trong hình tượng sóng cũng như là trạng thái cảm hứng hình tượng nhân vật em. Không phải toàn bộ những yếu tố ngôn từ thơ đều có vai trò như nhau trong tính năng thẩm mĩ mà được phân biệt nhau theo đặc thù và mức độ tham gia vào việc tham gia vào việc diễn đạt hình tượng nghệ thuật và thẩm mỹ. Vai trò quyết định hành động trong việc diễn đạt hình tượng thẩm mỹ và nghệ thuật thuộc về những đơn vị chức năng ngôn từ thơ mà sự phức tạp công dụng của chúng trong tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ bộc lộ ở sự đổi khác nội dung khái niệm của chúng. Ví dụ đoạn trích Nước non ngàn dặm của Tố Hữu : Con thuyền rời bến sang Hiên Xuôi dòng sông Cái, ngược chiều sông Bung Chập chùng thác Lửa thác Chông Thác Dài, thác Khó, thác Ông, thác Bà Thác bao nhiêu thác cũng qua Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời. Từ “ thuyền ” trong câu thơ cuối là từ có sự đổi khác nội dung khái niệm. Do cách tích hợp độc lạ giữa “ chiếc thuyền ” ( chỉ sự vật đơn cử ) với “ trên đời ” ( khái niệm trừu tượng ) mà người đọc buộc phải chuyển sang bình diện nghĩa thứ hai. Đây là sự hiện thực hóa đồng thời hai ý nghĩa : ý nghĩa sự vật – logic ( chiếc thuyền ) với nghĩa hình tượng có tính ẩn dụ ( con đường cách mạng ) đã mang đến rung cảm thẩm mĩ của người đọc khi nhận được một nội dung thông tin mới lạ : lập trường, tư tưởng, tình cảm, thái độ vững vàng của tác giả so với cuộc hành trình dài vượt thác bằng thuyền trên con đường công tác làm việc trở ra Bắc cũng như con đường cách mạng mà tác giả đã lựa chọn. Sự biến đổi nội dung khái niệm từ “ thuyền ” trong ví dụ đã được chuẩn bị sẵn sàng bởi ngữ cảnh, chịu sự biến hóa ngữ nghĩa nhất định, ngoài nghĩa đen còn mang đặc trưng chung thực tại hóa do hiệu quả sử dụng. VD : Để diễn đạt cái kinh hoàng, nguy hại, dai dẳng, nguy hiểm, rùng rợn của thác nước, tác giả đã sử dụng việc hòn đảo từ láy “ chập chùng ” lên đầu câu, tiếp đó dùng phương pháp liệt kê một loạt tên thác : thác Lửa, thác Chông, thác Ông, thác Bà, thác Dà, thác Khó. Điệp từ “ thác ” 6 lần khiến cho cuộc hành trình dài có vẻ như ngày càng trắc trở. Việc láy từ thác khiến khổ thơ ngắt nhịp : T – B / ( T )

  • B(T) – B(T) – B/(T) – T/(T) – B(T) – B / với 8 thanh trắc trong đó 6 tiếng láy lại vị trí đầu khiến

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
hành trình vượt thác khó khăn hơn, hành trình gian nan không ngừng, không nghỉ được. Năm dòng
thơ đầu không trực tiếp diễn đạt quan điểm, thái độ của chủ thể tường thuật đối với hiện tượng miêu
tả trong thực tế song chúng tạo nên chỉnh thể thống thất: mức xuất phát, mở đầu rồi đi đến sự biến
chuyển nội dung khái niệm của từ vốn diễn đạt quan điểm, thái độ của tác giả với cái được miêu tả.
Như vậy trong việc biểu đạt hình tượng nghệ thuật, trong ngôn ngữ thơ có hai loại đơn vị:

  • Đơn vị ngôn ngữ có sự biến đổi nội dung khái niệm
  • Đơn vị ngôn ngữ diễn đạt cái đặc trưng chung được thực tại hóa trong ngữ cảnh.
    Tính hình tượng xuất hiện do kết quả của sự đối chiếu hai khái niệm hoặc do kết quả của sự thay
    thế một khái niệm này bằng một khái niệm khác. Phương tiện của tính hình tượng trong nghĩa hẹp
    là phương tiện tu từ và biện pháp tu từ. Tuy nhiên một số từ thông thường lại mang cá tính chủ thể
    tác giả và nhân vật trong tác phẩm thì chúng lại mang tính hình tượng

4. Tính đa nghĩa của ngôn ngữ thơ

Tính đa nghĩa của thơ không chỉ do yếu tố chủ quan của người tiếp nhận theo nguyên lý: tác phẩm
văn học = văn bản + người đọc. Tính đa nghĩa còn do đặc trưng của ngôn ngữ thơ.Quan điểm của
nhà thơ càng kín đáo bao nhiêu càng có lợi cho tác phẩm bấy nhiêu. Đặc trưng của tư tưởng nghệ
thuật là toát ra từ hình tượng, tình huống, chi tiết. Chúng kích thích, khêu gợi người đọc để họ tự rút
ra một tư tưởng nào đó. Tính mơ hồ, đa nghĩa của ngôn ngữ thơ tạo điều kiện cho người đọc đồng
sáng tạo. Tạ Trăn (đời Minh) từng phát biểu: “Thơ có chỗ có thể giải thích, có chỗ không thể giải
thích, có chỗ không cần giải thích như hoa dưới nước, trăng trong gương. Một nhà thi học đồng thời
là nhà thơ là Vương Sĩ Trinh cũng nói: “Thơ khó ở chỗ không giải thích được thì vô vị, giải thích
được thì hết vị”. Các nhà thơ trong nhóm Xuân Thu nhã tập quan niệm: “Thơ không phải lúc nào
cũng rõ nghĩa vì nó không chủ động trong địa hạt ý nghĩa; không phải lúc nào cũng sáng sủa vì nó
không vụ cái phần sáng sủa của tâm linh, nó giữ phần sâu kín, nó giữ phần sâu sắc”. Tính đa nghĩa
không phải là dấu hiệu non kém về nghệ thuật mà phải được xem là đặc trưng của ngôn ngữ thơ.
Một số hiện tượng thơ đã phải tốn rất nhiều giấy mực để tìm hiểu như “Tống biệt hành “(Thâm
Tâm),” Đây thôn Vĩ Dạ “”(Hàn Mặc Từ).
Ví dụ khổ thơ cuối trong bài “Tống biệt hành”:
Người đi, ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà xem như chiếc lá bay

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
thẩm mĩ. Tuy nhiên, do đặc trưng của thơ là tiếng nói trực tiếp của tình cảm, trái tim nên ngôn ngữ
thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt.

  • Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ chú trọng miêu tả cái khách quan như ngôn ngữ trong
    tác phẩm tự sự. Nếu nhà văn dùng ngôn ngữ để thuyết minh, miêu tả, nhắn nhủ, giải thích… thì nhà
    thơ dùng ngôn ngữ để truyền cảm. Khi Quang Dũng viết:
    “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
    Có nhớ dáng người trên độc mộc
    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
    Quang Dũng không có ý hỏi ai lên Châu Mộc trong buổi chiều sương nào đó có nhìn thấy phong
    cảnh hữu tình không mà tác giả khơi gợi trong ta nỗi nhớ thương mất mát, nuối tiếc ngậm ngùi,
    những ngày tháng, những kỷ niệm, những ảo ảnh đã tan biến trong đời… Quang Dũng gợi trong ta
    một trạng thái bằng cách hồi sinh những gì đã mất, đồng thời phản ánh tâm trạng của chính mình.
    Lời thơ thường là lời đánh giá trực tiếp thể hiện quan hệ của chủ thể với cuộc đời. Là lời đánh giá
    trực tiếp, thể hiện tâm trạng cho nên sự lựa chọn từ ngữ, phương thức tu từ trong thơ bao giờ cũng
    nhằm làm cho nội dung cảm xúc, thái độ đánh giá, sự đồng cảm hoặc phê phán, ca ngợi trở nên nổi
    bật:
    “Ôi những cánh đồng quê chảy máu
    Dây thép gai đâm nát trời chiều”
    (Nguyễn Đình Thi).
    Ở đây, mỗi câu thơ đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng của tình cảm. Những từ đó như là
    những tiêu điểm để ta nhìn thấu vào tâm hồn tác giả. Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ không chỉ
    biểu hiện qua cách lựa chọn từ ngữ, các phương thức tu từ mà còn biểu hiện qua nhạc điệu thơ.
    Chẳng hạn:
    “Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
    Đường bạch dương sương trắng nắng tràn.”
    (Tố Hữu).
    Sự tập trung dày đặc các nguyên âm có độ mở rộng và phụ âm mũi vang khiến câu thơ nghe giàu
    tính nhạc, kéo dài như âm vang của sóng biển vỗ bờ. Nhạc tính đó không đơn thuần là sự ngân nga
    của ngôn ngữ mà còn là khúc nhạc hát lên trong lòng người.

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
Tóm lại, thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi của sáng tạo văn học nghệ thuật. Vì vậy,
ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ mang tính nghệ thuật; ngôn ngữ thơ trước hết mang đầy đủ những thuộc
tính của ngôn ngữ văn học, đó là: tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính
biểu cảm… Tuy nhiên, ở mỗi loại tác phẩm khác nhau, những đặc điểm ấy lại biểu hiện dưới những
sắc thái và mức độ khác nhau. Đồng thời, mỗi loại tác phẩm lại có những đặc trưng ngôn ngữ
riêng…

5. Tính truyền cảm của ngôn ngữ thơ

6. Thơ trữ tình:

Thơ trữ tình phản ánh đời sống qua những rung động của tình cảm. Thế giới nội tâm của nhà thơ không chỉ bộc lộ bằng ý nghĩa của từ ngữ mà còn bằng cả âm thanh, nhịp điệu của từ ngữ ấy. Nếu như trong văn xuôi, những đặc tính thanh học của ngôn từ ( như cao độ, cường độ, trường độ … ) không được tổ chức triển khai thì trong thơ, trái lại, những đặc tính ấy lại được tổ chức triển khai một cách ngặt nghèo, có dụng ý, nhằm mục đích tăng hàm nghĩa cho từ ngữ, gợi ra những điều mà từ ngữ không nói hết. Bởi thế, đặc trưng tính nhạc được coi là đặc trưng đa phần mang tính loại biệt rõ nét của ngôn từ thơ ca .

6. Biểu hiện:

Theo các nhà nghiên cứu, nhạc tính trong thơ được thể hiện ra ở ba mặt cơ bản. Đó là: sự cân đối,
sự trầm bổng và sự trùng điệp:
“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”
(Nguyễn Bỉnh Khiêm)
6.2. Sự cân đối:
Sự cân đối là sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ. Sự hài hoà đó có thể là hình ảnh, là âm
thanh, chẳng hạn:
Cũng có thể là cách sắp xếp tổ chức mà chúng ta dễ dàng nhận thấy ở cặp câu thực, câu luận trong
bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú. Đối với thơ hiện đại, yêu cầu này không khắt khe. Tuy vậy,
nhà thơ vẫn hết sức chú ý đến hiệu quả nghệ thuật của phép đối xứng trong thơ của mình.
6.2. Sự trầm bổng
Sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ thể hiện ở cách hoà âm, ở sự thay đổi độ cao giữa hai nhóm thanh
điệu. Xuân Diệu với hai dòng thơ toàn vận dụng vần bằng đã biểu hiện được cảm xúc lâng lâng,
bay bổng theo tiếng đàn du dương, nhẹ êm:

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!

