Xây dựng chuyên đề dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử lớp 8 – Tài liệu text

Xây dựng chuyên đề dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử lớp 8

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (128.9 KB, 14 trang )

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số:………………………….…………………………..…………
1. Tên sáng kiến: “ Xây dựng chuyên đề dạy bồi dưỡng học sinh giỏi lịch sử
lớp 8 ”.
2. Lĩnh vực áp dụng: Chuyên môn giảng dạy.
3. Mô tả bản chất sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện
đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”
Trong hoạt động giảng dạy nói chung và công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng
tại các trường trung học cơ sở hiện nay vấn đề dạy học theo định hướng phát triển năng
lực học sinh đòi hỏi người giáo viên phải có sự đổi mới nội dung, phương pháp dạy học.
Đặc biệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử lớp 8 giáo viên gặp rất nhiều
khó khăn lúng túng như:
– Nội dung chương trình lịch sử 8 khá khô khan do lượng kiến thức lịch sử thế giới
khá nhiều ( chiếm 2/3 lượng kiến thức của khối lớp), trong khi tư liệu để tìm hiểu về phần
lịch sử thế giới rất hạn chế; đồng thời đây lại là giai đoạn lịch sử thế giới cận đại thì tài
liệu tham khảo cho giáo viên và cả học sinh càng khan hiếm hơn.
– Nhiều học sinh còn thụ động trong học tập, máy móc trong tiếp thu kiến thức. Khả
năng tổng hợp, trình bày kiến thức, vận dụng kiến thức giải quyết những vấn đề mang
tính thực tiễn…của học sinh còn nhiều hạn chế.

1

– Giáo viên chưa chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy, ít thay đổi trong việc
xây dựng bài tập phát triển nhận thức, năng lực học sinh. Đa phần giáo viên chỉ dạy một
cách ôm đồm theo sách giáo khoa, chưa phát huy khả năng tích cực, sáng tạo ở học sinh.
– Hệ thống kiến thức trong sách giáo khoa còn rời rạc nhiều mảng, học sinh rất
lúng túng khi giải quyết những bài tập nhận thức mang tính khái quát hóa, tổng hợp cao.
Kĩ năng xâu chuổi các kiến thức của học sinh còn rất hạn chế; đồng thời nếu giáo viên
không có sự chủ động chuẩn bị ngay từ trong kế hoạch dạy bồi dưỡng cũng sẽ gặp lúng
túng về phương pháp hướng dẫn học sinh rèn những dạng bài tập này.
Vì thế, việc xây dựng chuyên đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử là rất
cần thiết.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến
3.2.1. Mục đích của giải pháp
– Góp phần nâng cao tay nghề cho bản thân và giáo viên của tổ trong công tác bồi
dưỡng học sinh giỏi. Giúp giáo viên khắc phục những khó khăn, tạo sự thống nhất về nội
dung, phương pháp giảng dạy, rèn kĩ năng học bộ môn cho học sinh khi tham gia dạy bồi
dưỡng.
– Giúp đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của trường nắm vững kiến thức căn
bản, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập. Từng bước xây dựng cho học sinh
phương pháp học tập, làm bài, nhất là rèn kĩ năng tự phát triển năng lực nghiên cứu ở
môn Lịch sử lớp 8 qua các chuyên đề nhằm đạt kết quả cao trong các kì thi tuyển học
sinh giỏi các cấp.
– Nhằm thu hút học sinh và tạo sự hứng thú say mê cho các em trong đội tuyển bộ
môn lịch sử của trường. Từ đó duy trì một cách bền vững về số lượng học sinh tham gia
học bồi dưỡng và chất lượng học sinh đạt giải trong các kì thi.
– Tạo nguồn cho đội học sinh bồi dưỡng lớp 9 của trường đảm bảo vế số lượng và
chất lượng.
3.2.2. Nội dung giải pháp

2

* Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp
– Sắp xếp chương trình dạy bồi dưỡng theo từng chuyên đề.
– Kiến thức tách rời nhau trong từng bài như sách giáo khoa, học sinh sẽ rất lúng
túng khi vận dụng để làm các bài tập để rèn kĩ năng khái quát hóa, hệ thống hóa; hoặc so
sánh, phân tích các sự kiện lịch sử với nhau. Do đó giáo viên chịu khó sắp xếp lại kiến
thức theo từng chủ đề, học sinh rất dễ dàng thực hiện tốt kĩ năng bộ môn, nhạy bén hơn
trong quá trình phân tích yêu cầu của bài tập; hứng thú hơn trong quá trình học bồi dưỡng.
– Trong mỗi chuyên đề kiến thức cũng được sắp xếp theo một hệ thống, bật trọng
tâm, tránh kiểu dạy lan man, kiến thức ôm đồm.
– Xâu chuỗi kiến thức lịch sử thế giới cận đại và hiện đại; tìm mối liên hệ giữa các
sự kiện lịch sử giữa hai thời kì này
* Mô tả chi tiết bản chất của giải pháp
1 Xây dựng hệ thống chuyên đề
– Trong từng chuyên đề bồi dưỡng tôi xác định các mốc thời gian của những sự
kiện trung tâm và định hướng cho học sinh những câu hỏi có thể gặp hoặc những vấn đề
có liên quan để các em có cơ sở tự học thêm ở nhà;
– Cách làm nầy tuy phải đầu tư nhiều công sức và thời gian, nhưng thực tế qua
bước nghiên cứu, sắp xếp mà bản thân tôi đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm để phát
triển năng lực chuyên môn. Học sinh theo cách hướng dẫn nầy đã biết tự học và nắm
vững hệ thống kiến thức bài học.
– Căn cứ vào mục tiêu giáo dục môn lịch sử khối lớp 8 để xây dựng thành các
chuyên đề phù hợp. Có thể chia thành các chuyên đề như sau:
* Lịch sử thế giới:
1- Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới.
2- Các hình thức cách mạng tư sản trên thế giới.
3- Phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới thời cận đại, hiện đại.

3

4- Hai cuộc chiến tranh thế giới.
5- Phong trào công nhân và sự ra đời của Chủ nghĩa mac
6- Công xã Pari
7- Cách mạng Nga
8- Các nước Đế Quốc tiêu biểu.
9- Sự phát triển của khoa học, kĩ thuật, văn hóa thế giới.
* Lịch sử Việt Nam:
1- Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược 1858- 1884
2- Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược 1884- cuối thế kỉ XIX
3- Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Thực dân Pháp
4- Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỉ XX
5 – Các phong trào Duy tân đất nước.
Thứ hai: Xây dựng các dạng bài tập theo chuyên đề.
– Trong mỗi chuyên đề, giáo viên định hướng cho học sinh những câu hỏi có thể
gặp hoặc những vấn đề có liên quan, yêu cầu học sinh tự lập dàn ý cho từng câu (với
những câu hỏi đơn giản có thể cho học sinh trình bày miệng để kiểm tra trình độ nhận
thức của các em). Đây là biện pháp giúp tự nghiên cứu tìm cách giải quyết và tự phát triển
năng lực tự học.
– Căn cứ vào từng chuyên đề giáo viên hình thành nên những bài tập phát triển
năng lực, hướng dẫn học sinh phân tích đề, lựa chọn đúng kiến thức, lập dàn ý cho từng
dạng đề để tránh làm lệch yêu cầu của đề. Mặt khác công việc này sẽ góp phần phát huy
tính tự học, khả năng sáng tạo và tận dụng được thời gian học tập ở nhà của học sinh.
Sau đây là một số ví dụ câu hỏi phát triển năng lực trong các chuyên đề:
Ví dụ 1 : Hãy đánh giá ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ
XVIII?
* Định hướng trả lời: ( chuyên đề 1 STG)

