Chu nghia Mac-Lenin

Ănggen
Chống Duyhring

VII. Triết học về tự nhiên, giới hữu cơ

“Từ cơ học về sức ép và về
sự đầy cho đến mối liên hệ giữa
những cảm giác và những tư tưởng, có
một trình tự thống nhất và duy nhất gồm
những nấc trung gian”.

Lời quả quyết này tránh cho ông Đuy-rinh
khỏi sự cần thiết phải nói một cái gì
đó rõ ràng hơn về nguồn gốc của sự
sống, tuy rằng đối với một nhà tư
tưởng đã từng theo dõi sự phát triển của
thế giới bằng cách đi ngược lên
đến tận trạng thái đồng nhất với
bản thân và cảm thấy rất thoải mái trên các thiên
thể khác như ở nhà mình, thì người ta có thể
mong đợi rằng ông ta hiểu biết vấn
đề một cách chính xác. Vả lại lời quả
quyết ấy chỉ mới đúng có một nửa,
chừng nào nó chưa được bổ sung bằng con
đường nút của những quan hệ về
mức độ của Hegel[22] mà chúng tôi đã nói
đến trên đây. Mặc dù tất cả tính tiệm
tiến của nó, bước chuyển từ một hình
thức vận động này sang một hình thức
vận động khác bao giờ cũng vẫn là một
bước nhảy vọt, một bước ngoặt
quyết định. Bước chuyển từ cơ
học về các thiên thể đến cơ học
về các khối lượng nhỏ hơn trên những
thiên thể riêng rẽ cũng vậy; bước
chuyển từ cơ học về các khối
lượng đến cơ học về các phân tử,
bao gồm những vận động mà chúng ta nghiên
cứu trong môn vật lý học hiểu theo đúng nghĩa
của từ đó: nhiệt, quang, điện, từ,
cũng vậy; bước chuyển từ vật lý
học phân tử đến vật lý học nguyên tử –
hoá học – cũng hoàn thành bằng một bước
nhảy vọt quyết định, và điều đó
lại càng đúng đối với bước chuyển
từ tác dụng hoá học thông thường đến
tác dụng hoá học của an-bu-min mà chúng ta gọi là
sự sống. Ở bên trong lĩnh vực của sự
sống, những bước nhảy vọt càng trở nên
hiếm hoi hơn và ít nhận thấy hơn. – Thế là
một lần nữa, Hegel lại buộc phải cải chính
ông Đuy-rinh.

Khái niệm mục đích đã giúp ông Đuy-rinh
thực hiện bước chuyển trên khái niệm sang
thế giới hữu cơ. Đây cũng lại là sao
chép của Hegel, người mà trong quyển “Lô-gic”
– học thuyết về khái niệm – đã dùng mục
đích luận, hay là học thuyết về mục
đích, để chuyển từ thế giới hoá
học sang sự sống. Dấu chúng ta có nhìn vào đâu
chăng nữa, ở ông Đuy-rinh ở đoạn nào
chúng ta cũng đụng phải một “quan niệm
thô thiển” của Hegel mà ông Đuy-rinh đã không chút
ngượng ngùng mạo nhận là khoa học căn
bản của chính mình. Chúng ta có lẽ đi quá xa, nêu
ở đây chúng ta lại tìm hiểu xem việc ứng
dụng các quan niệm về mục đích và phương
tiện vào giới hữu cơ là đúng và thích đáng
tới mức nào. Dù sao đi nữa, ngay cả việc
ứng dụng “mục đích nội tại”
của Hegel, nghĩa là một mục đích không phải
do hành động cố ý của một yếu tố bên
ngoài nào đó đưa vào trong tự nhiên, như sự sáng
suốt của thượng đế chẳng hạn, mà
là một mục đích nằm trong tính tất yếu
của bản thân sự vật, – ngay cả việc
vận dụng khái niệm mục đích đó cũng luôn
luôn đưa những người chưa có học
thức đầy đủ về triết học
đến chỗ gán một cách phi lý cho tự nhiên
những hành động tự giác và cố ý. Chính cái ông
Đuy-rinh đã vô cùng phẫn nộ một cách đạo
đức trước mọi mưu toan “duy linh”
nhỏ nhất của người khác, lại quả
quyết

“một cách chắc chắn rằng những
bản năng… được tạo ra chủ yếu là
cho sự thoả mãn gắn liền với hoạt động
của những bản năng ấy”.

ông ta kể cho chúng ta nghe rằng giới tự
nhiên đáng thương hại.