6. Nhạc tính của ngôn ngữ thơ

Đây là đặc thù chung của ngôn từ trong tác phẩm văn chương, nhưng do đặc trưng của thể loại mà nó biểu lộ một cách tập trung chuyên sâu với nhu yếu cao nhất trong ngôn từ thơ. Nếu ngôn từ văn xuôi tự sự là ngôn từ của đời sống đời thường, nó đồng ý mọi lớp từ, mọi biến thái, mọi chiều kích, thậm chí còn cả sự xô bồ, phồn tạp đến cực độ để tái hiện bộ mặt đời sống, tâm ý con người trong sự sâu rộng, đa chiều vốn có của nó thì ngôn từ thơ lại mang nặng tính ” đặc tuyển “. Là thể loại có một dung tích ngôn từ hạn chế nhất trong những loại tác phẩm văn học, nhưng thơ lại có tham vọng sở hữu quốc tế. Nói như Ôgiêrốp : ” Bài thơ là một lượng thông tin lớn nhất trong một diện tích quy hoạnh ngôn từ nhỏ nhất “. Chính sự hạn định số tiếng trong câu thơ, bài thơ buộc người nghệ sỹ phải ” thôi xao “, nghĩa là phải phát huy sự tư duy ngôn từ để lựa chọn từ ngữ cho tác phẩm. Bởi thế, Maiacôpxki gọi lao động nghệ thuật và thẩm mỹ ngôn từ của nhà thơ là ” trả chữ với với giá cắt cổ ” : ” Nhà thơ trả chữ với giá cắt cổ Như khai thác chất hiếm radium Lấy một gam phải mất hàng bao công lực Lấy một chữ phải mất hàng tấn quặng ngôn từ. “Như vậy, tính hàm súc được hiểu là năng lực của ngôn từ hoàn toàn có thể miêu tả mọi hiện tượng kỳ lạ của đời sống một cách cô đọng, ít lời mà nói được nhiều ý, ý tại ngôn ngoại. Đây chính là cách dùng từ sao cho đắt nhất, có giá trị biểu lộ cao nhất kiểu như Nguyễn Du đã ” giết chết ” những nhân vật Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Hồ Tôn Hiến, mỗi tên chỉ bằng một từ : cái vô học của Mã Giám Sinh : Ghế trên ngồi tót sỗ sàng ; cái gian manh của Sở Khanh : Rẽ tuy nhiên đã thấy Sở Khanh lẻn vào ; cái tầm thường ti tiện của Hồ Tôn Hiến : Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình. Do quy mô của tác phẩm, thơ ca thường sử dụng từ ngữ rất ” tiết kiệm ngân sách và chi phí “. Tính hàm súc của ngôn từ thơ, thế cho nên, tiềm ẩn những thuộc tính khác. Hàm súc cũng có nghĩa là phải đúng mực, giàu hình tượng, có tính truyền cảm và bộc lộ đậm chất ngầu của người nghệ sỹ. Chẳng hạn, từ ” khô ” trong câu thơ của Tản Đà : ” Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày ” là một từ có tính hàm súc cao mà những yếu tố tương tự với nó ( như ” tuôn ” ) không hề sửa chữa thay thế. Nó không chỉ diễn đạt được chiều sâu của tình cảm mà còn gợi lên cả chiều dài của những tháng năm chờ đón. Nó vừa bảo vệ được tính đúng chuẩn, tính hình tượng, vừa có tính truyền cảm .