4

Cách mạng tư sản Pháp đã lật đổ được chế độ PK, đưa giai cấp tư sản lên cầm quyền,
xóa bỏ nhiều trở ngại trên con đường phát triển của CNTB. Quần chúng nhân dân là lực
lượng chủ yếu đưa cách mạng đạt tới đỉnh cao của nền chuyên chính dân chủ Gia-cô-banh.
Tuy Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII được coi là cuộc cách mạng tư sản triệt
để nhất, nhưng nó vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ quyền lợi cho nhân dân, vẫn không hoàn
toàn xóa bỏ được chế độ PK, chỉ có giai cấp tư sản là được hưởng lợi.
+ Ý nghĩa lịch sử của các cuộc CMTS đầu tiên:
– Xác lập sự thắng lợi của CNTB đối với chế độ phong kiến:
Đó là sự thắng lợi của giai cấp Tư sản, đại diện cho nền sản xuất mới, phương thức sản
xuất TBCN đang đứng ở vị trí tiên phong, tiến bộ hơn hẳn giai cấp Địa chủ, Phong kiến, đại diện
cho nền sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời lạc hậu (dẫn chứng…).
– Tạo điều kiện mở đường cho nền sản xuất mới TBCN phát triển (dẫn chứng).
– Thể hiện vai trò của quần chúng nhân dân ( là lực lượng ủng hộ tham gia và quyết định
thắng lợi của cách mạng…dẫn chứng )
+ Là những cuộc cách mạng không triệt để, thể hiện CNTB có mặt tiến bộ nhưng cũng
có những hạn chế :
– Chưa đáp ứng đầy đủ quyền lợi của quần chúng nhân dân (dẫn chứng).
– Không hoàn toàn xoá bỏ chế độ bóc lột phong kiến, mà chỉ thay thế hình thức bóc lột
này bằng hình thức bóc lột khác (dẫn chứng).
– Thậm chí giai cấp tư sản ở một số nước còn thể hiện sự thoả hiệp với phong kiến (dẫn
chứng).
Ví dụ 2: Tại sao có thể nói: “Đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản đã xác
lập và thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới”?
* Định hướng trả lời: ( chuyên đề 1 STG)
+ Những cuộc CMTS tiếp tục nổ ra ở khu vực Mĩ La-tinh và châu Âu trong tế kỉ
XIX:
– Do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế TBCN, cộng với những tác động từ cuộc
Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, Cách mạng tư sản Pháp cuối thế
kỉ XVIII, nhân dân các nước thuộc địa ở khu vực Mĩ La-tinh đã nổi dậy đấu tranh lật đổ ách

5

thống trị của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, giành chính quyền về tay mình, thành
lập hàng loạt quốc gia tư sản như Cô-lôm-bi-a, Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Vê-nê-xu-lê-a,…
– Ở châu Âu, tháng 7 – 1830, phong trào cách mạng tư sản lại tiếp tục nổ ra ở Pháp, sau đó
nhanh chóng lan ra các nước Bỉ, Đức, I-ta-li-a, Ba Lan,… làm rung chuyển chế độ PK châu Âu và đế
quốc Áo – Hung.
– Ở I-ta-li-a, từ năm 1859 đến năm 1870, dưới sự lãnh đạo của quý tộc tư sản hóa, đại
diện là Ca-vua, sau đó là người anh hùng dân tộc Ga-ri-ban-đi, các vương quốc ở I-ta-li-a đã
thoát khỏi sự thống trị của đế quốc Áo và thống nhất vương quốc I-ta-li-a, mở đường cho
CNTB phát triển.
– Ở Đức, từ năm 1864 đến năm 1871, giai cấp tư sản và quý tộc quân phiệt Phổ – đại diện là
Bi-xmác đã lãnh đạo nhân dân tiến hành công cuộc thống nhất, đưa nước Đức phát triển theo con
đường TBCN.
– Ở Nga, năm 1861, Nga hoàng A-lếch-xan-đrơ II đã ban bố “Sắc lệnh giải phóng nông
nô”, nhờ đó tạo thêm nguồn nhân công cho nền sản xuất tư bản, giúp Nga sớm chuyển sang
CNTB.
+ Sự bành trướng của các nước TB ở các nước Á. Phi:
– Từ khi tiến hành cách mạng công nghiệp, nhu cầu về nguyên liệu, thị trường của các
nước tư bản (nhất là Anh và Pháp) trở nên cấp thiết, khiến chính phủ tư sản các nước này đẩy
mạnh việc xâm lược đối với phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc và khu vực Đông
Nam Á.
– Tại châu Phi, các nước Anh, Pháp, Đức, I-ta-li-a, Bỉ,… cũng ráo riết đẩy mạnh xâu xé,
biến toàn bộ châu lục này thành thuộc địa của mình.
– Kết quả, cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, hầu hết các nước ở châu Á, châu Phi đều trở
thành thuộc địa hoặc phụ thuộc của chủ nghĩa thực dân phương Tây.
+ Kết luận:
Như vậy là, trong thế kỉ XIX, ở khu vực Mĩ La-tinh và châu Âu đã tiếp tục nổ ra các cuộc

cách mạng tư sản, khiến hầu hết các nước này đều giành được độc lập và phát triển đi lên theo
con đường TBCN. Cùng đó, trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã diễn ra quá trình
bành trướng xâm lược để giải quyết vấn đề nguyên liệu, thị trường của các nước tư bản đối với

6

các nước Á, Phi. Từ hai nội dung trên, ta có thể kết luận: “Đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX,
chủ nghĩa tư bản đã xác lập và thắng lợi trên phạm vi tồn thế giới”.
Ví dụ 3 : Ngun nhân và hình thức đấu tranh buổi đầu của giai cấp cơng nhân Âu –
Mĩ cuối thế kỉ XIX? Vì sao giới chủ lại thích sử dụng lao động là trẻ em?
* Định hướng trả lời: ( chun đề 5 STG)
* Ngun nhân
– Cùng với sự phát triển của cơng nghiệp, giai cấp cơng nhân sớm ra đời nhưng bị tư sản
bốc lột nặng nề: làm việc từ 14-16 tiếng mỗi ngày, trong điều kiện lao động vất vả để
nhận đồng lương chết đói. Đàn bà, trẻ em cũng phải làm việc nặng, lương thấp hơn đàn
ơng. Điều kiện ăn ờ rất tồi tàn
– Phụ nữ và trẻ em cũng bị bốc lột nặng nề
* Hình thức đấu tranh
– Hình thức đấu tranh ban đầu là đập phá máy mó, đốt cơng xưởng. Cuộc đấu tranh nổ ra
ở Anh sau đó lan ra ở Anh sau đó lan ra Pháp, Đức, Bỉ
– Đầu TK XIX, phong trào bãi cơng đòi tăng lương, giảm giờ làm diễn ra sơi nổi ở Đức,
Pháp, Bỉ. Cơng nhân đã thành lập các cơng đồn để đấu tranh
* Giới chủ thích sử dụng lao động là trẻ em vì: Trẻ em làm việc nặng bằng người lớn;
Khơng có khả năng phản kháng, dễ bắt nạt, dụ dỗ; Trả lương thấp hơn người lớn
Ví dụ 4: Ngun nhân? Kết cục? tính chất của chiến tranh thế giới thứ nhất? Qua đó
em có suy nghĩ gì về chiến tranh?
* Định hướng trả lời: ( chun đề 4 STG)
* Ngun nhân chiến tranh
-Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX các nước đế quốc phát triển

không đồøáng đều nên mâu thuẩn nhau. dẫn đến các cuộc
chiến tranh đầu tiên: Chiến tranh Mó- TBN ( 1898); Chiến tranh
Anh- Bô-ơ (1899-1902); Chiến tranh Nga-Nhật ( 1904-1905)
-Tạo nên hai khối đối lập: Khối Liên Minh: Đức, o, Hung.
(1882); Khối Hiệp Ước: Anh, Pháp ,Nga.(1907)
Chạy đua vũ trang, phát động chiến tranh chia lại thế giới.