“luôn luôn buộc phải chỉnh đốn
lại trật tự của thế giới vật
thể”, ngoài ra nó lại còn nhiều công việc
khác” đòi hỏi nó phải tinh tế nhiều hơn
là người ta vẫn thường quen tưởng”.
Nhưng giới tự nhiên chẳng những biết
tại sao nó tạo ra cái này cái nọ, chẳng những nó
làm mọi công việc như một người vú già,
chẳng những nó phải tinh tế – đó cũng đã
là một trình độ hoàn hảo khá cao trong tư duy
chủ quan tự giác rồi; giới tự nhiên lại còn
có một ý chí nữa; bởi vì cái vai trò phụ thêm của
các bản năng – tức là cái mà nhân tiện thực
hiện những chức năng hiện thực của tự
nhiên như ăn uống, sinh đẻ, v.v… – cái vai trò
phụ thêm ấy, “chúng ta phải coi là được
mong muốn một cách không trực tiếp mà chỉ gián
tiếp thôi”.

Thế là chúng ta đã đi đến một
giới tự nhiên tư duy và hành động một cách
tự giác, do đó chúng ta đã đứng ở trên cái
“cầu” dẫn chúng ta – thực ra thì không phải
từ thể tĩnh sang thể động, nhưng
cũng vẫn là từ phiếm thần luận sang tự nhiên
thần luận. Hay có thể là ở đây ông Đuy-rinh
cũng muốn tự mình làm thử một lần cái món
“nửa thơ trong triết học về tự
nhiên” chăng?

Không, không thể như thế được.
Tất cả những gì mà nhà triết học hiện
thực của chúng ta có thể nói về giới tự
nhiên hữu cơ, chỉ giới hạn trong cuộc
đấu tranh chống cái món nửa thơ ấy trong
triết học về tự nhiên, chống “sự
lừa bịp với những sự hời hợt nông
cạn và có thể nói là những sự thần bí hoá
giả danh khoa học”, chồng những “nét làm
người ta nhớ đến thơ ca tối”
của chủ nghĩa Darwin mà thôi.

Trước hết Darwin bị trách cứ là
đã truyền thuyết nhân khẩu của Malthus từ
kinh tế chính trị học vào khoa học tự nhiên, là
tự giam mình trong những quan niệm của người
chăn nuôi súc vật, là với cái thuyết đấu
tranh để sinh tốn của mình, đã làm một món
nửa thơ phản khoa học; là toàn bộ chủ
nghĩa Darwin, sau khi loại bỏ những điểm
mượn của Lamarck ra, là một hình động thú
tính chống lại nhân tính.

Qua những cuộc đi nghiên cứu khoa học
của mình, Darwin đã có ý kiến cho rằng các loài
thực vật và động vật không phải là không
biến đổi mà luôn luôn biến đổi. Để
tiếp tục nghiên cứu ý kiến ấy ở trong
nước ông không có lĩnh vực nào tốt hơn là
lĩnh vực chăn nuôi động vật và trồng
trọt thực vật. Về phương diện này,
chính nước Anh là một nước cổ
điển; những thành tựu của các nước
khác, thí dụ như nước Đức, còn xa mới có
thể so sánh được về mặt quy mô với
những điều đã đạt được ở
Anh về mặt này. Đồng thời, phần lớn
những thành tựu trong lĩnh vực này đều
mới đạt được từ một thế
kỷ nay, thành thử việc xác minh những sự
kiện không khó khăn này. Và Darwin nhận thấy rằng
phương pháp chăn nuôi ấy đã gây ra một cách
nhân tạo giữa những động vật và thực
vật cùng loài, những sự khác nhau lớn hơn
những sự khác nhau giữa những động vật
và thực vật mà mọi người đều nhận
là khác loài. Như vậy là, một mặt, đã chứng
minh được rằng các loài có thể biến
đổi đến một mức nào đó, và mặt
khác là những sinh vật có những đặc trưng
khác nhau về loài có thể có những tổ tiên chung. Sau
đó Darwin tìm xem ngay trong tự nhiên, có hay không có những
nguyên nhân đã gây ra ở các cơ thể sống – mà không
có một tác động tự giác nào của người
chọn giống – ở những biến đổi
tương tự như những biến đổi
được tạo ra bằng cách chăn nuôi nhân tạo.
ông thấy rằng những nguyên nhân ấy là ở sự
mất cân đối giữa số rất lớn các phôi
do tự nhiên sản sinh ra và số ít những cơ
thể thực sự đạt đến độ thành
thực. Vì mỗi phôi đều có xu hướng muốn
phát triển nên tất nhiên phải nảy ra cuộc
đấu tranh để sinh tồn, không những
biểu hiện thành một cuộc chiến đấu
trực tiếp về thể xác, hoặc ăn thịt
lẫn nhau mà còn biểu hiện thành một cuộc
đấu tranh giành không gian và ánh sáng, ngay cả trong thực
vật nữa. Rõ ràng là trong cuộc chiếu đấu
này, những cá thể có nhiều triển vọng nhất
để đạt tới độ trưởng thành và
sinh sôi nảy nở là những cá thể có một cá tính
nào đó, dù nhỏ mấy đi nữa, nhưng lại có
lợi trong cuộc đấu tranh để sinh tồn.
Vì vậy những đặc tính cá biệt đó có xu
hướng di truyền lại, và nếu chúng có trong
nhiều cá thể cùng một loài thì thông qua di truyền
đã được tích luỹ lại, chúng lại có xu
hướng tăng lên theo hướng đã đi theo; trái
lại, những cá thể nào không có những đặc
tính đó thì dễ bị ngã gục trong cuộc
đấu tranh để sinh tồn và dần dần biến
mất. Sự biến đổi của loài thông qua sự
đào thải tự nhiên, qua sự sống sót của
những cá thể nào thích ứng tốt thất, diễn
ra chính là theo cách đó.