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
Để đạt được tính hàm súc cao nhất, có thể biểu hiện được cái vô hạn của cuộc sống trong những cái
hữu hạn của các đơn vị ngôn ngữ, thơ ca phải tính đến những kiểu tổ chức đặc biệt mà nhà nghiên
cứu Phan Ngọc gọi là “quái đản”. Dưới áp lực của cấu trúc ngôn ngữ khác thường này, ngữ nghĩa
của từ trong thơ không dừng lại ở nghĩa gốc, nghĩa đen, nghĩa trong từ điển mà phong phú, sâu sắc,
tinh tế hơn. Đó là thứ nghĩa được tạo sinh nhờ quan hệ và trong quan hệ. Ví dụ: Khi Hồng Nguyên
viết: “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau” thì chính trong quan hệ với những yếu tố trước và sau
nó mà từ “đột kích” được cấp cho một nghĩa mới, gợi lên những rung động thẩm mỹ. Hay trong câu
thơ của Lâm Thị Mỹ Dạ: “Em đã lấy tình yêu của mình thắp lên ngọn lửa” thì sự kết hợp bất thường
về nghĩa đã mở ra những liên tưởng hết sức thú vị. Trong đời thường, khi nói đến việc “thắp lửa”,
người ta một là nghĩ đến phương tiện như: cái bật lửa, que diêm … hai là nguyên liệu như: dầu hoả,
dầu dừa … Ở đây, nhà thơ lại thay nó bằng một “chất liệu” rất trừu tượng thuộc lĩnh vực tinh thần.
Và trong quan hệ với cái chất liệu trừu tượng đó, nghĩa bề mặt của “ngọn lửa” bị mờ đi, mở ra
những nghĩa mới. Đó là: chân lý, niềm tin, lý tưởng cuộc đời…
Định lượng số tiếng trong thơ cũng là tiền đề tạo ra sự xuất hiện với một mật độ dày đặc các
phương tiện nghệ thuật trong thơ so với văn xuôi. Nhiều lúc, trong một bài thơ, có thể thấy xuất
hiện cùng một lúc các phương tiện tu từ khác nhau, như ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, tượng trưng, điệp
từ, điệp ngữ. Bài ca dao trữ tình sau đây là một ví dụ:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Khăn vắt lên vai
Đèn thương nhơ ai
Mà đèn không tắt
Mắt thương nhớ ai
Mắt ngủ không yên
Đêm qua em những lo phiền
Lo vì một nỗi không yên một bề.”
Bài ca dao có số lượng từ không nhiều nhưng bằng các biện pháp tu từ đã thể hiện được tâm trạng
khắc khoải nhớ mong của người con gái dường như còn vang mãi, dư âm đến tận bây giờ và cả mai
sau, không chỉ của một người mà của nhiều người.

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
tác phẩm. Mùa xuân cánh én bay lượn trên bầu trời, mùa xuân người người nhà nhà nô nức dọn
dẹp, mua sắm dịp Tết, mùa xuân muôn hoa đua nở thắm sắc đất trời nhưng mùa xuân của Thanh
Hải nho nhỏ, gói gọn trong phòng bệnh ngắm nhìn thế giới này. Ông ước mong mình có thể hóa
thành một tiếng chim, một cành hoa hay chỉ đơn giản là một nốt nhạc trầm xao xuyến để nhập vào
bản hoà ca chung của dân tộc mà thôi