7

* Kết cục chiến tranh thế giới lần 1
-Hậu quả: Gây nhiều tai họa cho nhân loại: 10 triệu người
chết, 20 triệu người bò thương. Cơ sở vật chất bò tàn phá
nghiêm trọng, gây đau thương cho nhân loại.
– Đem lại lợi ích cho các nước thắng trận, nhất là Mó, Bản đồ
thế giới bò phân chia lại: Đức mất hết thuộc đòa, Anh, Pháp,
Mó mở rộng thuộc đòa
-Phong trào c/m thế giơiù càng phát triển mạnh, đặc biệt là sự
bùng nổ của c/m tháng 10/1917.

* Tính chất: Đây là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghóa
đối với cả hai bên tham chiến
* Suy nghĩ: ( HS tự bọc lộ:
+Chiến tranh đem lại đau thương tang tóc cho các phe tham chiến, nhân dân lao động
là người gánh chịu hậu quả đó
+ Chiến tranh tàn phá cơ sở vật chất, mơi trường sống…. do đó chúng ta phải lên án
chiến tranh, chống chiến tranh, bảo vệ hòa bình…
+…..)
Ví dụ 5: So sánh ngun nhân, tính chất, kết cục của chiến tranh thế giới lần
thứ nhất ( 1914-1918)với chiến tranh thế giới lần thứ hai ( 1939-1945). Qua đó em

có nhận xét gì?
* Định hướng trả lời: ( chun đề 4 STG)
* Giống nhau:
– Đều xuất phát từ mục đích tranh giành thuộc địa, thị trường giữa các nước Đế
Quốc
– Tính chất lúc đầu khi phát đơng đều mang tính Đế quốc pi nghĩa đối với cả hai
phe tham chiến
– Hậu quả đều tàn phá nghiêm trọng cơ sở vật chất, sinh mạng con người; nhân dân
lao động phải gánh chịu hậu quả nặng nề đó.
– Các nước phát động chiến tranh đều là nước thua trận
-….

8

* Khác nhau: ( Lập bảng theo nội dung skg: nguyên nhân; tính chất; kết cục)
* Nhận xét:
– Chiến tranh đều gây đau thương tang tóc cho nhân loại
– Tính chất của chiến tranh thế giới thứ hai có thay đổi khi Liên Xô tham chiến
– Hậu quả chiến tranh thế giới thứ hai thiệt hại gấp 10 lần so chiến tranh thế giới
thứ nhất
– Chiến tranh thế giới thứ hai lôi kéo nhiều nước tham chiến hơn, mức độ ác liệt
hơn, tàn phá hủy diệt nẵng nề hơn chiến tranh thế giới thứ nhất
-…
3. Xây dựng kế hoạch dạy học cho từng chuyên đề
– Dựa trên hệ thống chuyên đề xây dựng, giáo viên tổ chuyên môn cùng thống
nhất và đề xuất phương pháp để giáo viên tiến hành bồi dưỡng. Qua đó, giúp học sinh
nắm chắc kiến thức cơ bản, rèn các năng lực phù hợp với đặc trưng bộ môn, với khả năng
học tập của học sinh…
– Từ đó định hướng năng lực chung và năng lực chuyên biệt cần được hình thành

cho học sinh như: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, tái hiện kiến thức, đánh giá
sự kiện lịch sử…
– Trên cơ sở hệ thống chuyên đề xây dựng, giáo viên thiết lập kế hoạch giảng dạy
phù hợp với từng chuyên đề và trình độ học sinh. Trong quá trình thực hiện, cần có sự
điều chỉnh cho phù hợp với nhiệm vụ được phân công theo thời gian.
Ví dụ: Chuyên đề “Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược 18581884”
A/ MỤC TIÊU BÀI HỌC
1. Về kiến thức:
– Nguyên nhân và tiến trình xâm lược Việt Nam của tư bản Pháp từ năm 1958.
– Các phong trào chống Pháp tiêu biểu
– Những nội dung cơ bản của các hiệp ước triều Nguyễn kí với thực dân Pháp.
2. Về kỹ năng:

9

– Phân tích các sự kiện lịch sử tiêu biểu, chứng minh nhận định về sự kiện lịch sử.
– Rèn cho học sinh kĩ năng lập luận, giải thích, so sánh, nhận xét và tự lập bảng thống kê
các phong trào khởi nghĩa tiêu biểu trong giai đoạn từ 1858 đến 1984.
B/ THỜI LƯỢNG THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ: 4TIẾT
C/ TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN
Biện pháp

Nội dung

thực hiện
– HS làm

GV : yêu cầu học sinh cùng điểm qua các sự kiện lớn của giai đoạn từ 1858

việc cá nhân

đến 1884

-Rèn kĩ năng

Câu 1: Nguyên nhân Thực dân Pháp xâm lược nước ta?Vì sao Pháp

PT

chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiên vào nước ta?( Tích hợp Địa
Lí: ĐKTN nước ta)
* Định hướng trả lời:
– Nguyên nhân: SGK
– Đà Nẵng rộng, dân cư đông đúc, giàu có.
– Cửa biển sâu kín gió  tàu chiến của Pháp sẽ dễ dàng hoạt động.
– Gần kinh thành Huế  lấy Đà nẵng làm bàn đạp tấn công triều đình nhà
Nguyễn.

HS

làm Câu 2: Lập bảng thống kê các phong trào chống Pháp xâm lược từ 1858việc cá nhân 1884
– Rèn KN lập * Định hướng trả lời:
bảng thống
Thời gian
Sự kiện
Người lãnh đạo
1858

Chiến
sự

Đà
Nẵng
Nguyễn
Tri Phương

1859
Chiến sự ở Gia Định
Nguyễn Tri Phương
1863-1864 Khởi nghĩa của Trương Trương Định
1861

Định ở Gò Công
Đốt cháy tàu Et-pê-răng Nguyễn Trung Trực
của Pháp trên Sông Nhật

1873

Tảo
Trận Cầu giấy lần 1

Hoàng Tá Viêm và Lưu Vĩnh
Phúc

…..

……

10

– HS làm

Câu 3. Thất bại chiến trường Đà Nẵng, tại sao Pháp đánh xuống Định?

việc nhóm

* Định hướng trả lời:

– Rèn kĩ năng – Vì: Gia Định là vựa lúa lớn nhất ở miền nam Việt Nam lúc bấy giờ do đó
phân tích

pháp sẽ có nguồn lương thực dồi dào trong suốt quá trình xâm lược Việt Nam
+ Là một trung tâm buôn bán lớn và sầm uất…có kế hoạch xâm lược ở
đây sẽ giúp làm giàu cho tư bản Pháp.
+ Lúc này biết được Anh đang có kế họach xâm lược Gia Định  Pháp
muốn đi trước Anh 1 bước để giành Gia Định khỏi tay của Anh.
+ Gia Định nằm ở phía nam…gần với Campuchia…Pháp có kế hoạch chiếm
xong Gia Định sẽ làm bàn đạp tấn công Campuchia - nhằm thực hiện âm
mưu đánh chiếm 3 nước Đông dương…chia rẽ các dân tộc Đông dương
trong sự thống nhất giả tạo….nhằm dễ dàng biến Đông dương thành 1 tỉnh
của Pháp…xoá tên Việt Nam…Lào Campuchia ra khỏi bản đồ thế giới…tóm
lại đều vì mục đích làm giàu cho tư bản Pháp…..