Chính chống lại cái học thuyết ấy
của Darwin mà giờ đây ông Đuy-rinh đưa ra cái
lý lẽ nói rằng cần phải tìm nguồn gốc
của cái quan niệm về đấu tranh để sinh
tồn – như bản thân Darwin cũng đã thừa
nhận – trong sự khái quát hoá những ý kiến của
nhà kinh tế học Malthus, nhà lý luận về nhân
khẩu, và vì vậy quan niệm ấy cũng mắc
phải những khuyết điểm vốn có của
những ý kiến kiểu thày tu của Malthus về tình
trạng nhân khẩu thừa. Trong lúc đó Darwin không bao
giờ có ý định nói rằng phải tìm nguồn
gốc của quan niệm về đấu tranh để
sinh tồn ở Malthus. ông chỉ nói rằng thuyết
đấu tranh để sinh tồn của ông là thuyết
của Malthus ứng dụng vào toàn bộ giới động
vật và thực vật. Mặc dầu lỗi lầm
của Darwin lớn đến đâu đi nữa khi ông
đã ngây thơ thừa nhận học thuyết của
Malthus một cách không có phê phán, nhưng mới thoạt nhìn
mọi người cũng thấy ngay được
rằng không cần phải dùng cặp kính của Malthus
mới thấy được sự đấu tranh để
sinh tồn trong tự nhiên, – mỗi mâu thuẫn giữa vô
số những phôi mà tự nhiên sản sinh ra một cách
thừa thãi, với số rất ít những phôi nói chung có
thể đạt đến độ trưởng thành;
mỗi mâu thuẫn trong thực tế được
giải quyết phần lớn trong cuộc đấu
tranh để sinh tồn, một cuộc đấu tranh
đôi khi cực kỳ tàn khốc. Giống như quy
luật về tiến công vẫn giữ y nguyên giá trị
của nó sau khi những lập luận của Malthus – mà
Ricardo đã dựa vào để luận chứng cho quy
luật ấy” – đã bị lãng quên từ lâu rồi,
cuộc đấu tranh để sinh tồn cũng
vẫn cứ tồn tại trong tự nhiên mà không cần
nhờ đến một sự lý giải nào của Malthus
cả. Vả lại, những cơ thể trong tự
nhiên cũng có những quy luật nhân khẩu của chúng,
những quy luật có thể nói là hầu như hoàn toàn
chưa được nghiên cứu, nhưng việc xác
lập được chúng sẽ có một ý nghĩa
quyết định đối với thuyết tiến
hoá của các loài. Và ai là người đã có một sự
thúc đẩy quyết định theo hướng này?
Chẳng phải ai khác ngoài Darwin.

ông Đuy-rinh cố tránh không đề cập
đến mặt tích cực đó của vấn
đề. Đáng lẽ nói đến mặt tích cực
đó, ông ta lại cứ nói đi nói lại mãi về
đấu tranh để sinh tồn. Theo ông ta, trong
giới thực vật không có ý thức và các động
vật ăn cỏ hiền lành, hiển nhiên là không thể
có vấn đề đấu tranh để sinh tồn
được:

“theo ý nghĩa xác định một cách chính
xác thì cuộc đấu tranh để sinh tồn chỉ
biểu hiện trong giới súc vật trong chừng
mực việc ăn uống được thực
hiện bằng cách vớ lấy và ăn thịt”.