  • Mong ước mà Thanh Hải gửi gắm trong mỗi một vần thơ chỉ đơn giản là hy vọng mỗi con người
    dù trẻ hay già, suốt cả cuộc đời đều nên cống hiến cho cộng đồng, dù đó chỉ là sự cống hiến nhỏ bé,
    bình dị nhưng xuất phát từ tình cảm tự nguyện và chân thành.
    => Tính đa nghĩa của bài thơ hiện lên không phải là ở phần minh của tâm hồn, của câu từ mà đến từ
    phần cảm nhận sâu lắng, từ phần lặng lẽ suy ngẫm, từ phần tĩnh lặng nhấm nháp ý nghĩa của mỗi
    một độc giả
  • Bên cạnh quan niệm thơ thì ngôn từ văn học cũng là nơi lắng đọng chiều sâu của tác phẩm
  • Trong “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, ngôn từ vẽ nên bức tranh mùa xuân ấm áp, hân hoan,
    hạnh phúc đối với mỗi một công dân Việt khi đất nước đang hồi sinh kể cả đối với một người mắc
    bệnh hiểm nghèo như ông. Nhưng bên cạnh đó, bài thơ còn là một khúc hát ca ngợi đất nước và có
    lẽ cũng là một lời ước nguyện của bản thân sau khi luân hồi chuyển thế, trở thành một viên gạch
    đóng góp vào công trình dựng xây đất nước.
  • Ngoài ra, mỗi một từ ngữ trong “Mùa xuân nho nhỏ” đều đã trải qua sự chau chuốt, khảo nghiệm,
    lựa chọn tinh tế của Thanh Hải để ngữ nghĩa bài thơ không chỉ tạo ra giá trị biểu hiện của hạnh
    phúc, của tương lai tươi sáng cùng những giá trị khác đong đầy dư vị chua cay mặn ngọt từ chính
    nhân sinh của nhà thơ.
  1. Bài thơ hay có tính truyền cảm:
  • Đến với “Mùa xuân nho nhỏ”, ngôn từ không dừng lại ở việc miêu tả cảnh đẹp quê hương đất
    nước như những ngôn từ khác trong các tác phẩm tự sự mà nó còn được sử dụng làm chất liệu
    truyền cảm.
  • Thanh Hải không đơn thuần chỉ phác họa bức tranh thiên nhiên mùa xuân với không gian rộng
    lớn, với âm thanh rộn rã của chim chiền chiện, với mùa xanh của dòng sông mộng mơ hay là bông
    hoa tím biếc xinh xắn mà là thăng hoa lên trong xúc động đưa tay ra hứng lấy giọt sương sớm của
    đất nước, là ngây ngất trước vẻ đẹp của mùa xuân của thiên nhiên, là khao khát hòa mình với thiên
    nhiên đất trời.

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!

  • Đồng thời, vần thơ sinh động như reo vui trước tinh thần lao động khẩn trương của con người làm
    nên mùa xuân của đất nước, như hát vang ca khúc tự hào về bốn nghìn năm đất nước chiến đấu giữ
    vững độc lập dân tộc và thể hiện niềm tin vào tương lai tươi đẹp của đất nước mai sau.
  1. Bài thơ hay có tính nhạc:
  • Tính cân đối hiện lên trong sự tương xứng hài hoà giữa các dòng thơ, là sự hòa quyện giữa âm
    thanh và hình ảnh
  • Thể hiện ở nghệ thuật đảo cú pháp: giữa bầu trời không gian cao rộng kết hợp với màu sắc tươi
    sáng và âm thanh rộn ràng mời gọi, níu giữ con người hãy đắm mình, hãy tận hưởng thời khắc tươi
    đẹp này.
  • Tính trùng điệp như một phương tiện kết dính các dòng thơ lại với nhau thành một đơn vị thống
    nhất, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho trí nhớ vừa tạo nên vẻ đẹp trùng điệp cho bài thơ “Mùa xuân
    nho nhỏ”
  • Thể hiện ở nghệ thuật điệp cấu trúc, từ láy tựa như đất nước này, thời đại này đang reo hò trước
    tinh thần lao động, trước nỗ lực cống hiến, trước nhịp điệu khẩn trương của con người đã và đang
    làm nên mùa xuân của đất nước
  • Thể hiện ở biện pháp tu từ hoán dụ tựa như một câu chuyện về chàng trai ở tuổi hai mươi với
    khang nhiệt huyết cống hiến vì xã hội, vì đất nước mãi cho đến khi tóc bạc, mãi đến khi về hưu vẫn
    cháy bỏng hy vọng tìm kiếm người nối nghiệp, nỗ lực cống hiến cho đất nước cho đến tận giây phút
    cuối cùng.
    => Một bài thơ mang theo bao khung bậc cảm xúc từ hân hoan ấm áp đến trầm lắng tang thương,
    lái chuyến tàu ước nguyện, đưa mọi thế hệ người dân Việt trải nghiệm vùng đất hình chữ S tươi
    đẹp, ươm mầm cho hạt giống yêu đất nước, yêu đồng bào trong sâu thẳm linh hồn con người.
  1. Bài thơ hay là một quan niệm về chân – thiện – mỹ:
  • Nét chân thực trong thi phẩm Mùa xuân nho nhỏ:
  • Bản chất của mọi tác phẩm văn chương đều phải chân thực, phản ánh được bàn chất, chân lý của
    cuộc sống.
  • Mùa xuân nho nhỏ đã lột tả được hiện thực đầy ắp hy vọng của mỗi công dân Việt trong công
    cuộc dựng xây đất nước trong thời kỳ mới. Đồng thời nó nói lên tiếng lòng mong muốn được cống
    hiến tuổi trẻ, cống hiến sức mình cho xã hội dù bản thân đang ở trong trạng thái nào