– HS làm

Câu 4: Trước và sau Hiệp ước Nhâm Tuất, phong trào đấu tranh của

việc nhóm

nhân dân có gì đặc biệt ?

– Rèn kĩ năng

* Định hướng trả lời:

tư duy bộ

+ Từ 1858-1862: Nhân dân cùng sát cánh với triều đình đánh giặc.

môn

+

Từ 1862-1884: Sau điều ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn từng bước

nhượng bộ, đầu hàng Pháp thì nhân dân 2 miền Nam- Bắc tự động kháng
chiến mạnh mẽ, quyết liệt hơn làm phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh
của Pháp, làm cho chúng phải mất gần 30 năm mới bình định được Việt
– HS làm

Nam.
5. So sánh thái độ của nhân dân và thái độ của triều đình Nguyễn qua

việc theo

các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp?

nhónm

* Định hướng trả lời:

– Rèn kĩ năng * Về phía triều đình:
so sánh, phân

– Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam chế độ phong kiến Việt Nam

tích.

suy tàn, nên không còn khả năng chống đỡ trước sức tấn công của tư bản
phương Tây. Do vậy nhà Nguyễn sớm có tư tưởng chủ hòa, sợ giặc, cuối

11

cùng dẫn đến thiếu quyết đoán, chỉ đạo đường lối sai lầm.
– Xuất phát từ nhận thức khác nhau:
+ Một bộ phận vua quan triều đình nhận thức sai lệch về âm mưu của thực
dân Pháp xâm lược Việt Nam nên có tư tưởng nghị hòa.
+ Một số quan lại có nhận thức rất rõ về ý đồ của Pháp nên đã kiên quyết
chống giặc đến cùng.(Phái chủ chiến – Phái chủ hòa)
*Về phía nhân dân:
– khi Pháp nổ súng xâm lược đến khi Pháp mở rộng chiếm đóng đều luôn
thống nhất, trước sau như một, cả nước sôi sục phong trào đánh Pháp.
– Dân tộc ta sớm có truyền thống yêu nước chống ngoại xâm nên cuộc xâm
lược của thực dân Pháp và sự phản bội của triều đình đã vấp phải những phản
ứng quyết liệt của nhân dân.
Trong lúc triều đình Huế hoang mang dao động kí hàng ước thì phong trào

– GV Tổ

đấu tranh của quần chung vẫn diễn ra sôi nổi.
Câu 5: Chứng minh từ năm 1858 đến năm 1884 là quá trình triều đình

chức cho HS Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng toàn bộ trước quân xâm
thảo luận

lược?

nhóm

* Định hướng trả lời:

– Rèn kĩ năng Dựa vào nội dung các hiệp ước mà triều đình kí với Pháp :
PT, CM

– Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 : thừa nhận sự cai quản của Pháp ở 3 tỉnh Nam
Bộ (Gia Định. Định Tường, Biên Hoà) và đảo Côn Lôn ; mở 3 cửa biển cho
Pháp vào buôn bán…
– Hiệp ước Giáp Tuất 1874 : thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì hoàn toàn thuộc
Pháp…
– Hiệp ước Hác-măng 1883 : Triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảo
hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì…; mọi việc giao thiệp với nước ngoài (kể
cả với Trung Quốc) đều do Pháp nắm.
– Hiệp ước Pa-tơ-nốt 1884 : Triều đình thừa nhận sự bảo hộ của nước Pháp…
Như vậy, qua những hiệp ước trên, ta thấy quá trình của triều đình Huế từ
chỗ cắt từng bộ phận lãnh thổ rồi đi đến thừa nhận nền thống trị của Pháp

12

trên toàn bộ lãnh thổ nước ta (các điều khoản, điều kiện này càng nặng nề
hơn, tính chất thỏa hiệp, đầu hàng ngày một nghiêm trọng hơn)
Câu 6:……
3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp
– Những giải pháp trên tôi bắt đầu thực nghiệm tại đơn vị trong bồi dưỡng học
sinh giỏi Lịch sử của trường từ năm học 2016 -2017 đến nay có hiệu quả tốt. Chất lượng
và số lượng học sinh giỏi các cấp đi vào bền vững, có chiều sâu hơn.
– Nội dung đề tài cũng đã được thông qua tổ chuyên môn thống nhất và đã tiếp tục
áp dụng vào công tác bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8 trong năm học 2017-2018
– Thực tế trong năm học 2015-2016, 2016-2017 tôi đã áp dụng phương pháp dạy
bồi dưỡng theo chuyên đề vừa nêu trên cho lớp 7.9 ở trường sở tại và mang lại hiệu quả
tốt. Vì thế đề tài có thể áp dụng cho tất cả giáo viên dạy bồi dưỡng môn lịch sử ở cấp
Trung học cơ sở trong toàn tỉnh.
3.4. Hiệu quả, lợi ích của sáng kiến
– Sau khi áp dụng những giải pháp mới này vào công tác bồi dưỡng, đội tuyển học
sinh giỏi môn Lịch sử lớp 8 của trường tôi đã đạt những kết quả như sau:
Số học
Năm học

sinh tham
gia

2016-2017
2017-2017

7

HS đạt giải

HS đạt giải

cấp trường

cấp huyện

7

6

6

6 ( 01 giải nhất; 02 giải
nhì, 03 giải 3).

Ghi chú

Không có tổ chức
thi học sinh giỏi lớp
8 cấp tỉnh.

Chưa thi.

– Một kết quả khả quan hơn nửa là: chính những học sinh đạt giải học sinh giỏi lớp
8 là đội học sinh giỏi lớp 9 trong năm học 2017-2018, kết quả như sau:
Năm học

Số học

HS đạt giải

HS đạt giải

HS đạt giải

sinh tham

13

gia

cấp trường

cấp huyện

cấp tỉnh

6 ( 01 giải nhất; 01 giải Chưa thi
2017-2018

6

6

nhì, 01 giải 3; 03 giải
KK).

– Qua kết quả trên cũng cho thấy sau khi áp dụng đề tài thì số lượng học sinh tham

gia bồi dưỡng môn lịch sử nhiều, chứng tỏ tinh thần và thái độ học tập của học sinh đối
với bộ môn đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Số lượng học sinh đạt giải,
chất lượng giải cũng được duy trì mang tính bền vững. Từ đây sẽ tạo nguồn cho bồi
dưỡng học sinh giỏi bộ môn lịch sử lớp 9 của trường đảm bảo về chất lượng và số lượng.
– Học sinh nắm kiến thức thật chắc, vững trọng tâm, lôgich theo chuyên đề nên kĩ
năng làm bài tập, phân tích đề rất tốt. Các em rất hứng thú trong giờ học bồi dưỡng không
còn ngán ngẫm như trước đây vì bài học quá dài…nhiều sự kiện ôm đồm khó nhớ. Khả
năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh cũng đi vào chất lượng tốt hơn trước.
– Đối với giáo viên khi áp dụng đề tài thì không còn lúng túng trong công tác dạy
bồi dưỡng học sinh giỏi; có sự thống nhất về nội dung và phương pháp dạy bồi dưỡng
trong tổ chuyên môn của trường; góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo chủ đề mà
ngành đang thực hiện.
3.5. Tài liệu kèm theo gồm: không có