Và sau khi đã hạn chế khái niệm
đấu tranh để sinh tồn vào trong phạm vi
nhỏ hẹp như vậy, ông ta có thể tha hồ công
phẫn đối với tính chất thú vật của cái
khái niệm mà chính ông ta đã hạn chế trong phạm vi tính
chất thú vật đó. Nhưng sự công phẫn
đối với tính chất đạo đức này
chỉ nhằm vào ông Đuy-rinh mà thôi, vì chính ông ta là tác
giả duy nhất của thuyết đấu tranh
để sinh tồn theo nghĩa hạn chế đó và vì
thế ông ta cũng chính là người duy nhất chịu
trách nhiệm về sự công phẫn đó. Vậy,
người

“đi tìm những quy luật và những
hiểu biết về mọi hoạt động của
tự nhiên trong giới thú vật”,

Không phải là Darwin
– Darwin đã bao gồm toàn bộ giới hữu cơ vào
trong cuộc đấu tranh đó sao, – mà chính là một con
ngáo ộp tưởng tượng nào đó, do chính ông
Đuy-rinh chế tạo ra. Vả lại, chúng ta có thể
để mặc cái tên gọi: đấu tranh để
sinh tồn, cho sự phẫn nộ có tính chất hết sức
đạo đức của ông Đuy-rinh. Còn cái sự
thật là một cuộc đấu tranh như thế
cũng tồn tại trong giới thực vật thì
mỗi cánh đồng cỏ, mỗi thửa ruộng lúa mì,
mỗi khu rừng đều có thể chứng minh cho ông
ta thấy được, nhưng vấn đề không
phải ở tên gọi, vấn đề không phải nên
gọi là “đấu tranh để sinh tồn” hay
là “thiếu điều kiện sinh tồn, và những
tác động cơ giới”, mà vấn đề là sự
thật ấy ảnh hưởng như thế nào
đến sự bảo tồn hay sự biến
đổi của các loài ? Về điểm này, ông
Đuy-rinh cứ khăng khăng giữ một sự im
lặng đồng nhất với bản thân nó một
cách ngoan cố. Vì thế tất cả mọi cái trong
sự đào thải tự nhiên vẫn giữ nguyên như
cũ.

Nhưng chủ nghĩa Darwin “tạo ra
những sự chuyển hoá và những sự khác biệt
của nó từ cái hư vô”.

Thật vậy, khi bàn về đào thải tự
nhiên, Darwin bỏ qua không nói đến những nguyên nhân
đã gây ra những sự biến đổi trong những
cá thể khác nhau, mà trước hết ông bàn đến
cái phương thức mà những sự sai lệch cá
biệt đó đã dần dần trở thành đặc
tính của một giống, một biện chứng hay
một loài nhất định. Đối với Darwin,
vấn đề trước tiên chưa phải là đi
tìm những nguyên nhân đó, – những nguyên nhân mà cho
đến nay một phần còn hoàn toàn chưa biết
đến, một phần chỉ có thể nêu ra một
cách rất chung chung, – mà là đi tìm một hình thức
hợp lý, trong đó tác dụng của những nguyên nhân
đó được cố định lại và có một
ý nghĩa vừng chắc. Trong việc này Darwin đã gán cho
sự phát hiện của mình một phạm vi hoạt
động quá rộng, đã coi nó là cái đòn bẩy duy
nhất của sự biến đổi các loài và đã
vị vấn đề hình thức dưới đó những
biến đổi cá biệt trở thành phổ biến mà
coi thường vấn đề nguyên nhân của những
biến đổi cá biệt lặp đi lặp lại
nhiều lần – đó là một khuyết điểm mà
ông đã mắc phải giống như phần lớn
những người đã làm cho khoa học tiến bộ
thực sự. Thêm nữa, nếu Darwin tạo ra những
biến đổi cá biệt từ hư vô bằng cách
chỉ dựa vào “sự khôn ngoan của người
chọn giống” thì hoá ra mỗi một người
chọn giống cũng tạo ra từ cái hư vô
những biến đổi không chỉ có tính chất
giả định, mà là hiện thực, trong các hình
thức động vật và thực vật. Nhưng
người đã thúc đẩy nghiên cứu xem những
biến đổi và những khác biệt ấy do đâu
mà có, lại chẳng phải ai khác ngoài Darwin.