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!

  • “Người thơ” chính là tác gia, tác giả, là cuộc đời, là nhân sinh, là thế giới quan của con người về lẽ
    sống và nghệ thuật của chính họ.
  • “Người thơ” chính là chủ thể của nhân vật trữ tình, tạo ra phong cách riêng của bài thơ ấy, tạo ra
    “thần vận” của thi phẩm nhằm bộc lộ tâm tư tình cảm của mình.
  • Tác giả cũng như chính thơ ca mà họ đã sáng tác ra bởi ở trong thi phẩm ấy luôn lúc ẩn lúc hiện
    hình bóng của người thi sĩ và đồng thời cũng là nơi mà họ giãi bày tâm sự, bộc lộ tình cảm sâu kín
    mà họ cất giấu.
  • Mỗi một bài thơ đều có linh hồn riêng, đều mang theo phong cách, thần vận của riêng mình như
    một lời tuyên thệ của tác giả với đứa con tinh thần của mình.
    => Khẳng định mối quan hệ giữa tác giả – chủ thể nhân vật trữ tình trong quá trình sáng tạo ra
    những thi phẩm đặc sắc, giàu tính thẩm mỹ và nghệ thuật. Hay nói đơn giản hơn thì nhà thơ phải có
    cá tính, phải có phong cách sáng tạo, mới mẻ thì mới có thề sáng tác ra được những vần thơ mang
    đậm dấu ấn nhân sinh quan và vẻ đẹp thẩm thấu đến trong linh hồn của mỗi một độc giả.

    1. Bàn luận bài thơ “Truyện Kiều” liên hệ với lời nhận định:
    2. Nhân vật Thúy Kiều:
  • Tài sắc gắn liền với số phận đầy chông gai:
  • Là nhân vật trữ tình tuyệt sắc giai nhân, minh diễm động lòng người đến nỗi “hoa ghen thua
    thắm, liễu hờn kém xanh” tựa như sự ghen tuông của những người thiếu nữ, phụ nhân khác khi đối
    mặt với nàng Kiều
  • Đâu chỉ là mỗi vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành làm điêu đứng bao nhiêu tâm hồn của chàng
    trai, cô gái thì Kiều càng sắc sảo hơn với bốn nghệ cầm kỳ thi họa khiến người người nhà nhà phải
    nao nức, xót xa nỗi lòng khi nghe tiếng cầm của nàng. Chẳng lẽ tiếng cầm như tiếng lòng, như vận
    mệnh ám chỉ cho số phận gian truân sắp sửa ập đến?
    => Kiều đẹp là vậy, tài năng là vậy nhưng mỗi một vẻ đẹp, mỗi một tài năng phải chăng tựa như
    mỗi một nữ tử chốn phong trần thời xưa? Dựa vào dung mạo lấy lòng người khác, dựa vào cầm kỹ
    mua vui cho những kẻ háo sắc?
  • Nếu Kiều đẹp là thế nhưng bản thân tinh thông sách lược, bày binh bố trận thì có lẽ số phận của
    Kiều sẽ rẽ sang một hướng khác? Nếu Kiều tinh thông cầm kỳ thi họa nhưng bản thân lại sở hữu
    dung mạo bình bình phàm phàm thì có lẽ số phận của Kiều sẽ rẽ sang một hướng khác? Có lẽ ngay