14

– Giáo viên chưa chú trọng thay đổi chiêu thức giảng dạy, ít biến hóa trong việcxây dựng bài tập tăng trưởng nhận thức, năng lượng học sinh. Đa phần giáo viên chỉ dạy mộtcách ôm đồm theo sách giáo khoa, chưa phát huy năng lực tích cực, phát minh sáng tạo ở học sinh. – Hệ thống kỹ năng và kiến thức trong sách giáo khoa còn rời rạc nhiều mảng, học sinh rấtlúng túng khi xử lý những bài tập nhận thức mang tính khái quát hóa, tổng hợp cao. Kĩ năng xâu chuổi những kỹ năng và kiến thức của học sinh còn rất hạn chế ; đồng thời nếu giáo viênkhông có sự dữ thế chủ động chuẩn bị sẵn sàng ngay từ trong kế hoạch dạy bồi dưỡng cũng sẽ gặp lúngtúng về giải pháp hướng dẫn học sinh rèn những dạng bài tập này. Vì thế, việc kiến thiết xây dựng chuyên đề trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử là rấtcần thiết. 3.2. Nội dung giải pháp ý kiến đề nghị công nhận sáng kiến3. 2.1. Mục đích của giải pháp – Góp phần nâng cao kinh nghiệm tay nghề cho bản thân và giáo viên của tổ trong công tác làm việc bồidưỡng học sinh giỏi. Giúp giáo viên khắc phục những khó khăn vất vả, tạo sự thống nhất về nộidung, chiêu thức giảng dạy, rèn kĩ năng học bộ môn cho học sinh khi tham gia dạy bồidưỡng. – Giúp đội tuyển học sinh giỏi môn Lịch sử của trường nắm vững kiến thức và kỹ năng cănbản, phát huy tính tích cực, dữ thế chủ động trong học tập. Từng bước kiến thiết xây dựng cho học sinhphương pháp học tập, làm bài, nhất là rèn kĩ năng tự tăng trưởng năng lượng nghiên cứu và điều tra ởmôn Lịch sử lớp 8 qua những chuyên đề nhằm mục đích đạt hiệu quả cao trong những kì thi tuyển họcsinh giỏi những cấp. – Nhằm lôi cuốn học sinh và tạo sự hứng thú mê hồn cho những em trong đội tuyển bộmôn lịch sử của trường. Từ đó duy trì một cách bền vững và kiên cố về số lượng học sinh tham giahọc bồi dưỡng và chất lượng học sinh đạt giải trong những kì thi. – Tạo nguồn cho đội học sinh bồi dưỡng lớp 9 của trường bảo vệ vế số lượng vàchất lượng. 3.2.2. Nội dung giải pháp * Những điểm độc lạ, tính mới của giải pháp – Sắp xếp chương trình dạy bồi dưỡng theo từng chuyên đề. – Kiến thức tách rời nhau trong từng bài như sách giáo khoa, học sinh sẽ rất lúngtúng khi vận dụng để làm những bài tập để rèn kĩ năng khái quát hóa, hệ thống hóa ; hoặc sosánh, nghiên cứu và phân tích những sự kiện lịch sử với nhau. Do đó giáo viên chịu khó sắp xếp lại kiếnthức theo từng chủ đề, học sinh rất thuận tiện triển khai tốt kĩ năng bộ môn, nhạy bén hơntrong quy trình nghiên cứu và phân tích nhu yếu của bài tập ; hứng thú hơn trong quy trình học bồi dưỡng. – Trong mỗi chuyên đề kỹ năng và kiến thức cũng được sắp xếp theo một mạng lưới hệ thống, bật trọngtâm, tránh kiểu dạy lan man, kỹ năng và kiến thức ôm đồm. – Xâu chuỗi kiến thức và kỹ năng lịch sử quốc tế cận đại và văn minh ; tìm mối liên hệ giữa cácsự kiện lịch sử giữa hai thời kì này * Mô tả chi tiết cụ thể thực chất của giải pháp1 Xây dựng mạng lưới hệ thống chuyên đề – Trong từng chuyên đề bồi dưỡng tôi xác lập những mốc thời hạn của những sựkiện TT và khuynh hướng cho học sinh những câu hỏi hoàn toàn có thể gặp hoặc những vấn đềcó tương quan để những em có cơ sở tự học thêm ở nhà ; – Cách làm nầy tuy phải góp vốn đầu tư nhiều sức lực lao động và thời hạn, nhưng thực tiễn quabước điều tra và nghiên cứu, sắp xếp mà bản thân tôi đã tích góp được nhiều kinh nghiệm tay nghề để pháttriển năng lượng trình độ. Học sinh theo cách hướng dẫn nầy đã biết tự học và nắmvững mạng lưới hệ thống kiến thức và kỹ năng bài học kinh nghiệm. – Căn cứ vào tiềm năng giáo dục môn lịch sử khối lớp 8 để thiết kế xây dựng thành cácchuyên đề tương thích. Có thể chia thành những chuyên đề như sau : * Lịch sử quốc tế : 1 – Sự hình thành và tăng trưởng của chủ nghĩa tư bản trên khoanh vùng phạm vi toàn quốc tế. 2 – Các hình thức cách mạng tư sản trên quốc tế. 3 – Phong trào giải phóng dân tộc bản địa trên quốc tế thời cận đại, văn minh. 4 – Hai cuộc cuộc chiến tranh quốc tế. 5 – Phong trào công nhân và sự sinh ra của Chủ nghĩa mac6 – Công xã Pari7 – Cách mạng Nga8 – Các nước Đế Quốc tiêu biểu vượt trội. 9 – Sự tăng trưởng của khoa học, kĩ thuật, văn hóa truyền thống quốc tế. * Lịch sử Nước Ta : 1 – Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược 1858 – 18842 – Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược 1884 – cuối thế kỉ XIX3 – Công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Thực dân Pháp4 – Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược đầu thế kỉ XX5 – Các trào lưu Duy tân quốc gia. Thứ hai : Xây dựng những dạng bài tập theo chuyên đề. – Trong mỗi chuyên đề, giáo viên xu thế cho học sinh những câu hỏi có thểgặp hoặc những yếu tố có tương quan, nhu yếu học sinh tự lập dàn ý cho từng câu ( vớinhững câu hỏi đơn thuần hoàn toàn có thể cho học sinh trình diễn miệng để kiểm tra trình độ nhậnthức của những em ). Đây là giải pháp giúp tự điều tra và nghiên cứu tìm cách xử lý và tự phát triểnnăng lực tự học. – Căn cứ vào từng chuyên đề giáo viên hình thành nên những bài tập phát triểnnăng lực, hướng dẫn học sinh nghiên cứu và phân tích đề, lựa chọn đúng kiến thức và kỹ năng, lập dàn ý cho từngdạng đề để tránh làm lệch nhu yếu của đề. Mặt khác việc làm này sẽ góp thêm phần phát huytính tự học, năng lực phát minh sáng tạo và tận dụng được thời hạn học tập ở nhà của học sinh. Sau đây là một số ít ví dụ câu hỏi tăng trưởng năng lượng trong những chuyên đề : Ví dụ 1 : Hãy nhìn nhận ý nghĩa lịch sử của cuộc Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉXVIII ? * Định hướng vấn đáp : ( chuyên đề 1 STG ) Cách mạng tư sản Pháp đã lật đổ được chính sách PK, đưa giai cấp tư sản lên cầm quyền, xóa bỏ nhiều trở ngại trên con đường tăng trưởng của CNTB. Quần chúng nhân dân là lựclượng hầu hết đưa cách mạng đạt tới