Trong thời gian gần đây, quan niệm về
đào thải tự nhiên đã được mở
rộng, đặc biệt là nhờ Haeckel, và sự
biến đổi của các loài được coi là
kết quả của sự tác động qua lại
giữa thích ứng và di truyền, thích ứng
được trình bày như là mặt biến đổi,
còn di truyền – là mặt bảo tồn của quá trình.
Nhưng cả cái đó cũng không làm vừa lòng ông
Đuy-rinh.

“Sự thích ứng thật sự với
những điều kiện sống do tự nhiên đem
lại hoặc tước đi, giả định
phải có những sự kích thích và những hình thức
hoạt động do các quan niệm quyết định.
Nếu không thì sự thích ứng chỉ là cái vẻ bề
ngoài, và khi đó tính nhân quả đang hoạt động
không vượt qua những nấc thấp của vật
lý, hoá học và sinh lý – thực vật.”

Một lần nữa, cái tên gọi lại làm cho
ông Đuy-rinh nổi giận. Nhưng, dù ông ta có gọi cái
tên gì đi nữa thì ở đây vấn đề vẫn
đặt ra như sau: những quá trình như vậy có gây
ra những biến đổi trong các loài sinh vật hay
không? Và một lần nữa ông Đuy-rinh lại không
trả lời.

“Nếu trong sự lớn lên của mình,
một cái cây chọn con đường trên đó nó
nhận được nhiều ánh sáng nhất, thì kết
quả đó của sự kích thích chẳng qua chỉ là
một sự kết hợp giữa những lực
vật lý với những tác nhân cơ hoá học, và ở
đây nếu người ta muốn nói đến việc
thích ứng – không phải là theo lối ẩn dụ, mà theo
đúng nghĩa của từ – thì điều đó tất
phải đem lại một sự lẫn lộn có tính
chất duy linh chủ nghĩa vào trong các khái niệm”.

Một người biết một cách hoàn toàn
chính xác là vì ý chí của ai mà tự nhiên làm điều này
hay điều kia, một người nói đến sự
tinh tế của tự nhiên và thậm chí đến ý chí
của tự nhiên nữa, chính con người ấy
lại nghiêm ngắc đối với những
người khác như thế đó ! Quả thật là
một sự lẫn lộn có tính chất duy linh chủ
nghĩa – nhưng ở ai, ở Haeckel hay ở ông
Đuy-rinh?

Và đây chăng những là một sự lẫn
lộn duy linh chủ nghĩa mà còn là một sự lẫn
lộn lôgich nữa. Chúng ta đã thấy ông Đuy-rinh
cố hết sức nhấn mạnh rằng khái niệm
mục đích cũng có giá trị trong tự nhiên:

“Quan hệ giữa phương tiện và
mục đích hoàn toàn không giả định phải có
một ý định tự giác”.

Nhưng sự thích ứng không có ý định
tự giác, không thông qua các quan niệm, mà ông kiên quyết
phản đối, là cái gì nếu không phải là một
hoạt động nhằm vào mục đích một cách vô
ý thức như thế?

Cho nên, nếu những con chẫu chàng và những
côn trùng ăn lá cỏ màu xanh, những con vật sống
ở sa mạc có màu vàng của cát và những con vật
ở hai cực trái đất chủ yếu có màu
trắng của tuyết, thì chắc chắn chúng có màu
sắc như vậy không phải là do chúng có ý định
trước hoặc do những quan niệm nào đó; trái
lại, chỉ có thể giải thích những màu sắc
ấy bằng tác dụng của những lực vật lý
và những nhân tố hoá học mà thôi. Tuy nhiên, không thể
chối cãi được rằng những con vật
ấy, nhờ những màu sắc đó, đã thích ứng
một cách có mục đích với môi trường trong đó
chúng đang sống, rằng nhờ thế, những
kẻ địch của chúng khó nhìn thấy chúng hơn
nhiều. Cũng như vậy, những khí quan mà một
số thực vật dùng để bắt và ăn
những côn trùng đậu vào chúng, cũng thích ứng
với hoạt động đó, – và thậm chí còn thích
ứng một cách có mục đích nữa. Nếu ông
Đuy-rinh cứ khăng khăng cho rằng sự thích
ứng chỉ có thể do tác động của các quan
niệm gây ra, thì ông ta chỉ dùng những lời lẽ
khác để nói rằng hành động có mục đích
cũng phải được thực hiện thông qua các
quan niệm, nó phải tự giác, phải cố ý.
Điều đó, một lần nữa, – như
thường thấy trong triết học hiện thực,
– lại dẫn chúng ta đến đấng sáng tạo
đang thực hiện mục đích, tức là đến
thượng đế.

