Chi tiết tin

Phạm vi điều chỉnh

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng một đạo luật làm cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất về đăng ký và quản lý hộ tịch trong toàn quốc và tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Luật hộ tịch quy định rõ về phạm vi điều chỉnh của Luật, xác định khái niệm hộ tịch và quy định rõ các nội dung của việc đăng ký hộ tịch.

Luật hộ tịch chủ yếu quy định về thẩm quyền, thủ tục đăng ký hộ tịch. Để bảo đảm tính ổn định của hệ thống pháp luật, Luật hộ tịch không quy định thẩm quyền, thủ tục giải quyết các việc về quốc tịch, nuôi con nuôi mà Luật quốc tịch Việt Nam, Luật nuôi con nuôi đã quy định, trừ việc ghi vào sổ việc nuôi con nuôi của công dân dân Việt Nam đã giải quyết ở nước ngoài do đây là loại việc đơn giản, cần thống nhất giao cho UBND cấp huyện thực hiện (theo Luật nuôi con nuôi và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của Chính phủ, việc ghi vào sổ hộ tịch việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam đã giải quyết ở nước ngoài thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp).

Khái niệm hộ tịch

Để làm rõ nội hàm, là cơ sở để xác định phạm vi đăng ký hộ tịch, Luật hộ tịch đã giải thích và làm rõ khái niệm hộ tịch, đăng ký hộ tịch và các vấn đề có liên quan:

* Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết (Khoản 1 Điều 2).

* “Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”.

Nội dung đăng ký hộ tịch là việc:

– Xác nhận và ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung hộ tịch; khai tử (Khoản 1 Điều 3);

– Ghi vào Sổ hộ tịch việc thay đổi hộ tịch của cá nhân theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm: thay đổi quốc tịch; xác định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật; công nhận việc kết hôn; công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên một người mất tích, đã chết; bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự (Khoản 2 Điều 3).

– Ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài bao gồm: khai sinh; kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con nuôi, thay đổi hộ tịch; khai tử (Khoản 3 Điều 3).

Bảo đảm quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của cá nhân, nguyên tắc đăng ký hộ tịch

Trên cơ sở xác định quản lý và đăng ký hộ tịch là một trong những lĩnh vực quan trọng của quản lý nhà nước, có liên quan đến các quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, Luật hộ tịch đã dành riêng một điều (Điều 6) để xác định quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch của công dân.

Theo đó, các sự kiện hộ tịch của công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam, công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam đều phải được cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký hộ tịch. Ngoài ra, để bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch, Luật hộ tịch cũng quy định về trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo đảm điều kiện thuận lợi nhất để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ đăng ký hộ tịch cũng như điều kiện về ngân sách, cơ sở vật chất, nguồn lực để cơ quan đăng ký hộ tịch có điều kiện thực thi tốt nhiệm vụ của mình trong đăng ký và quản lý hộ tịch (Điều 8).

Xuất phát từ quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân trong đăng ký hộ tịch, Luật hộ tịch quy định rõ: khi đăng ký hộ tịch, người dân phải được tiếp cận các thủ tục đăng ký một cách công khai, minh bạch; cơ quan đăng ký hộ tịch phải có trách nhiệm ghi vào Sổ hộ tịch và cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử đầy đủ các nội dung đăng ký hộ tịch. Luật cũng quy định mỗi loại việc hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật hộ tịch.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch, Luật cũng quy định rõ cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống (Điều 5). Việc quy định người dân có quyền lựa chọn nơi đăng ký hộ tịch là điểm mới cơ bản so với các quy định về xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP. Để bảo đảm nguyên tắc mỗi loại việc hộ tịch chỉ được đăng ký tại một cơ quan đăng ký hộ tịch, Luật hộ tịch cũng đã quy định trách nhiệm thông báo của cơ quan đăng ký hộ tịch sau khi đăng ký các sự kiện hộ tịch cho người dân, theo đó: “Trường hợp cá nhân không đăng ký tại nơi thường trú thì Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã, Cơ quan đại diện nơi đã đăng ký hộ tịch cho cá nhân có trách nhiệm thông báo việc đăng ký hộ tịch đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cá nhân đó thường trú” (Khoản 4 Điều 5).

Các giấy tờ hộ tịch làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung bị thu hồi, hủy bỏ

Để hạn chế những hành vi tiêu cực có thể phát sinh tại cơ quan đăng ký hộ tịch, nâng cao ý thức trách nhiệm của người đi đăng ký hộ tịch, Luật hộ tịch đã đưa ra các quy định cấm đối với cá nhân khi đăng ký hộ tịch, bao gồm 9 nhóm hành vi sau đây (Điều 12):

– Cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật; làm hoặc sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ của người khác để đăng ký hộ tịch;

– Đe dọa, cưỡng ép, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch;

– Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đăng ký hộ tịch;

– Cam đoan, làm chứng sai sự thật để đăng ký hộ tịch;

– Làm giả, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ hộ tịch hoặc thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch;

– Đưa hối lộ, mua chuộc, hứa hẹn lợi ích vật chất, tinh thần để được đăng ký hộ tịch;

– Lợi dụng việc đăng ký hộ tịch hoặc trốn tránh nghĩa vụ đăng ký hộ tịch nhằm động cơ vụ lợi, hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước hoặc trục lợi dưới bất kỳ hình thức nào;

– Người có thẩm quyền quyết định đăng ký hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho bản thân hoặc người thân thích theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình;

– Truy cập trái phép, trộm cắp, phá hoại thông tin trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch.

Luật hộ tịch quy định Giấy tờ hộ tịch được cấp cho trường hợp đăng ký hộ tịch vi phạm quy định tại các điểm a, d, đ, g và điểm h Khoản 1 Điều 12 đều không có giá trị và phải thu hồi, huỷ bỏ (Khoản 2 Điều 12).

Cá nhân thực hiện hành vi quy định tại Khoản 1 Điều 12 thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trường hợp cán bộ, công chức vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều này, ngoài bị xử lý như trên còn bị xử lý kỷ luật theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức (Khoản 3 Điều 12).

Phương thức đăng ký hộ tịch linh hoạt

– Để phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, áp dụng khoa học công nghệ trong đăng ký và quản lý hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, Luật hộ tịch đã quy định các phương thức đăng ký hộ tịch hết sức linh hoạt. Theo đó, cá nhân có yêu cầu đăng ký hộ tịch, cấp bản sao trích lục hộ tịch có thể trực tiếp nộp hồ sơ, gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính và khi điều kiện cho phép có thể gửi qua hệ thống đăng ký hộ tịch trực tuyến (Khoản 1 Điều 9).

Miễn lệ phí đăng ký hộ tịch đối với một số trường hợp

– Để giải quyết vấn đề xác nhận và sử dụng giấy tờ do nước ngoài cấp tại Việt Nam, Luật hộ tịch đã quy định: Những giấy tờ liên quan đến việc đăng ký hộ tịch nếu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp thì phải hợp pháp hóa lãnh sự (Điều 10). 

Ngoài ra, Chương này còn quy định về vấn đề lệ phí hộ tịch (Điều 11). Theo đó, miễn lệ phí đăng ký hộ tịch cho những người thuộc gia đình có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; người khuyết tật; đăng ký khai sinh, khai tử đúng hạn, giám hộ, kết hôn của công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.

Thúy Vân