đỉnh điểm của nền chuyên chính dân chủ Gia-cô-banh. Tuy Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII được coi là cuộc cách mạng tư sản triệtđể nhất, nhưng nó vẫn chưa cung ứng được khá đầy đủ quyền hạn cho nhân dân, vẫn không hoàntoàn xóa bỏ được chính sách PK, chỉ có giai cấp tư sản là được hưởng lợi. + Ý nghĩa lịch sử của những cuộc CMTS tiên phong : – Xác lập sự thắng lợi của CNTB so với chính sách phong kiến : Đó là sự thắng lợi của giai cấp Tư sản, đại diện thay mặt cho nền sản xuất mới, phương pháp sảnxuất TBCN đang đứng ở vị trí tiên phong, tân tiến hơn hẳn giai cấp Địa chủ, Phong kiến, đại diệncho nền sản xuất phong kiến đã trở nên lỗi thời lỗi thời ( dẫn chứng … ). – Tạo điều kiện kèm theo mở đường cho nền sản xuất mới TBCN tăng trưởng ( dẫn chứng ). – Thể hiện vai trò của quần chúng nhân dân ( là lực lượng ủng hộ tham gia và quyết địnhthắng lợi của cách mạng … dẫn chứng ) + Là những cuộc cách mạng không triệt để, bộc lộ CNTB xuất hiện tân tiến nhưng cũngcó những hạn chế : – Chưa phân phối rất đầy đủ quyền hạn của quần chúng nhân dân ( dẫn chứng ). – Không trọn vẹn xoá bỏ chính sách bóc lột phong kiến, mà chỉ thay thế sửa chữa hình thức bóc lộtnày bằng hình thức bóc lột khác ( dẫn chứng ). – Thậm chí giai cấp tư sản ở một số ít nước còn biểu lộ sự thoả hiệp với phong kiến ( dẫnchứng ). Ví dụ 2 : Tại sao hoàn toàn có thể nói : “ Đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản đã xáclập và thắng lợi trên khoanh vùng phạm vi toàn quốc tế ” ? * Định hướng vấn đáp : ( chuyên đề 1 STG ) + Những cuộc CMTS liên tục nổ ra ở khu vực Mĩ La-tinh và châu Âu trong tế kỉXIX : – Do sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ của kinh tế tài chính TBCN, cộng với những ảnh hưởng tác động từ cuộcChiến tranh giành độc lập của những thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ, Cách mạng tư sản Pháp cuối thếkỉ XVIII, nhân dân những nước thuộc địa ở khu vực Mĩ La-tinh đã nổi dậy đấu tranh lật đổ áchthống trị của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, giành chính quyền sở tại về tay mình, thànhlập hàng loạt vương quốc tư sản như Cô-lôm-bi-a, Ác-hen-ti-na, Chi-lê, Vê-nê-xu-lê-a, … – Ở châu Âu, tháng 7 – 1830, trào lưu cách mạng tư sản lại liên tục nổ ra ở Pháp, sau đónhanh chóng lan ra những nước Bỉ, Đức, I-ta-li-a, Ba Lan, … làm rung chuyển chính sách PK châu Âu và đếquốc Áo – Hung. – Ở I-ta-li-a, từ năm 1859 đến năm 1870, dưới sự chỉ huy của quý tộc tư sản hóa, đạidiện là Ca-vua, sau đó là người anh hùng dân tộc bản địa Ga-ri-ban-đi, những vương quốc ở I-ta-li-a đãthoát khỏi sự thống trị của đế quốc Áo và thống nhất vương quốc I-ta-li-a, mở đường choCNTB tăng trưởng. – Ở Đức, từ năm 1864 đến năm 1871, giai cấp tư sản và quý tộc quân phiệt Phổ – đại diện thay mặt làBi-xmác đã lãnh đạo nhân dân triển khai công cuộc thống nhất, đưa nước Đức tăng trưởng theo conđường TBCN. – Ở Nga, năm 1861, Nga hoàng A-lếch-xan-đrơ II đã ban bố “ Sắc lệnh giải phóng nôngnô ”, nhờ đó tạo thêm nguồn nhân công cho nền sản xuất tư bản, giúp Nga sớm chuyển sangCNTB. + Sự bành trướng của những nước TB ở những nước Á. Phi : – Từ khi triển khai cách mạng công nghiệp, nhu yếu về nguyên vật liệu, thị trường của cácnước tư bản ( nhất là Anh và Pháp ) trở nên cấp thiết, khiến cơ quan chính phủ tư sản những nước này đẩymạnh việc xâm lược so với phương Đông, đặc biệt quan trọng là Ấn Độ, Trung Quốc và khu vực ĐôngNam Á. – Tại châu Phi, những nước Anh, Pháp, Đức, I-ta-li-a, Bỉ, … cũng ráo riết tăng cường xâu xé, biến hàng loạt lục địa này thành thuộc địa của mình. – Kết quả, cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, hầu hết những nước ở châu Á, châu Phi đều trởthành thuộc địa hoặc phụ thuộc vào của chủ nghĩa thực dân phương Tây. + Kết luận : Như vậy là, trong thế kỉ XIX, ở khu vực Mĩ La-tinh và châu Âu đã liên tục nổ ra những cuộccách mạng tư sản, khiến hầu hết những nước này đều giành được độc lập và tăng trưởng đi lên theocon đường TBCN. Cùng đó, trong quá trình cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX đã diễn ra quá trìnhbành trướng xâm lược để xử lý yếu tố nguyên vật liệu, thị trường của những nước tư bản đối vớicác nước Á, Phi. Từ hai nội dung trên, ta hoàn toàn có thể Tóm lại : “ Đến cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản đã xác lập và thắng lợi trên khoanh vùng phạm vi tồn quốc tế ”. Ví dụ 3 : Ngun nhân và hình thức đấu tranh buổi đầu của giai cấp cơng nhân Âu – Mĩ cuối thế kỉ XIX ? Vì sao giới chủ lại thích sử dụng lao động là trẻ nhỏ ? * Định hướng vấn đáp : ( chun đề 5 STG ) * Ngun nhân – Cùng với sự tăng trưởng của cơng nghiệp, giai cấp cơng nhân sớm sinh ra nhưng bị tư sảnbốc lột nặng nề : thao tác từ 14-16 tiếng mỗi ngày, trong điều kiện kèm theo lao động khó khăn vất vả đểnhận đồng lương chết đói. Đàn bà, trẻ nhỏ cũng phải thao tác nặng, lương thấp hơn đànơng. Điều kiện ăn ờ rất tồi tàn – Phụ nữ và trẻ nhỏ cũng bị bốc lột nặng nề * Hình thức đấu tranh – Hình thức đấu tranh bắt đầu là đập phá máy mó, đốt cơng xưởng. Cuộc đấu tranh nổ raở Anh sau đó lan ra ở Anh sau đó lan ra Pháp, Đức, Bỉ – Đầu TK XIX, trào lưu bãi cơng đòi tăng lương, giảm giờ làm diễn ra sơi nổi ở Đức, Pháp, Bỉ. Cơng nhân đã xây dựng những cơng đồn để đấu tranh * Giới chủ thích sử dụng lao động là trẻ nhỏ vì : Trẻ em thao tác nặng bằng người lớn ; Khơng có năng lực phản kháng, dễ bắt nạt, dụ dỗ ; Trả lương thấp hơn người lớnVí dụ 4 : Ngun nhân ? Kết cục ? đặc thù của cuộc chiến tranh quốc tế thứ nhất ? Qua đóem có tâm lý gì về cuộc chiến tranh ? * Định hướng vấn đáp : ( chun đề 4 STG ) * Ngun nhân chiến tranh-Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX những nước đế quốc phát triểnkhông đồøáng đều nên mâu thuẩn nhau. dẫn đến những cuộcchiến tranh tiên phong : Chiến tranh Mó – TBN ( 1898 ) ; Chiến tranhAnh – Bô-ơ ( 1899 – 1902 ) ; Chiến tranh Nga-Nhật ( 1904 – 1905 ) – Tạo nên hai khối trái chiều : Khối Liên Minh : Đức, o, Hung. ( 1882 ) ; Khối Hiệp Ước : Anh, Pháp, Nga. ( 1907 )  Chạy đua vũ trang, phát động cuộc chiến tranh chia lại quốc tế. * Kết cục cuộc chiến tranh quốc tế lần 1 – Hậu quả : Gây nhiều tai ương cho quả đât : 10 triệu ngườichết, 20 triệu người bò thương. Cơ sở vật chất bò tàn phánghiêm trọng, gây đau thương cho quả đât. – Đem lại quyền lợi cho những nước thắng trận, nhất là Mó, Bản đồthế giới bò phân loại lại : Đức mất hết thuộc đòa, Anh, Pháp, Mó lan rộng ra thuộc đòa-Phong trào c / m thế giơiù càng tăng trưởng mạnh, đặc biệt quan trọng là sựbùng nổ của c / m tháng 10/1917. * Tính chất : Đây là cuộc cuộc chiến tranh đế quốc phi nghóađối với cả hai bên tham chiến * Suy nghĩ : ( HS tự bọc lộ : + Chiến tranh đem lại đau thương tang tóc cho những phe tham chiến, nhân dân lao độnglà người gánh chịu hậu quả đó + Chiến tranh tàn phá cơ sở vật chất, mơi trường sống …. do đó tất cả chúng ta phải lên ánchiến tranh, chống cuộc chiến tranh, bảo vệ độc lập … + … .. ) Ví dụ 5 : So sánh ngun nhân, đặc thù, kết cục của cuộc chiến tranh quốc tế lầnthứ nhất ( 1914 – 1918 ) với cuộc chiến tranh quốc tế lần thứ hai ( 1939 – 1945 ). Qua đó emcó nhận xét gì ? * Định hướng vấn đáp : ( chun đề 4 STG ) * Giống nhau : – Đều xuất phát từ mục tiêu tranh giành thuộc địa, thị trường giữa những nước ĐếQuốc – Tính chất lúc đầu khi phát đơng đều mang tính Đế quốc pi nghĩa so với cả haiphe tham chiến – Hậu quả đều tàn phá nghiêm trọng cơ sở vật chất, sinh mạng con người ; nhân dânlao động phải gánh chịu hậu quả nặng nề đó. – Các nước phát động cuộc chiến tranh đều là nước thua trận – …. * Khác nhau : ( Lập bảng theo nội dung skg : nguyên do ; đặc thù ; kết cục ) * Nhận xét : – Chiến tranh đều gây đau thương tang tóc cho trái đất – Tính chất của cuộc chiến tranh quốc tế thứ hai có đổi khác khi Liên Xô tham chiến – Hậu quả cuộc chiến tranh quốc tế thứ hai thiệt hại gấp 10 lần so cuộc chiến tranh thế giớithứ nhất – Chiến tranh quốc tế thứ hai lôi kéo nhiều nước tham chiến hơn, mức độ ác liệthơn, tàn phá diệt trừ nẵng nề hơn cuộc chiến tranh quốc tế thứ nhất – … 3. Xây dựng kế hoạch dạy học cho từng chuyên đề – Dựa trên mạng lưới hệ thống chuyên đề kiến thiết xây dựng, giáo viên tổ trình độ cùng thốngnhất và yêu cầu giải pháp để giáo viên triển khai bồi dưỡng. Qua đó, giúp học sinhnắm chắc kỹ năng và kiến thức cơ bản, rèn những năng lượng tương thích với đặc trưng bộ môn, với khả nănghọc tập của học sinh … – Từ đó khuynh hướng năng lượng chung và năng lượng chuyên biệt cần được hình thànhcho học sinh như : năng lượng xử lý yếu tố, năng lượng tư duy, tái hiện kỹ năng và kiến thức, đánh giásự kiện lịch sử … – Trên cơ sở mạng lưới hệ thống chuyên đề thiết kế xây dựng, giáo viên thiết lập kế hoạch giảng dạyphù hợp với từng chuyên đề và trình độ học sinh. Trong quy trình thực thi, cần có sựđiều chỉnh cho tương thích với trách nhiệm được phân công theo thời hạn. Ví dụ : Chuyên đề “ Cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược 18581884 ” A / MỤC TIÊU BÀI HỌC1. Về kiến thức và kỹ năng : – Nguyên nhân và tiến trình xâm lược Nước Ta của tư bản Pháp từ năm 1958. – Các trào lưu chống Pháp tiêu biểu vượt trội – Những nội dung cơ bản của những hiệp ước triều Nguyễn kí với thực dân Pháp. 2. Về kiến thức và kỹ năng : – Phân tích những sự kiện lịch sử tiêu biểu vượt trội, chứng tỏ nhận định và đánh giá về sự kiện lịch sử. – Rèn cho học sinh kĩ năng lập luận, lý giải, so sánh, nhận xét và tự lập bảng thống kêcác trào lưu khởi nghĩa tiêu biểu vượt trội trong quá trình từ 1858 đến 1984. B / THỜI LƯỢNG THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ : 4TI ẾTC / TIẾN TRÌNH THỰC HIỆNBiện phápNội dungthực hiện – HS làmGV : nhu yếu học sinh cùng điểm qua những sự kiện lớn của quá trình từ 1858 việc cá nhânđến 1884 – Rèn kĩ năngCâu 1 : Nguyên nhân Thực dân Pháp xâm lược nước ta ? Vì sao PhápPTchọn Thành Phố Đà Nẵng làm điểm tiến công tiên phong vào nước ta ? ( Tích hợp ĐịaLí : ĐKTN nước ta ) * Định hướng vấn đáp : – Nguyên nhân : SGK – TP. Đà Nẵng rộng, dân cư đông đúc, giàu sang. – Cửa biển sâu kín gió  tàu chiến của Pháp sẽ thuận tiện hoạt động giải trí. – Gần kinh thành Huế  lấy Đà nẵng làm bàn đạp tiến công triều đình nhàNguyễn. HSlàm Câu 2 : Lập bảng thống kê những trào lưu chống Pháp xâm lược từ 1858 việc cá thể 1884 – Rèn KN lập * Định hướng vấn đáp : bảng thốngThời gianSự kiệnNgười lãnh đạo1858ChiếnsựĐàNẵngNguyễnTri Phươngkê1859Chiến sự ở Gia ĐịnhNguyễn Tri Phương1863-1864 Khởi nghĩa của Trương Trương Định1861Định ở Gò CôngĐốt cháy tàu Et-pê-răng Nguyễn Trung Trựccủa Pháp trên Sông Nhật1873TảoTrận Cầu giấy lần 1H oàng Tá Viêm và Lưu VĩnhPhúc … .. … … 10 – HS làmCâu 3. Thất bại mặt trận Thành Phố Đà Nẵng, tại sao Pháp đánh xuống Định ? việc nhóm * Định hướng vấn đáp : – Rèn kĩ năng – Vì : Gia Định là vựa lúa lớn nhất ở miền nam Nước Ta lúc bấy giờ do đóphân tíchpháp sẽ có nguồn lương thực dồi dào trong suốt quy trình xâm lược Nước Ta + Là một TT kinh doanh lớn và sầm uất … có kế hoạch xâm lược ởđây sẽ giúp làm giàu cho tư bản Pháp. + Lúc này biết được Anh đang có kế họach xâm lược Gia Định  Phápmuốn đi trước Anh 1 bước để giành Gia Định khỏi tay của Anh. + Gia Định nằm ở phía nam … gần với Campuchia … Pháp có kế hoạch chiếmxong Gia Định sẽ làm bàn đạp tiến công Campuchia –  nhằm mục đích triển khai âmmưu đánh chiếm 3 nước Đông dương … chia rẽ những dân tộc bản địa Đông dươngtrong sự thống nhất giả tạo …. nhằm mục đích thuận tiện biến Đông dương thành 1 tỉnhcủa Pháp … xoá tên Nước Ta … Lào Campuchia ra khỏi map quốc tế … tómlại đều vì mục tiêu làm giàu cho tư bản Pháp … .. – HS làmCâu 4 : Trước và sau Hiệp ước Nhâm Tuất, trào lưu đấu tranh củaviệc nhómnhân dân có gì đặc biệt quan trọng ? – Rèn kĩ năng * Định hướng vấn đáp : tư duy bộ + Từ 1858 – 1862 : Nhân dân cùng sát cánh với triều đình đánh giặc. mônTừ 1862 – 1884 : Sau điều ước Nhâm Tuất ( 1862 ), triều Nguyễn từng bướcnhượng bộ, đầu hàng Pháp thì nhân dân 2 miền Nam – Bắc tự động hóa khángchiến can đảm và mạnh mẽ, kinh khủng hơn làm phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanhcủa Pháp, làm cho chúng phải mất gần 30 năm mới bình định được Việt – HS làmNam. 5. So sánh thái độ của nhân dân và thái độ của triều đình Nguyễn quaviệc theocác cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ? nhónm * Định hướng vấn đáp : – Rèn kĩ năng * Về phía triều đình : so sánh, phân – Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nước Ta chính sách phong kiến Việt Namtích. suy tàn, nên không còn năng lực chống đỡ trước sức tiến công của tư bảnphương Tây. Do vậy nhà Nguyễn sớm có tư tưởng chủ hòa, sợ giặc, cuối11cùng dẫn đến thiếu quyết đoán, chỉ huy đường lối sai lầm đáng tiếc. – Xuất phát từ nhận thức khác nhau : + Một bộ phận vua quan triều đình nhận thức rơi lệch về thủ đoạn của thựcdân Pháp xâm lược Nước Ta nên có tư tưởng nghị hòa. + Một số quan lại có nhận thức rất rõ về ý đồ của Pháp nên đã kiên quyếtchống giặc đến cùng. ( Phái chủ chiến – Phái chủ hòa ) * Về phía nhân dân : – khi Pháp nổ súng xâm lược đến khi Pháp lan rộng ra chiếm đóng đều luônthống nhất, trước sau như một, cả nước sôi sục trào lưu đánh Pháp. – Dân tộc ta sớm có truyền thống cuội nguồn yêu nước chống ngoại xâm nên cuộc xâmlược của thực dân Pháp và sự phản bội của triều đình đã vấp phải những phảnứng kinh khủng của nhân dân. Trong lúc triều đình Huế sợ hãi xê dịch kí hàng ước thì trào lưu – GV Tổđấu tranh của quần chung vẫn diễn ra sôi sục. Câu 5 : Chứng minh từ năm 1858 đến năm 1884 là quy trình triều đìnhchức cho HS Huế đi từ đầu hàng từng bước đến đầu hàng hàng loạt trước quân xâmthảo luậnlược ? nhóm * Định hướng vấn đáp : – Rèn kĩ năng Dựa vào nội dung những hiệp ước mà triều đình kí với Pháp : PT, CM – Hiệp ước Nhâm Tuất 1862 : thừa nhận sự quản lý của Pháp ở 3 tỉnh NamBộ ( Gia Định. Định Tường, Biên Hoà ) và hòn đảo Côn Lôn ; mở 3 cửa biển choPháp vào kinh doanh … – Hiệp ước Giáp Tuất 1874 : thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì trọn vẹn thuộcPháp … – Hiệp ước Hác-măng 1883 : Triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảohộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì … ; mọi việc tiếp xúc với quốc tế ( kểcả với Trung Quốc ) đều do Pháp nắm. – Hiệp ước Pa-tơ-nốt 1884 : Triều đình thừa nhận sự bảo lãnh của nước Pháp … Như vậy, qua những hiệp ước trên, ta thấy quy trình của triều đình Huế từchỗ cắt từng bộ phận chủ quyền lãnh thổ rồi đi đến thừa nhận nền thống trị của Pháp12trên hàng loạt chủ quyền lãnh thổ nước ta ( những lao lý, điều kiện kèm theo này càng nặng nềhơn, đặc thù thỏa hiệp, đầu hàng ngày một nghiêm trọng hơn ) Câu 6 : …… 3.3. Khả năng vận dụng của giải pháp – Những giải pháp trên tôi khởi đầu thực nghiệm tại đơn vị chức năng trong bồi dưỡng họcsinh giỏi Lịch sử của trường từ năm học năm nay – 2017 đến nay có hiệu suất cao tốt. Chất lượngvà số lượng học sinh giỏi những cấp đi vào bền vững và kiên cố, có chiều sâu hơn. – Nội dung đề tài cũng đã được trải qua tổ trình độ thống nhất và đã tiếp tụcáp dụng vào công tác làm việc bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 8 trong năm học 2017 – 2018 – Thực tế trong năm học năm ngoái – năm nay, năm nay – 2017 tôi đã vận dụng giải pháp dạybồi dưỡng theo chuyên đề vừa nêu trên cho lớp 7.9 ở trường sở tại và mang lại hiệu quảtốt. Vì thế đề tài hoàn toàn có thể vận dụng cho tổng thể giáo viên dạy bồi dưỡng môn lịch sử ở cấpTrung học cơ sở trong toàn tỉnh. 3.4. Hiệu quả, quyền lợi của ý tưởng sáng tạo – Sau khi vận dụng những giải pháp mới này vào công tác làm việc bồi dưỡng, đội tuyển họcsinh giỏi môn Lịch sử lớp 8 của trường tôi đã đạt những hiệu quả như sau : Số họcNăm họcsinh thamgia2016-20172017-2017HS đạt giảiHS đạt giảicấp trườngcấp huyện6 ( 01 giải nhất ; 02 giảinhì, 03 giải 3 ). Ghi chúKhông có tổ chứcthi học sinh giỏi lớp8 cấp tỉnh. Chưa thi. – Một hiệu quả khả quan hơn nửa là : chính những học sinh đạt giải học sinh giỏi lớp8 là đội học sinh giỏi lớp 9 trong năm học 2017 – 2018, tác dụng như sau : Năm họcSố họcHS đạt giảiHS đạt giảiHS đạt giảisinh tham13giacấp trườngcấp huyệncấp tỉnh6 ( 01 giải nhất ; 01 giải Chưa thi2017-2018nhì, 01 giải 3 ; 03 giảiKK ). – Qua tác dụng trên cũng cho thấy sau khi vận dụng đề tài thì số lượng học sinh thamgia bồi dưỡng môn lịch sử nhiều, chứng tỏ ý thức và thái độ học tập của học sinh đốivới bộ môn đã có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Số lượng học sinh đạt giải, chất lượng giải cũng được duy trì mang tính vững chắc. Từ đây sẽ tạo nguồn cho bồidưỡng học sinh giỏi bộ môn lịch sử lớp 9 của trường bảo vệ về chất lượng và số lượng. – Học sinh nắm kỹ năng và kiến thức thật chắc, vững trọng tâm, lôgich theo chuyên đề nên kĩnăng làm bài tập, nghiên cứu và phân tích đề rất tốt. Các em rất hứng thú trong giờ học bồi dưỡng khôngcòn ngán ngẫm như trước đây vì bài học kinh nghiệm quá dài … nhiều sự kiện ôm đồm khó nhớ. Khảnăng tự học, tự nghiên cứu và điều tra của học sinh cũng đi vào chất lượng tốt hơn trước. – Đối với giáo viên khi vận dụng đề tài thì không còn lúng túng trong công tác làm việc dạybồi dưỡng học sinh giỏi ; có sự thống nhất về nội dung và chiêu thức dạy bồi dưỡngtrong tổ trình độ của trường ; góp thêm phần thay đổi giải pháp dạy học theo chủ đề màngành đang triển khai. 3.5. Tài liệu kèm theo gồm : không có14

Source: https://evbn.org
Category: Học Sinh