“Trước kia, người ta gọi cách
giải thích ấy là tự nhiên chấn luận và
người ta coi thường nó” (ông Đuy-rinh nói) ;
“nhưng giờ đây, cả về mặt này nữa,
hình thức người ta đã đi ngược trở
lại”.

Từ sự thích ứng, bây giờ chúng ta
chuyển sang tính di truyền. Theo ông Đuy-rinh thì cả
trong vấn đề này nữa, chủ nghĩa Darwin
cũng hoàn toàn đi sai đường. Dường
như Darwin cho rằng toàn bộ giới hữu cơ
đều bắt nguồn từ một sinh vật duy
nhất. Theo Darwin thì hoàn toàn không có sự tồn tại
độc lập bên cạnh nhau của những sản
phẩm tự nhiên cùng một tổ tiên, và vì vậy,
với những quan niệm của mình nhìn vào quá khứ ông
sẽ lập tức bị bế tắc một khi
sợi dây sinh đẻ hay một phương thức sinh
đôi nảy nở nào khác bị đứt đoạn
trong tay ông.

Nói một cách lịch sự thì việc khẳng
định rằng Darwin cho tất cả các vật
hữu cơ hiện nay đều do một sinh vật
nguyên thuỷ duy nhất sinh ra, là “một sáng tạo và
tưởng tượng tự do” của ông
Đuy-rinh. Ở trang trước trang cuối cùng của
cuốn “nguồn gốc các loài”, in lần thứ
6, Darwin nói rõ rằng ông coi

“Tất cả các sinh vật không phải là
những sáng tạo riêng biệt, mà là dòng dõi theo trực
hệ của một số ít sinh vật”.

Còn Haeckel thì đi xa hơn nhiều và cho rằng

“Có một nguồn gốc hoàn toàn độc
lập đối với giới thực vật, và
một nguồn khác đối với giới động
vật”, và giữa hai nguồn gốc đó, “có
một số nguồn gốc của những đơn
tế bào độc lập, và mỗi nguồn gốc này
hoàn toàn độc lập với hai nguồn gốc trên,
đều phát triển từ một hình thức nguyên
tế bào không có nhân, tổ tiên của riêng nó”[23]
(“Lịch sử sáng tạo của tự nhiên”,
tr.397).

Sinh vật nguyên thuỷ này, được ông
Đuy-rinh bịa ra chỉ là để hết sức bôi
nhọ nó bằng cách so sánh với người Do Thái nguyên
thuỷ là Adam; nhưng chẳng may – tức là chẳng may
cho ông Đuy-rinh – ông ta vẫn không hề ráng những
sự phát hiện của (George) Smith về át-xi-ri chứng
minh rằng người Do-thái nguyên thuỷ đó là
tiền thân của người Xê-mít nguyên thuỷ; rằng
tất cả câu chuyện sáng thể và hồng thuỷ
trong Kinh thánh chỉ là một đoạn lấy trong
một loạt những chuyện thần thoại tôn giáo
của cái đạo đa thần cố chung của
người Do-thái, người Ba-by-lon, người
Can-đê và người át-xi-ri.

Lời trách cứ Darwin là ông ta sẽ lập
tức bị bế tắc một khi sợi dây dòng dõi
đứt đoạn trong tay ông, tất nhiên là một
lời trách cứ nghiêm khắc nhưng không thể bác
bỏ được. Tiếc thay, toàn bộ nền khoa
học tự nhiên của chúng ta đều phải
chịu sự trách cứ đó. ở đâu mà sợi dây
dòng dõi đứt đoạn thì ở đó khoa học
tự nhiên cũng “sẽ bị bế tắc”. Cho
đến nay, nó vẫn còn chưa tạo ra
được những sinh vật hữu cơ ngoài cách
dùng sinh sản của các sinh vật khác; thậm chí nó
vẫn chưa hề tạo ra được chất
nguyên sinh đơn giản hoặc những chất an-bu-min khác
từ những nguyên tố hoá học. Vì vậy, về
nguồn gốc của sự sống, cho đến nay, nó
chỉ có thể nói chắc chắn được là
sự sống ắt phải nảy sinh bằng con
đường hoá học. Nhưng có lẽ triết
học hiện thực có thể giúp chúng ta trong vấn
đề này, vì nó có những sản vật tự nhiên
cũng tồn tại độc lập bên cạnh nhau mà
không có quan hệ dòng dõi với nhau. Làm thế nào mà
những sản vật ấy đã có thể nảy sinh
được? Bằng cách tự sinh sản chăng?
Nhưng cho đến nay, ngay cả những kẻ tán thành
thuyết tự sinh một cách sốt sắng nhất
cũng không có tham vọng rằng bằng con
đường ấy người ta có thể tạo ra
được một cái gì khác ngoài các vi khuẩn,
những mầm nấm và những thể hữu cơ
rất nguyên sơ khác – chứ không phải những côn
trùng, cá, chim hay động vật có vú. Như vậy,
nếu những sản vật cùng loài ấy của tự
nhiên – lẽ dĩ nhiên là những sản vật hữu
cơ, vì ở đây chỉ nói đến chúng mà thôi – không
có liên quan với nhau bằng một dòng dõi chung thì tất
nhiên là ở chỗ nào mà “sợi dây dòng dõi đứt
đoạn”, những sản vật ấy hay mỗi
tổ tiên của chúng ắt phải ra đời bằng
một hành động sáng tạo riêng biệt. Thế là
chúng ta đã trở về với chúa sáng tạo và với
cái mà người ta gọi là tự nhiên thần luận.

Tiếp nữa ông Đuy-rinh còn cho rằng Darwin
đã tỏ ra rất nông cạn khi nâng.

“hành động phối hợp tinh giao
đơn giản của những đặc tính là nguyên
tắc cơ bản của sự xuất hiện
những đặc tính ấy”.

Đây cũng lại là sản phẩm của
sự sáng tạo và tưởng tượng tự do
của nhà triết học sâu sắc đến tận
gốc rễ của chúng ta. Trái lại, Darwin tuyên bố
dứt khoát rằng: từ ngữ đào thải tự
nhiên chỉ bao hàm sự bảo tồn những biến
đổi, chứ không bao hàm sự sản sinh ra các
biến đổi (tr.63). Nhưng mưu toan mới đó,
định gán cho Darwin những điều mà ông chưa
từng nói, lại giúp chúng ta hiểu được
tất cả sự sâu sắc kiểu Đuy-rinh của
những ý kiến sau đây:

“Nếu người ta đi tìm trong đồ
thức nội tại của sự sinh đẻ một
nguyên tắc nào đó của sự biến đổi
độc lập, thì tư tưởng đó hoàn toàn hợp
lý; bởi vì tư tưởng đem nguyên tắc về
sự phát sinh của vạn vật kết hợp với
nguyên tắc về sự sinh sôi nảy nở trên cơ
sở tinh giao thành một chính thể, rồi từ
một quan điểm cao hơn, coi cái gọi là sự sinh
không phải là cái đối lập tuyệt đối
với sự tái sinh sản mà chính là sự sinh sản, –
tư tưởng ấy là một tư tưởng tự
nhiên”.

Và con người đã có thể viết những
lời vô nghĩa như thế lại không ngượng
ngùng chê trách Hegel về cái “tiếng lòng” của ông!

Nhưng chúng ta đã nghe khá đủ những
lời càu nhàu và cáu gắt bực bội và mâu thuẫn mà
ông Đuy-rinh thốt ra cho đã cơn giận
trước bước tiến khổng lồ mà khoa học
tự nhiên đạt được nhờ sự thúc đẩy
của thuyết Darwin. Cả Darwin lẫn những
người theo ông trong các nhà nghiên cứu tự nhiên,
đều không hề nghĩ đến chuyện làm
giảm bớt công lao vĩ đại của Lamarck
bằng bất cứ cách nào; trái lại, chính Darwin và
những môn đệ của ông là những người
đầu tiên nên quên rằng trong thời Lamarck, khoa
học còn hoàn toàn chưa có đủ tài liệu để
giải đáp vấn đề nguồn gốc các loài
bằng cách nào khác, ngoài cách dự đoán – có thể nói là
theo kiểu tiên tri. Nhưng từ thời kỳ Lamarck không
những người ta đã thu thập được
những tài liệu phong phú từ lĩnh vực các khoa
thực vật học và động vật học miêu
tả và giải phẫu, mà còn xuất hiện hai ngành khoa
học hoàn toàn mới, có ý nghĩa quyết định
đối với vấn đề đang thảo
luận ở đây: nghiên cứu sự phát triển
của các mầm thực vật và động vật (phôi
thai học) và nghiên cứu vết tích hữu cơ còn
lưu lại trong các lớp của vỏ trái đất
(cổ sinh vật học). Cụ thể là người ta
thấy có một sự trùng hợp đặc biệt
giữa sự phát triển tuần tự của những
phôi hữu cơ thành những sinh vật trưởng thành
và cái chuỗi những thực vật và động
vật kế tiếp nhau xuất hiện trong lịch
sử trái đất. Và chính sự trùng hợp đó đã
đem lại cho thuyết tiến hoá một cơ sở
hết sức chắc chắn. Nhưng bản thân
thuyết tiến hoá cũng còn rất trẻ, nên chắc
chắn rằng sự nghiên cứu sau này sẽ phải
sửa đổi rất nhiều những quan niệm
hiện tại, kể cả những quan niệm thật
sự là của Darwin, về quá trình tiến hoá của các
loài.

Nhưng triết học hiện thực có thể
nói với chúng ta những gì tích cực về sự phát
triển của đời sống hữu cơ?

“Sự…. biến đổi của các loài là
một giả thuyết có thể tiếp nhận
được”. Nhưng bên cạnh đó, cũng
phải thừa nhận “sự tồn tại
độc lập bên cạnh nhau của những sản
vật tự nhiên cùng loài mà không có quan hệ dòng dõi với
nhau”.

Như thế thì rõ ràng phải nghĩ rằng
những sản vật tự nhiên khác loài, – tức là
những loài đang biến đổi, – là có quan hệ
dòng dõi với nhau, còn những sản vật tự nhiên
cùng một loài thì lại không như thế. Tuy nhiên cũng
không phải hoàn toàn đúng như thế; vì ngay trong
những loài đang biến đổi.

“Mối liên hệ thông qua một dòng dõi chung,
trái lại, cũng chỉ là một hành động rất
thứ yếu của tự nhiên”.

Như vậy là vẫn có dòng dõi nhưng lại là
“thứ yếu”. Chúng ta lấy làm vui mừng
thấy rằng quan hệ dòng dõi, sau khi đã bị ông
Đuy-rinh nói rất nhiều điều xấu xa và
đen tối , thì cuối cùng vẫn được ông ta
để nó đi qua bằng cửa sau. Về đào
thải tự nhiên thì tình hình cũng như vậy, vì sau
khi đã bày tỏ tất cả sự phẫn nộ
đạo đức của mình đối với
cuộc đấu tranh để sinh tồn, nhờ nó mà
sự đào thải tự nhiên được thực
hiện, thì đột nhiên ông ta lại nói rằng:

“Như vậy là cần phải đi tìm cái
cơ sở sâu xa hơn của toàn bộ những
đặc tính của các cấu tạo hữu cơ trong
những điều kiện sinh sống và những quan
hệ vũ trụ, còn sự đào thải tự nhiên mà
Darwin nhấn mạnh thì chỉ có thể là vấn
đề thứ yếu”.

Do đó vẫn có đào thải tự nhiên, tuy là
thứ yếu; do đó, cùng với đào thải tự
nhiên thì cũng có sự đấu tranh để sinh
tồn, và do đó, có cả sự thừa nhân khẩu, theo
các thuyết kiểu thày tu của Malthus ! Tất cả chí
có thể, – còn về những cái khác thì ông Đuy-rinh
bảo chúng ta hãy đọc Lamarch.

Cuối cùng, ông ta cảnh cáo chúng ta không nên lạm
dụng những từ biến thái và phát triển. ông ta cho
rằng biến thái là một khái niệm không rõ ràng, còn khái
niệm phát triển thì chỉ có thể thừa nhận
được khi thực sự có thể xác lập
được những quy luật phát triển. Chúng ta nên
dùng từ “cấu tạo” để thay hai từ
trên, và như vậy thì mọi việc sẽ ổn cả.
Lại vẫn câu chuyện cũ: sự vật vẫn y
như trước, và ông Đuy-rinh hoàn toàn thoả mãn
một khi chúng ta thay đổi tên gọi. Khi chúng ta nói
về sự phát triển của gà con trong trứng là chúng
ta tạo ra sự lẫn lộn, bởi vì chúng ta chỉ
có thể chứng minh những quy luật phát triển
một cách không đầy đủ mà thôi. Nhưng nếu
chúng ta nói đến “cấu tạo” của con gà
con thì mọi cái đều rõ ràng. Như vậy là từ
nay, chúng ta sẽ không nói: em bé này phát triển rất
tốt, mà nói: nó được cấu tạo rất
tốt, và chúng ta có thể mừng ông Đuy-rinh là đã
xứng đáng đứng ngang hàng với tác giả
tập ca ” chiếc nhẫn của Nibelungen”, không
những về sự đánh giá cao cả của ông ta đối
với bản thân mà còn về phẩm chất của ông ta
với tư cách là nhà soạn nhạc của tương
lai[24].

[Chương trước]  
[Mục lục]  
[Chương tiếp theo]