BQT box Ng ữ Văn sưu tầm & biên soạn Truy cập diendan.hocmai để tải nhiều tài liệu hơn!
từ chính cái đẹp, cái tài của nàng Kiều đã nói lên số phận bi thương, chìm nổi của người con gái
đương độ xuân sắc ấy rồi.
=> Chính cách sống của Kiều đã làm nên cuộc đời Kiều. Và chính bản thân Kiều với dung mạo, với
tài năng ấy đã tạo nên nhân sinh bi thương trong 10 năm dài đằng đẵng.

  • Tâm tư thầm kín và lựa chọn sai lầm đầy nước mắt:
  • Thân là trưởng tỷ, Kiều phải bán mình chuộc cha, làm tròn đạo hiếu. Bởi vậy nên nàng tự tay
    đoạn đi dây tơ hồng giữa nàng và chàng Kim rồi lựa chọn cậy nhờ Thúy Vân trao gửi lời hẹn ước
    như một lời từ biệt, như một khúc dạo đầu cho một tương lai đau thương, nhuộm đầy nước mắt.
  • Thân là thê tử với Từ Hải nhưng nàng đồng thời hiểu rõ lòng mang nghiệp lớn của phu quân nên
    nàng lựa chọn ủng hộ tinh thần dấn thân vào chiến trường, bảo hộ xã tắc, để lại bản thân cô đơn lẻ
    bóng nơi khuê phòng. Và rồi cũng bởi quá lo lắng cho chàng mà Thúy Kiều bị tên tham quan lừa
    gạt, hại chết chính phu quân của nàng còn bản thân thì một lần nữa chịu nhục nhã hầu rượu rồi lại
    như vật phẩm dâng cho người ta.
    => Cuộc đời Kiều gắn liền với những quyết định mang tính chất vận mệnh nhưng dù đã trải qua bao
    phen sóng gió thì Kiều vẫn giữ vẹn nguyên nét ngây ngô năm nào và đồng thời một bước lại một
    bước khiến bản thân mình lún sâu vào bùn lầy đen tối trong xã hội đầy mưu mô, cạm bẫy ấy.
    ==> Mỗi vần thơ là một cuộc đời, là một câu chuyện được cải biên nhưng đồng thời nó lại hiện lên
    nét chân thực nhất cũng như ẩn sâu trong đó là nỗi lòng, là tâm tư thầm kín mong được bày tỏ với
    một ai đó trong cuộc đời này.

    1. Phong cách sáng tác của đại thi hào Nguyễn Du:
  • Thời đại mà Nguyễn Du sinh ra là vào cuộc chuyển biến quan trọng nhất trong lịch sử nước nhà
    khi chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng trầm trọng, một thời kỳ đen tối trong lịch sử đất
    nước khi phong trào nông dân khởi nghĩa nổi lên khắp nơi và đỉnh điểm là phong trào Tây Sơn.
    Vào thời điểm này, sinh mệnh con người tựa cỏ rác, tham quan nổi lên khắp nơi, những cuộc phán
    xét, hành quyết dựa theo ai giàu thì lý lẽ thuộc về người đó.
  • Chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc biến động này nên Nguyễn Du đã phải phiêu bạt nhiều năm
    trên đất Bắc, đi nhiều, tiếp xúc nhiều đã tạo cho ông vốn sống phong phú và niềm thông cảm sâu
    sắc với những đau khổ của nhân dân để rồi sáng tác nên thi phẩm Truyện Kiều với nàng Kiều mang
    theo những nỗi đau đớn hủy hoại đời người, với những cuộc chia ly tiễn biệt một đi không trở về,
    với những âm mưu xấu xí, ghê tởm của những kẻ đội lốt da người.

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập