NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN – Tài liệu text
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.75 MB, 467 trang )
Luyện thi học sinh giỏi
Môn Ngữ văn
Tập 2
PHẦN MỞ ĐẦU : MỘT VÀI LƯU Ý CHUNG
1. Về phía giáo viên
Lựa chọn nhân tố
Bồi dưỡng học sinh giỏi
2. Về phía học sinh
Yêu cầu cơ bản
Yêu cầu về năng lực tiếp nhận văn bản
Kĩ năng tiếp nhận văn bản
Chương 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THƯỜNG GẶP TRONG ĐỀ THI HỌC
SINH GIỎI NGỮ VĂN
I. Tác phẩm văn học
1. Khái niệm.
2. Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể.
3. Nội dung và hình thức của tác phẩm văn học
4. Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức tác phẩm văn học
5. Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học
II. Bản chất của văn học
1. Văn chương bao giờ cũng phải bắt nguồn từ cuộc sống.
Trang 1
2. Văn chương cần phải có sự sáng tạo.
III. Chức năng của văn học
1. Chức năng nhận thức.
2. Chức năng giáo dục.
3. Chức năng thẩm mĩ .
4. Mối quan hệ giữa các chức năng văn học.
IV. Con người trong văn học.
1. Đối tượng phản ánh của văn học.
2. Hình tượng văn học.
V. Thiên chức nhà văn
1.Thế nào là thiên chức của nhà văn?
2. Bản tính của thiên chức nhà văn.
VI.. Yêu cầu đối với người nghệ sĩ
1. Yêu cầu thứ nhất: Người nghệ sĩ phải ln sáng tạo, tìm tịi những đề tài mới,
hình thức mới.
2. u cầu thứ hai: Người nghệ sĩ phải biết rung cảm trước cuộc đời.
3. Yêu cầu thứ 3: Nhà văn phải có phong cách riêng.
VII. Phong cách sáng tác
1. Khái niệm phong cách sáng tác:
2. Đặc điểm của phong cách nghệ thuật
VIII. Nhà văn- Tác phẩm- Bạn đọ
1. Nhà văn và tác phẩm.
2. Bạn đọc.
IX. THƠ
1. Thơ là gì?
2. Đặc trưng của thơ.
3. Một tác phẩm thơ có giá trị
4. Tình cảm trong thơ.
5. Thơ trong mối quan hệ hiện thực.
6. Sáng tạo trong thơ.
7. Để sáng tạo và lưu giữ một bài thơ hay.
X. TÍNH NHẠC, HỌA, ĐIỆN ẢNH, CHẠM KHẮC TRONG THƠ
1. Tính nhạc.
2. Tính họa
3. Điện ảnh.
4. Điêu khắc.
XI. VẺ ĐẸP CỦA NGÔN NGỮ THƠ CA
XII. NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC.
1. Khái niệm
Trang 2
2. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm.
3. Phân loại nhân vật văn học
4. Một số biện pháp xây dựng nhân vật.
XIII. TÌNH HUỐNG TRUYỆN.
1. Khái niệm
2. Phân loại.
3. Phương pháp tiếp cận tình huống.
XIV. TÁC PHẨM VĂN HỌC CHÂN CHÍNH.
1. Thế nào là tác phẩm văn học chân chính?
2. Yêu cầu của một tác phẩm văn học chân chính
XV. GIỌNG ĐIỆU TRONG VĂN HỌC
1. Giọng điệu là gì
2. Yêu cầu khi tìm hiểu giọng điệu trong văn học.
3., Yêu cầu khi viết một bài văn về giọng điệu trong văn học.
XVI. CHI TIẾT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC.
1. Chi tiết nghệ thuật là gì?
2. Đặc điểm và vai trò của chi tiết trong tác phẩm tự sự
3. Cách cảm nhận chi tiết trong tác phẩm tự sự
Chương 2 : CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN THI HSG NGỮ VĂN THPT ( Phần 1 )
CHUYÊN ĐỀ 1 : VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM.
1. Những giá trị cơ bản của Văn học dân gian Việt Nam.
2. Vai trò của văn học dân gian
3. Một số lưu ý về phương pháp đọc – hiểu văn học dân gian
4. Ảnh hưởng của Văn học dân gian đối với văn học viết Việt Nam.
CHUYÊN ĐỀ 2 : CA DAO
1. Nhân vật trữ tình
2. Thể thơ.
3. Thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật
4. Ngơn ngữ
5. Kết cấu
6. Một số biểu tượng, hình ảnh trong ca dao
7. Bi kịch người phụ nữ trong ca dao
CHUYÊN ĐỀ 3 : THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI.
1. Đặc trưng thi pháp: hệ thống ước lệ thẩm mỹ cổ điển.
2. Thiên nhiên trong văn học trung đại.
3. Một thế giới nghệ thuật phi thời gian.
4. Quan niệm con người trong văn chương trung đại.
CHUYÊN ĐỀ 4: TÍNH QUY PHẠM VÀ BẤT QUY PHẠM TRONG VĂN HỌC
TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
1. Tính quy phạm trong văn học trung đại Việt Nam:
1.1/ Khái niệm
Trang 3
1.2/ Đặc điểm
2. Tính bất quy phạm trong văn học trung đại Việt Nam
2.1/ Khái niệm
2.2/ Đặc điểm
3. Tính quy phạm và bất quy phạm qua một số tác phầm tiêu biểu
4. Đánh giá
CHUN ĐỀ 5: HÀO KHÍ ĐƠNG A QUA THƠ THỜI TRẦN
1. Thế nào là hào khí Đơng A?
2. Hào khí Đơng A trong các tác phẩm: “Tụng giá hoàn kinh sư”, “Thuật hoài”,
“Cảm hoài”.
CHUYÊN ĐỀ 6 : THƠ NGUYỄN TRÃI VÀ THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
1. Nguyễn Trãi và Bảo kính cảnh giới – bài số 43
2. Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nhàn
CHUYÊN ĐỀ 7 : QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HOC VIỆT NẠM TỪ ĐẦU
THẾ KỈ XX ĐẾN 1945
1. Khái niệm hiện đại hóa
2. Q trình hiện đại hóa
3. Sản phẩm của hiện đại hố văn học
CHUN ĐỀ 8 : THƠ MỚI
1. Hoàn cảnh lịch sử xã hội
2. Các thời kỳ phát triển của Phong trào thơ mới
3. Đặc điểm nổi bật của Phong trào thơ mới
4. Những đóng góp của phong trào thơ mới
5. Những tác giả tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932 – 1945)
CHUYÊN ĐỀ 9 : PHONG CÁCH THƠ XUÂN DIỆU
Chuyên đề 10 : GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO
1. Khái niệm về giá trị hiện thực
2. Khái niệm giá trị nhân đạo
3. Biểu hiện của giá trị hiện thực trong văn học trung đại
4. Giá trị hiện thực và nhân đạo trong một số tác phẩm lớp 11
Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” – Thạch Lam
Truyện ngắn “Chí Phèo”– Nam Cao. Bổ sung nội dung
CHUYÊN ĐỀ 11 : CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN
I. Chủ nghĩa lãng mạn
1. Lịch sử hình thành và đặc trưng cơ bản:
2. 2. Trào lưu lãng mạn trong văn học Việt Nam:
II. Chủ nghĩa hiện thực
1. Lịch sử hình thành và đặc trưng cơ bản:
Trang 4
2. Trào lưu hiện thực phê phán trong văn học Việt Nam
III.
Sự khác biệt giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong nội
dung phản ánh
CHUYÊN ĐỀ 12: ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN
VIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN
THPT
I. Khái quát về Chủ nghĩa hiện thực phê phán
1. Lịch sử hình thành
2. Nhân vật trung tâm và cảm hứng chủ đạo
3. Các nguyên tắc tái hiện đời sống
4. Đặc trưng thi pháp
II. Đặc trưng của Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong Văn học Việt Nam
1. Sự hình thành
2. Đặc trưng
III, ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VIỆT NAM
QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT
1. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia ( Trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng)
2. Các truyện ngắn của Nam Cao
Chuyên đề 13 : TRÀO LƯU LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1930 – 1945
I. Hồn cảnh ra đời, q trình phát triển của trào lưu lãng mạn trong văn học Việt
Nam giai đoạn 1930 – 1945
II. Đặc trưng của trào lưu lãng mạn
III.Thơ mới
1. Đặc trưng về nội dung
2. Đặc trưng về nghệ thuật
3. Những nhà thơ tiêu biểu
Xuân Diệu- Nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ mới
Hàn Mặc Tử- Hồn thơ phức tạo và bí ẩn của phong trào Thơ mới
Chuyên đề 14: VĂN XUÔI LÃNG MẠN VIỆT NAM : THẠCH LAM- NGUYỄN
TUÂN
A. Văn xuôi lãng mạn Việt Nam
B. TÁC GIẢ THẠCH LAM VÀ HAI ĐỨA TRẺ
C. TÁC GIẢ NGHUYỄN TUÂN VÀ CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ
Chuyên đề 15 : VẺ ĐẸP CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TẬP THƠ NHẬT KÍ
TRONG TÙ
Chuyên đề 16 :CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ
NỬA CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1945
I. CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾ
KỈ XIX
1. Sự chuyển tiếp chủ nghĩa yêu nước trong buổi giao thời Âu – Á của văn học
Việt Nam từ cuối thế kỉ XIX
Trang 5
a/Bối cảnh lịch sử của buổi giao thời Ấu -Á
b. Những tác giả tiêu biểu của buổi giao thời Âu – Á cuối thế kỉ XIX: Nguyễn
Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trường Tộ,
II. CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ
XX ĐẾN NĂM 1945
1. Chủ nghĩa yêu nước trong văn học Việt Nam giai đoạn 1900 – 1930
2. Chủ nghĩa yêu nưóc trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945
MỤC LỤC QUYỂN 2 ( 469 Trang)
Chương 1 :KĨ NĂNG ĐƯA LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI VĂN HSG
I. Những câu hỏi cho người mới bắt đầu
1. Lý luận văn học là gì?
2. Học lý luận văn học như thế nào?
3. Kiến thức lý luận văn học nằm ở đâu trong bài làm nghị luận văn học?
4. Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học
II. Năm nguyên tắc quan trọng khi đưa kiến thức lí luận văn học vào bài văn
nghị luận
III. HƯỚNG DẲN HỌC SINH KHAI THÁC DẲN CHỨNG CHO NHỮNG
VẤN ĐỀ CỐT LÕI VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC ĐỐI VỚI ĐỀ THI HỌC
SINH GIỎI QUỐC GIA
IV.
KIẾN THỨC BỔ TRỢ : VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀ LÍ LUẬN VĂN
HỌC CHO HỌC SINH GIỎI THEO GIỚI HẠN CHƯƠNG TRÌNH
NGỮ VĂN 11 TỪ NĂM 2018
(Tài liệu tập huấn dành cho Giáo viên dạy đội tuyển HSG)
Chương 2: CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN THI HSG NGỮ VĂN THPT (Phần 2 )
Chuyên đề 17 : NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I. Nghị luận xã hội là gì?
II. Những yêu cầu khi làm văn Nghị luận xã hội
III. Phân loại đề văn Nghị luận xã hội
IV. Cấu trúc bài văn Nghị luận xã hội
Dạng 1 : Nghị luận về tư tưởng đạo lí
Dạng 2 : Nghị luận về hiện tượng đời sống
Dạng 3 : Nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm hoặc câu chuyện
Dạng 4 : Dạng đề kết hợp hai mặt tốt xấu trong một vấn đề
Dạng 5. Dạng đề mang tính chất đối thoại, bộc lộ suy nghĩ riêng về vấn đề được
đặt ra
Dạng 6: Nghị luận về một vấn đề được gợi ra từ một bức tranh / hình ảnh
Tổng hợp 100 dẫn chứng cho bài Nghị luận xã hội
Chuyên đề 18 : KỊCH BẢN VĂN HỌC
I.Khái quát về kịch bản văn học
1. Khái niệm
Trang 6
2. Phân loại kịch.
3. Đặc trưng của kịch
II.Một số tác phẩm kịch trong chương trình THPT
1. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” – Bi kịch về cái đẹp bị bức tử
2. Hồn Trương Ba, Da Hàng thịt
Chuyên đề 19 : KÍ VÀ TÙY BÚT
I, Kí
1. Khái niệm
2. Phân loại
3. Đặc trưng của thể loại kí.
4. Những điểm cần lưu ý khi đọc- hiểu tác phẩm kí theo đặc trưng thể loại
II, Tùy bút
1. Khái niệm
2. Đặc điểm
III. Một số tác phẩm kí, Tùy bút trong chương trình
1. Người lái đị sơng Đà
2. Ai đã đặt tên cho dịng sơng?
Chun đề 20: TÌNH HUỐNG TRUYỆN
(Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân; Vợ nhặt của Kim Lân và Chiếc thuyền ngoài
xa của Nguyễn Minh Châu”)
Chuyên đề 21 : PHONG CÁCH CỦA CÁC NHÀ VĂN TIÊU BIỂU TRONG
CHƯƠNG TRÌNH THPT
Chuyên đề 22: KHÁM PHÁ LÝ TƯỞNG CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ TRONG VH
HIỆN ĐẠI VN
I. Khái quát
II. Lý tưởng người nghệ sĩ trong các tác phẩm đã học
1. Giai đoạn văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám 1945
2. Giai đoạn văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975:
3. Giai đoạn văn học Việt Nam sau 1975:
III. Kết luận
Chuyên đề 23 : CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN
1. Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong các truyện ngắn Việt Nam giai
đoạn 1930-1945
Chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao
Chi tiết đồn tàu trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
2. Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong các truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1945
– 1975
Chi tiết căn buồng Mị nằm và chi tiết tiếng sáo đêm xuân trong truyện ngắn
Vợ chồng A Phủ của Tơ Hồi
Chi tiết nụ cười và nước mắt, chi tiết nồi cháo cám trong truyện ngắn Vợ nhặt
Trang 7
của Kim Lân.
Chi tiết đôi bàn tay Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành
3. Những chi tiết nghệ thuật đặc sắc trong các truyện ngắn Việt Nam giai
đoạn 1975 đến hết thế kỉ XX
Chi tiết tấm ảnh nghệ thuật trong bộ lịch cuối năm trong truyện Chiếc
thuyền ngoài xa.
Chi tiết cây si ở đền Ngọc Sơn trong Một người Hà Nội của Nguyễn Khải
Chuyên đề 24 : GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT SỬ THI 1945-1975
Chun đề 25: HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VĂN 1945-1975
I. Hình tượng người lính trong thơ văn 1945-1975 nói chung
II. Hình tượng người lính trong các tác phẩm : Tây Tiến, Rừng Xà nu,
Những đứa con trong gia đình
Chuyên đề 26: NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN
(Vợ nhặt, Một người Hà Nội, Chiếc thuyền ngoài xa)
I. Về số phận của nhân vật
Cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ
Những nỗi đau do chiến tranh
II. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật người mẹ
Giàu đức hi sinh, vị tha, bao dung
Sắc sảo, hiểu đời và trải đời
III. Nghệ thuật khắc họa nhân vật
Nghệ thuật miêu tả nhân vật bà cụ Tứ
Nghệ thuật miêu tả nhân vật bà Hiền và nhân vật mẹ của Tuất
Nghệ thuật miêu tả nhân vật người đàn bà hàng chài
Chuyên đề 27: GƯƠNG MẶT ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ VĂN
Chuyên đề 28 : NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VÀ HÌNH
THỨC NGHỆ THUẬT CỦA THƠ VIỆT NAM NHÌN TỪ PHONG TRÀO THƠ
MỚI, THƠ CA CÁCH MẠNG (1945-1975) VÀ THƠ CA TỪ 1975 ĐẾN HẾT THẾ
KỈ XX
I. Những chuyển biến của thơ Việt nhìn từ phong trào thơ Mới, thơ ca cách mạng
(1945-1975), thơ Việt sau 1975 đến hết thế kỉ XX trên bình diện nội dung tư tưởng
1.Những chuyển biến của cảm hứng thơ
2. Những chuyển biến của cái tơi trữ tình trong thơ
II. Những chuyển biến của thơ Việt nhìn từ phong trào thơ Mới, thơ ca Cách
mạng, thơ Việt sau 1975 đến hết thế kỉ XX trên bình diện hình thức nghệ thuật
1. Những chuyển biến về cấu trúc thơ
Trang 8
2. Sự chuyển biến về giọng điệu nghệ thuật của thơ Việt
3. Những chuyển biến về hình ảnh thơ
4. Sự chuyển biến về ngôn ngữ thơ
Chuyên đề 29 : VĂN HỌC ĐỔI MỚI VÀ NHỮNG NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG
(Nguyễn Minh Châu, Thanh Thảo)
I.Khái quát
1. Những điểm mới của truyện ngắn sau năm 1975 so với giai đoạn trước
2. Điểm mới của thơ trữ tình sau năm 1975 so với giai đoạn trước
II.Nguyễn Minh Châu và Chiếc thuyền ngoài xa
III.Thanh Thảo và Đàn Ghi ta của Lorca
Chuyên đề 30 : QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI
I.
QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT
NAM 1945 – 1975
1. Quan niệm con người tập thể, đại chúng
2. Quan niệm con người sử thi
3. Quan niệm con người lí trí, đơn trị
II. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆT
NAM SAU 1975 ĐẾN NAY
1. Con người cá nhân
2. Con người thế sự, đời tư
3. Con người lưỡng diện, phức tạp và bí ẩn
Chuyên đề 31 : KHUYNH HƯỚNG THƠ TƯỢNG TRƯNG SIÊU THỰC SAU
1975
I. Về nội dung
1 Khuynh hướng thơ đi sâu vào vùng mờ tâm linh, vô thức và những biểu hiện
2 Cái tôi tâm linh, vô thức trong khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực hành trình của sự kế thừa và phát triển
3 Những tác giả tiêu biểu
II. Về hình thức thể hiện
1 Từ quan niệm mới về chữ và nghĩa của thơ, xu hướng thơ dòng chữ…
2. Biểu hiện phong phú ở từng nhà thơ
Chuyên đề 32 : ĐỘI NGŨ SÁNG TÁC THƠ VIỆT NAM SAU 1975
1. Vài nét về thơ Việt Nam sau 1975
2. Các tác giả tiêu biểu
Trang 9
Chương 3 :
NHỮNG BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM CAO CỦA HỌC SINH GIỎI
Nghị luận văn học :
Bài văn 1: Thơ là tiếng nói đầu tiên, tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tới
cuộc sống.
Bài văn 2: Chứng minh nhận định“Với Thơ Mới, thi ca Việt Nam bước vào một thời
đại mới”
Bài văn 3 :Chất thơ trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
Bài văn 4: Sinh thời Nam Cao đã từng rất tâm đắc với câu nói của một nhà văn Pháp
“người ta chỉ xấu xa, bần tiện trong con mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ”. Qua sự
nghiệp sáng tác của Nam Cao, Anh chị hãy chứng minh.
Bài văn 5: Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình nâng cao niềm tin vào
bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý.
Bài văn 6: Con người đến với cuộc sống từ nhiều nẻo đường, trên muôn vàn cung bậc
phong phú. Nhưng tiêu điểm mà con người hướng đến vẫn là con người
Bài văn 7: Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà văn nhân đạo từ trong cốt tủy
Bài văn 8:“Văn học là cuốn bách khoa toàn thư về cuộc sống”.
Bài văn 9: Nguyễn Tuân cho rằng “mỗi nhà văn là một phu chữ”. Em hiểu ý kiến trên
như thế nào? bằng việc phân tích vẻ đẹp của ngơn từ trong “tun ngơn độc lập” của Hồ
Chí Minh.
Bài văn 10: Bàn về ngơn ngữ nghệ thuật, có người cho rằng lựa chọn ngôn từ là yếu tố
quan trọng góp phần làm nên sự thành cơng của một tác phẩm thơ ca. Bằng việc phân
tích nghệ thuật, sử dụng ngôn từ trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng, em hãy làm
sáng tỏ ý kiến trên.
Bài văn 11: Bàn về mối quan hệ giữa nhà văn với bạn đọc, bạn đọc với tác phẩm Chế
Lan Viên viết.
“Mình là ta đấy, thơi ta vẫn gửi cho mình,
Sâu thẳm mình ư lại là ta đấy,
Ta gửi cho mình nhen thành nửa cháy,
Gửi viên đã con, mình lại dựng lên thành”.
Bằng việc phân tích một số tác phẩm trong chương trình Ngữ Văn 12, anh chị hãy làm
rõ mối quan hệ giữa tác giả và độc giả trong quan niệm trên của Chế Lan Viên.
Bài văn 12: So sánh phong cách viết kí của Nguyễn Tn trong Người lái đị sơng Đà
với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dịng sơng.
Bài văn 13
Có ý kiến cho rằng “phong cách văn học biểu hiện trước hết ở cách nhìn, cách cảm thụ
có tính chất khám phá ở giọng điệu riêng biệt của tác giả”.
Bằng việc phân tích tùy bút Người lái đị sơng Đà, hãy chứng minh nhận định trên.
Bài văn 14 Có ý kiến cho rằng “kí là trần thuật người thật, việc thật”, ý kiến của anh
chị về quan niệm này? Bằng việc phân tích một tác phẩm văn học lớp 12 hãy bình luận
ý kiến trên.
Bài văn 15 : “Thích một bài thơ, theo tơi nghĩ, trước hết là thích một cách nhìn,
một cách nghĩ, một cách xúc cảm, một cách nói, nghĩa là trước hết là thích một con
người”.
Nghị luận xã hội:
Trang 10
Bài văn 16:NLXH : Phải chăng sống là phải tỏa sáng?
Bài văn 17:Phía sau những lời khen…
Bài văn 18: Phía sau lời nói dối…
Bài văn 19 : Theo đuổi ước mơ….
Bài văn 20: NLXH Hãy sống trọn vẹn nhất.
Bài văn 21: Nghị luận về ý nghĩa câu chuyện Hai hạt mầm
Bài văn 22: Cuộc sống cần những giọt nước mắt.
Bài văn 23: Nếu một ngày cuộc sống nhuộm màu đen hãy cầm bút và vẽ cho nó những
vì sao lấp lánh.
Bài văn 24: Nghị luận XH: Tổ quốc trong tôi
Bài văn 25: Suy nghĩ của anh, chị về triết lý nhân sinh rút ra từ bài thơ “Quán hàng
phù thủy”
Bài văn 26: suy nghĩ về câu chuyện Bóng nắng bóng râm
Bài văn 27 : Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời, sự mất mát
lớn nhất là để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống.
Bài văn 28: Nghị luận về ý nghĩa đoạn thơ Lá Xanh- Nguyễn Sỹ Đại
Kiến thức bổ trợ 1 : Cấu trúc đề thi HSG Ngữ văn
Kiến thức bổ trợ 2 : Tổng hợp dẫn chứng cho bài NLXH
Kiến thức bổ trợ 3 : Những nhận định văn học hay
CÒN MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ ĐANG SOẠN, DỰ KIẾN SẼ HOÀN THIỆN
TRONG THỜI GIAN TỚI
Chuyên đề : Truyện Kiều
Chuyên đề :Tố Hữu – Đảng và thơ.Phong cách trữ tình – chính trị ( Từ ấy, Việt Bắc,
Bác ơi )
Chuyên đề : Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn(văn học 1945-1975)
Chuyên đề : Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua truyện kí chiến tranh (Người mẹ
cầm súng, Những đứa con trong gia đình, Đất nước đứng lên, Rừng xà nu.)
Chuyên đề :Chân dung Xn Quỳnh qua thơ tình (Sóng, Thuyền và biển, Thơ tình
cuối mùa thu, Nếu ngày mai em không làm thơ nữa, Hoa cỏ may)
Chuyên đề : Những áng thiên cổ hùng văn (Nam quốc sơn hà, Bình ngơ đaị cáo,
Tun ngơn độc lập)
Chun đề : Hình tượng tiếng đàn trong văn học ( Tì bà hành, Truyện Kiều, Đàn
ghi ta của Lorca)
Chương 1 :
KĨ NĂNG ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
I. NHỮNG CÂU HỎI CHO NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU
1. Lý luận văn học là gì?
Lý luận văn học, hiểu một cách đơn giản là bộ mơn nghiên cứu văn học ở bình diện
khái quát, nhằm tìm ra những quy luật chung nhất về văn học. Kiến thức lý luận văn học sẽ
giúp chúng ta trả lời các câu hỏi khái quát, ví dụ như:
Trang 11
Văn học bắt nguồn từ đâu?
Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạo thành?
Văn học được sáng tác và được tiếp nhận như thế nào?
Văn học sinh ra để làm gì?…
Các nhà lí luận sẽ nghiên cứu trên các hiện tượng văn học để khái quát lên những thuật
ngữ, những luận điểm về các quy luật của văn học. Nhờ các thành quả nghiên cứu đó mà
những người quan tâm đến văn học có thể lí giải được sâu hơn bản chất của các hiện tượng
văn học như: nhà văn, tác phẩm, trào lưu văn học…
Các kiến thức lí luận văn học đang phát triển từng ngày từng giờ với rất nhiều các
khuynh hướng, các luồng tư tưởng, các quan niệm khác nhau, có khi thống nhất nhưng cũng
có khi phủ nhận lẫn nhau. Những nghiên cứu về lí luận văn học vẫn đang được thực hiện hàng
ngày trong cuộc sống của chúng ta, trao cho ta những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về văn
học.
Có nhiều người cho rằng lí luận văn học rất khó hiểu, thực ra các kiến thức lí luận văn học vơ
cùng gần gũi với chúng ta. Văn học là gì? Văn học vì ai mà tồn tại? – những câu hỏi ấy nảy ra
trong ta ngay từ khi gặp gỡ văn học, và mỗi chúng ta ắt hẳn đều có cho riêng mình những ý
niệm để trả lời câu hỏi ấy. Học lí luận văn học là cách để ta có thể trả lời những câu hỏi dạng
như vậy một cách có hệ thống và khoa học hơn.
Ở mức độ trường phổ thông, trước nay chúng ta vẫn lĩnh hội tri thức lí luận văn học ở mức độ
cơ bản. Những tri thức này sẽ là nền tảng để học sinh tiếp tục nghiên cứu sâu hơn ở các bậc
học cao hơn.
2.Học lý luận văn học như thế nào?
Cũng như mọi bộ môn nghiên cứu lý thuyết khác, chúng ta tiếp nhận tri thức lí luận văn học
trên nhiều cấp độ. Từ thấp đến cao, các cấp độ đó thể hiện như sau:
Chúng ta biết được các thuật ngữ và các luận điểm lí luận văn học.
Biết
Chúng ta có thể hiểu và diễn đạt chính xác các thuật ngữ và luận
Hiểu
điểm lí luận văn học bằng lời văn của mình.
Chúng ta có thể vận dụng các kiến thức lí luận văn học để lí giải các
Vận dụng
hiện tượng văn học, các nhận định về lí luận văn học.
Chúng ta có thể phân tích các biểu hiện của vấn đề lí luận văn học
trong một hiện tượng văn học cụ thể (tác phẩm, phong cách tác giả,
Phân tích
trào lưu văn học, thời kì văn học…)
Chúng ta có thể tìm ra mối liên hệ giữa các vấn đề lí luận văn học
Tổng hợp
khác nhau, huy động kiến thức của nhiều chủ đề khác nhau để giải
quyết vấn đề có tính chất tổng hợp.
Chúng ta đánh giá được mức độ chính xác, tồn vẹn của một nhận
Đánh giá
định lí luận văn học và có thể bổ sung, phản biện một cách hợp lý.
Ở mức độ một bài thi học sinh giỏi, bài văn nghị luận dạng vận dụng kiến thức lí luận văn học
đòi hỏi học sinh phải nắm kiến thức đến mức độ cao nhất trong thang nêu trên, là mức độ đánh
giá. Như vậy, việc lĩnh hội tri thức lí luận văn học cũng cần phải được rèn luyện từng bước để
đạt được cấp độ cao nhất.
Cấp độ lĩnh Cách thức hình thành
hội tri thức
Trang 12
Biết
– Đọc giáo trình, tài liệu, xác định các đơn vị kiến thức quan trọng
(gạch chân, tô sáng các ý).
– Ghi nhớ những đơn vị kiến thức cơ bản nhất: những thuật ngữ
quan trọng, những luận điểm quan trọng. Sử dụng các kĩ thuật ghi
Cấp độ lĩnh Cách thức hình thành
hội tri thức
nhớ như sơ đồ hóa, khắc sâu từ khóa.
Chẳng hạn: phải nắm các khái niệm như nhà văn, tác phẩm văn học,
giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mĩ, phong cách văn
học, trào lưu văn học, tiếp nhận văn học, thể loại thơ, tự sự, kịch…
Hiểu
Vận dụng
Phân tích
Tổng hợp
Tập diễn đạt lại nội dung thuật ngữ, nội dung các luận điểm lí luận
văn học bằng lời văn của chính mình.
Tập lí giải một số hiện tượng văn học thường gặp. Tập lí giải một số
luận điểm lí luận văn học. Thường xuyên đặt câu hỏi “Vì sao?” và
các câu hỏi giả định.
Chẳng hạn như các câu hỏi:
+ Vì sao văn học phải phản ánh hiện thực cuộc sống?
+ Vì sao cùng viết về “Tương tư” nhưng Nguyễn Bính trong bài thơ
“Tương tư” thì chọn thể thơ lục bát, còn Xuân Diệu trong “Tương
tư chiều” lại chọn thể thơ tự do?
+ Văn học có thể tồn tại không nếu không viết về con người?
+ Ở văn học trung đại có hiện tượng văn-sử-triết bất phân, nhưng
đến văn học hiện đại thì người ta chia ba lĩnh vực ấy ra. Vì sao có
thể tách văn ra khỏi sử và triết?
+ Tại sao trong đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, Nguyễn Du lại
để Kiều nhớ Kim Trọng trước, cha mẹ sau? Quy luật văn học nào
dẫn đến điều đó?
+ Tại sao nói truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là bài thơ trữ tình đượm
buồn?
Phân tích các biểu hiện của các vấn đề văn học trong những hiện
tượng văn học cụ thể như tác phẩm, phong cách tác giả, trào lưu
văn học, thời kì văn học…
Ví dụ như:
– Phân tích (chỉ ra biểu hiện) phong cách Nam Cao qua một số tác
phẩm truyện ngắn trước CMT8.
– Phân tích (chỉ ra biểu hiện) giá trị nhân đạo trong “Truyện Kiều”.
– Phân tích (chỉ ra biểu hiện) nét riêng của nhà thơ Xuân Diệu khi
viết về đề tài tình yêu…
Giải quyết các vấn đề có tính chất tổng hợp. Ví dụ như:
– Nói về thơ ca, nhà thơ Tố Hữu nói: “Thơ ca là tiếng nói hồn nhiên
nhất của tâm hồn”, nhưng Nguyễn Cơng Trứ lại cho rằng: “Trót nợ
cùng thơ phải chuốt lời”. Phải chăng hai câu nói trên là mâu
thuẫn, hãy thử lí giải.
Trang 13
Cấp độ lĩnh Cách thức hình thành
hội tri thức
– Có người cho rằng: Văn chương phải giúp chúng ta hiểu thêm về
đời sống và hiểu chính mình. Từ các phương diện đặc trưng văn học,
chức năng văn học, quá trình sáng tác, quá trình tiếp nhận, hãy lý
giải ý kiến trên.
Liên tục đặt các câu hỏi tra vấn, phản biện:
+ Có phải lúc nào cũng như vậy hay khơng?
+ Nói như vậy đã thực sự chính xác hay chưa?
Đánh giá
+ Có ngoại lệ hay khơng?
+ Vấn đề đã tồn vẹn hay chưa, có bổ sung gì khơng?
Trong định hướng giải quyết các đề thi, các bước luyện tập như sau:
– Bước 1: Tìm hiểu lý thuyết, đọc sách, đọc giáo trình, nghe giáo viên
giảng và hỏi.
– Bước 2: Giải quyết đề thi, nhận định đề và lập dàn ý.
– Bước 3: Tiến hành viết bài.
– Bước 4: Sửa lỗi và rút kinh nghiệm.
Bốn bước nêu trên sẽ được lặp đi lặp lại và mỗi lần làm lại thì ở mức độ cao hơn. Đó là cách
tốt nhất để củng cố và tiếp tục phát triển năng lực cho đến khi thuần thục ở mức cao nhất.
3.Kiến thức lý luận văn học nằm ở đâu trong bài làm nghị luận văn học?
Có thể tạm chia các đề NLVH thường gặp hiện nay thành ba cấp độ:
Yêu cầu đề
Đề minh họa
– Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm
Phân tích các yếu tố “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân.
cơ bản trong một tác – Cảm nhận về nhân vật Người đàn bà hàng
Cấp độ 1
phẩm văn học.
chài trong “Chiếc thuyền ngồi xa” của nhà văn
Nguyễn Minh Châu.
– Phân tích giá trị nhân đạo trong “Vợ nhặt” của
Kim Lân.
Phân tích các yếu tố – Phân tích chất thơ trong truyện ngắn “Hai đứa
trong tác phẩm văn trẻ” của nhà văn Thạch Lam.
Cấp độ 2
học để làm rõ một – Phân tích tích tác phẩm “Người lái đị Sơng
u cầu nào đó.
Đà” để cho thấy những chuyển biến trong sáng
tác của nhà văn Nguyễn Tuân ở giai đoạn sau
CMT8 1945.
Giải quyết
một – Bình luận về ý kiến của nhà thơ Tố Hữu: “Thơ
Cấp độ 3
Trang 14
nhận định lí luận chỉ bật ra trong tim ta khi cuộc sống đã tràn
đầy ”.
văn học.
– Tác phẩm nghệ thuật chân chính là sự tơn
vinh con người bằng cách hình thức nghệ thuật
độc đáo. Bày tỏ suy nghĩ về ý kiến trên.
Ở cả ba cấp độ đề trên, ta đều có thể vận dụng kiến thức lí luận văn học.
Ở cấp độ 1, kiến thức lí luận văn học sử dụng chủ yếu ở phần tổng kết để so sánh, đối chiếu,
nâng cao vấn đề.
Ví dụ: Khi phân tích nhân vật bà cụ Tứ (trong truyện ngắn Vợ nhặt), ta có thể so sánh đối
chiếu với hình tượng nhân vật người nông dân trước CMT8 để thấy sự kế thừa và phát triển
của nhà văn Kim Lân trong truyền thống về đề tài người nông dân. Bằng các kiến thức lí luận
văn học về trào lưu văn học, về quá trình phản ánh hiện thực và sự sáng tạo của người nghệ sĩ,
ta có thể lí giải phần so sánh, đối chiếu, qua đó làm cho bài viết sâu sắc hơn.
Ở cấp độ 2, kiến thức lí luận văn học thể hiện ở ngay trong những thuật ngữ đề yêu cầu ta làm
rõ. “Giá trị nhân đạo”, “chất thơ”, “phong cách sáng tác” đều là những thuật ngữ lí luận
văn học. Để giải quyết được các đề ở trên, ta phải nắm được khái niệm của các thuật ngữ, các
biểu hiện của chúng và biết cách phân tích các biểu hiện ấy trong tác phẩm văn học.
Ở cấp độ 3, kiến thức lí luận văn học sẽ được vận dụng trong toàn bài viết. Đây là dạng đề
quen thuộc nhất ở các kì thi học sinh giỏi.
Từ phần này trở về sau, bài viết sẽ chỉ đề cập đến việc vận dụng kiến thức lí luận văn học
trong các đề ở cấp độ 3 này. Bởi vì nếu ta thành thục các kĩ năng cần có để giải quyết các dạng
đề ở cấp độ này, ta sẽ dễ dàng vận dụng vào hai cấp độ trước.
4.Dàn ý của dạng bài giải quyết một vấn đề lí luận văn học
Dàn ý chung phần thân bài như sau:
Thao tác
Nội dung
– Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hình
ảnh khó hiểu trong nhận định.
1. Giải thích
Chốt vấn đề nghị luận: Như vậy, vấn đề
cần bàn ở đây là gì?
Sử dụng các kiến thức lí luận văn học để lí
giải vấn đề nghị luận. Trả lời cho câu hỏi
2. Bàn luận
“vì sao?”
Chọn chi tiết trong tác phẩm để làm rõ các
3. Chứng minh
biểu hiện của vấn đề nghị luận.
– Đánh giá tính đúng đắn của vấn đề nghị
luận.
4. Đánh giá
– Bổ sung, phản biện lại vấn đề (Nếu có)
Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình
5. Liên hệ
Mức độ tư duy
Biết
Hiểu
Vận dụng
Tổng hợp
Phân tích
Đánh giá
Vận dụng
sáng tác và bạn đọc trong quá trình tiếp
nhận.
Khi làm bài, cần vận dụng linh hoạt các bước trên nhưng nhất thiết phải có đầy đủ các thao tác
Trang 15
này để bài viết không bị mất điểm.
II, NĂM NGUYÊN TẮC QUAN TRỌNG KHI ĐƯA KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂN
HỌCVÀO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
——————Ở phần 1, ta đã biết những kiến thức cơ bản nhất để làm quen với dạng bài lí luận văn học.
Về từng chủ đề lí luận văn học, các bạn có thể xem thêm Quyển 1 ,còn riêng phần 2 này, ta sẽ
biết 5 nguyên tắc vô cùng quan trọng để việc thực hành viết bài văn được thuận lợi và suôn sẻ
hơn!
Để hiểu hơn về cách viết phần lí luận trong bài nghị luận văn học, trước
hết hãy đọc bài văn dưới đây và thực hiện những yêu cầu sau:
– Xác định vấn đề nghị luận trong đề bài: Đề bài yêu cầu bàn về những
vấn đề nào?
– Với mỗi vấn đề, người viết đã dùng những lí lẽ nào để làm sáng tỏ?
– Xác định bố cục bài viết: Giải thích, Bàn luận, Chứng minh, Đánh giá,
Liên
Đề
bài:hệ.
Đừng lười nhé, thao tác này rất quan trọng đấy!
Nhà phê bình người Nga Belinxky viết: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc
sống chỉ để miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu
nó khơng đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó” (Lí luận văn học, NXB Giáo
dục, 1993, trang 62).
Bằng hiểu biết về văn học, anh (chị) hãy bình luận và làm sáng tỏ ý kiến trên.
Bài làm
Dostoevsky khi lí giải động lực khiến mình cầm bút đã nói rằng: “Tơi hãy cịn một trái tim,
một dịng máu nóng để u thương, cảm thơng và chia sẻ”. Cịn R. Tagore mong muốn sau khi
từ giã cõi đời, được nhắn nhủ lại một lời: “Tơi đã từng u”. Có phải bởi những nhà văn, nhà
thơ vĩ đại – những con người đã sống, đã sống hết mình và yêu hết mình với cuộc đời, với con
người bởi thấm thía sâu sắc rằng: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ
để miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó khơng
đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó” (Lí luận văn học, NXB Giáo dục, 1993,
trang 62).
Saltykov Shchedrin đã từng nói: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Chỉ mình
nó khơng thừa nhận cái chết”. Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm nghệ thuật bất tử? Ở tài
năng hay ở tấm lòng người cầm bút? Ý kiến của nhà phê bình Nga Bielinxky trên đây đã
khẳng định vai trị đặc biệt quan trọng, thậm chí, quyết định tư tưởng, tình cảm, hay nói cách
khác, cái tâm của người cầm bút quyết định sức sống của một tác phẩm nghệ thuật, ở đây
được hiểu là tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học chỉ sống được trong những tư tưởng, tình
cảm mãnh liệt của người cầm bút mà thơi.
Trước hết, qua nhận xét của mình, Belinxky muốn lên án thứ văn chương “miêu tả cuộc sống
chỉ để miêu tả”. Đúng là văn học nghệ thuật ra đời để miêu tả, phản ánh hiện thực cuộc sống
con người. Nhưng đó khơng phải là mục đích duy nhất của văn học. Nếu văn học chỉ miêu tả
Trang 16
cuộc sống đơn thuần khơng thơi thì đó đâu khác bức ảnh, bản photo ngun xi, máy móc, vơ
hồn về cuộc sống. Và liệu rằng các tác phẩm ấy có thể cung cấp cho người đọc nhiều hiểu biết
chính xác, phong phú, khách quan hơn các cơng trình khiên cứu khoa học được chăng? Sao
chép nguyên xi hiện thực, mô phỏng cuộc sống một cách vụng về, văn học nghệ thuật sẽ khơng
cịn là văn học, sẽ “chết” như cách nói của Belinsky.
Vậy điều gì giúp cho các tác phẩm văn học, mặc dù vẫn miêu tả, thể hiện những khám phá về
cuộc sống lại không trở thành những bức ảnh vô hồn hay những bản thống kê chi tiết đến khô
cứng, lạnh lùng? Belinsky đã chỉ ra rằng, tác phẩm ấy phải là “tiếng thét khổ đau” hoặc là
“lời ca tụng hân hoan”, tức là phải in đậm bầu cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ. Bởi lẽ
văn học là làm theo quy luật của tình cảm. Văn học là sự lên tiếng thôi thúc của trái tim. Nhà
văn chỉ viết được khi “trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Nếu như các ngành khoa học loại
bỏ cái tơi trong nghiên cứu thì các ngành nghệ thuật, trong đó có văn học lại lấy cái tơi làm
điểm tựa cho sự sáng tạo. Viên Mai đã từng nói: “Làm người thì khơng nên có cái tơi nhưng
làm thơ khơng thể khơng có cái tơi”. Thơ nói riêng và văn học nói chung khơng thể thiếu cái
tơi – ở đây là dấu ấn tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ. Làm sao nhà văn có thể viết khi
đứng trước hiện thực cuộc sống, trái tim anh không hề rung động, không hề xúc cảm? Hiện
thực cuộc sống, dù phong phú, kì diệu đến mấy mà khơng được thổi hồn bởi tình cảm mãnh
liệt của người cầm bút thì cũng chỉ là những hình ảnh lay lắt, khơng có sức sống trong tác
phẩm mà thôi. “Đừng cậy thời đại anh hùng nếu tâm hồn anh cứ bé” – ấy là lời nhắn nhủ
chân thành, lời khun răn chính mình của nhà thơ Chế Lan Viên. Cho hay, đó cũng chính là
điều sinh tử với người cầm bút.
Tình cảm khơng chỉ là “khâu đầu tiên” mà còn là “khâu cuối cùng” trong quá trình hình
thành một tác phẩm văn học. Văn học chỉ sống được trong tấm lòng đồng cảm của người học.
Vậy làm sao tác phẩm nghệ thuật có thể lay động sâu xa tâm hồn người đọc, có thể khiến độc
giả cùng vui, buồn, xôn xao, giận hờn, đau khổ, căm phẫn… cùng nhân vật khi mà nhà văn
không thực sự xúc cảm, không viết từ chiều sâu con tim? “Thơ muốn làm cho người ta khóc,
trước tiên mình cũng phải khóc, muốn làm cho người ta cười, trước hết mình phải cười”. Nhà
văn phải đau cái đau của nhân vật, phải buồn cái buồn của nhân vật, vui cái vui của cuộc
sống, của con người, khi ấy tác phẩm của anh mới có “sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại”
(Hồi Thanh). Cảm xúc trơ lì, sáo mịn; tình cảm nơng cạn, hời hợt, giả dối; tác phẩm chỉ là
những con chữ vô hồn, xác ép khô khơng gây xúc động nơi người đọc. Chỉ những gì xuất phát
từ trái tim mới đi đến những trái tim. Với ý nghĩa ấy, tác phẩm văn học đã bắc nhịp cầu linh
diệu nối liền trái tim nghệ sĩ với tâm hồn độc giả để trong đời này có nhiều yêu thương, sẻ
chia hơn.
Nhà văn Nga Gercen đã từng cho rằng: “Nhà văn là một nỗi đau khổ”. Khổ đau trong cuộc
đời, các nhà văn đã thấu hiểu sâu sắc “mọi nỗi đau đớn của con người thời đại, đã rung động
tận đáy tâm hồn với những lo âu, bực bội, tủi hổ,… của loài người” (Đặng Thai Mai). Nguyễn
Du đã viết “Truyện Kiều” bởi “nỗi đau đớn lòng” trước những điều Người đã “trông thấy”,
đã từng trải qua trong cuộc đời. “Truyện Kiều” là tiếng kêu đứt ruột về những kiếp sống bị
đọa đày. Ai biết trong mười lăm năm lưu lạc của mình, Thúy Kiều đã từng bao lần rơi lệ, đã
từng bao lần bị đánh đập, hành hạ? Và ai biết được,người nghệ sĩ có trái tim nhân đạo vĩ đại
– Nguỹen Du đã bao lần nhỏ lệ trước “số phận một con người” bất hạnh, đau đớn, ê chề. “Tố
Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều”. Nỗi đau ấy đã lại một lần thôi thúc Người viết nên hai câu
thơ, mà hôm nay và mai sau hãy còn vang vọng:
Trang 17
“Đau đớn thay phận đàn bà!
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Khơng cầu kì, hoa mỹ, đó là những lời huyết lệ, những lời tâm can của chính Nguyễn Du.
Những câu thơ như thế, có gì hay, có gì mà hấp dẫn muôn triệu trái tim, muôn triệu tâm hồn?
Phải chăng bởi đó là “tiếng thét khổ đau”, bởi đó là sự trào dâng mãnh liệt của cảm xúc, của
tình yêu thương con người. Mượn cốt truyện của người xưa nhưng Nguyễn Du không sao chép
nguyên xi. Người đã thổi hồn cho những con chữ, những hình tượng sống dậy mãi trong tâm
hồn, trong những sướng khổ, buồn vui của biết bao thế hệ con người Việt Nam hôm nay và
mai sau.
Khác với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cũng viết về người phụ nữ, nhưng với tâm trạng của
người trong cuộc, hay đúng hơn, viết bằng sự trải nghiệm của chính bản thân mình. Những
vần thơ của Xn Hương là sự lên tiếng của một thân phận. Bất hạnh trong cuộc đời riêng,
Xuân Hương tìm đến thơ như người bạn tâm tình – nơi gửi gắm, kí thác những nỗi niềm suy
tư. Đọc thơ Hồ Xuân Hương, người đọc có thể bị cuốn đi bởi các câu thơ mỉa mai sát sàn sạt,
những lời mắng chửi té tát, không thương tiếc với bọn “hiền nhân quân tử”, những vua chúa,
sư sãi giả dối, hợm hĩnh, vô luân,… Nhưng đằng sau những nụ cười “rất mạnh, rất sâu” ấy là
những giọt nước mắt, những “tiếng thét khổ đau” cho thân phận người phụ nữ. Để rồi đọc thơ
bà, ta thấy “cần phải khóc” trước những cảnh “Kẻ đắp chăn bơng kẻ lạnh lùng”, trước cảnh
ngộ “Trơ cái hồng nhan với nước non”. Khao khát mãnh liệt về tình yêu, về hạnh phúc, nhưng
cuối cùng, nữ sĩ được gì ngồi “kiếp lấy chồng chung”, ngồi thứ tình cảm chia năm sẻ bảy
“Mảnh tình san sẻ tí con con”. Hồ Xn Hương muốn vượt thoát tất cả, muốn “Chém cha cái
kiếp lấy chồng chung” để khơng cịn những cảnh “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Nhưng
cái xã hội phong kiến bất cơng phi nhân tính ấy đâu có để nữ sĩ sống hạnh phúc, bình yên như
mong muốn. Cho nên tiếng thơ Hồ Xuân Hương đọng lại một niềm đau, không dễ qn, khơng
thể ngi.
Trong truyện ngắn nổi tiếng “Chí Phèo”, Nam Cao lại quay tấm gương cuộc sống, cho ta thấy
một kiếp sống tủi nhục trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng. Ấy là Chí Phèo, một nạn
nhân đau khổ của một xã hội cạn khơ tình người với những ác quỷ mang bộ mặt người. Sinh
ra khơng tình yêu thương của mẹ cha, Chí Phèo lớn lên trong sự đùm bọc của những người
như: anh thả ống lươn, bà cụ mù lịa, bác phó cối nghèo nhưng tốt bụng. Nhưng những người
năm ấy, như chính những câu văn tái hiện rất ngắn gọn của Nam Cao, lướt qua cuộc đời Chí
như những cơn gió. Phần cịn lại của cuộc đời, Chí đâu có gì ngồi những năm tháng tù tội,
những lần rạch mặt ăn vạ, những khinh bỉ, miệt thị của người đời? Gặp Thị Nở, cứ tưởng cuộc
đời Chí sẽ bừng sáng, sẽ ngời lên hồi chng an lành nhưng hạnh phúc, tình yêu thoảng qua
như hơi cháo hành, như ảo ảnh về nguồn nước giữa sa mạc khơ tình người. Người nhen lên
ngọn lửa lương tri, tình người cũng chính là người dập tắt hi vọng trở về với cuộc đời của
Chí. Và khi “mất thiên thần, người đã chết”. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc
đời. Chí đã chết khi miệng cịn “ngáp ngáp” như muốn thanh minh, muốn bày tỏ với cuộc đời,
với con người. Cịn gì đau đớn hơn thân phận của con người ấy? Viết về những số phận bất
hạnh ấy, ngòi bút Nam Cao đâu chỉ nhằm phản ánh chân xác thực trạng con người bị tha hóa
trong xã hội cũ. Đằng sau câu chữ, cách xưng hô có vẻ lạnh lùng, dửng dưng, miệt thị ấy là
một trái tim ấm nóng tình u thương con người. Nam Cao đã từng mong muốn viết lên những
tác phẩm làm cho “người gần người hơn” thì với Chí Phèo, ơng đã làm được điều đó. Bởi lẽ
nhà văn đã “đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy những vang vọng của đời” cho nên những
Trang 18
tác phẩm của ơng, những “tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than” sẽ còn sống
mãi.
Mặt trời khơng chỉ có mây đen mà cịn có những tia nắng vàng, cuộc sống khơng chỉ có những
nỗi khổ đau mà cịn có những niềm vui sướng. Văn học phản ánh hiện thực, không chỉ là phản
ánh những đau khổ mà còn ngợi ca những vẻ đẹp, những niềm vui của cuộc sống, của con
người. Hài kịch “Người lái buôn thành Venice” của Shakespeare là tiếng cười ngạo nghễ,
sung sướng; là lời ngợi ca hân hoan sự chiến thắng của chủ nghĩa nhân văn cao cả. Thơ Xuân
Diệu là “bầu xn”, là “bình chứa mn hương” của tuổi trẻ, sức sống và tình yêu:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”
(Vội vàng)
Người ta gọi thơ Xuân Diệu là “nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ
này” phải chăng bởi nhà thơ đã đốt cháy xúc cảm say mê mãnh liệt với cuộc đời. Cuộc sống
muôn đời vẫn vậy. Thế nhưng những cảnh sắc của cuộc sống đi qua tâm hồn nồng nàn tình
yêu cuộc đời của Xuân Diệu lại ánh lên những màu sắc diệu kì, lại ngân lên những thanh âm
du dương. Thế giới, qua cặp mắt “xanh non biếc rờn” của thi sĩ họ Ngơ là khu vườn tình ái,
nơi ong bướm đang trong “tuần trăng mật”, nơi chim muôn ca lên “khúc tình si”, nơi tạo hóa
đắm chìm trong “cặp mơi gần” của tháng giêng. Đó cịn là bữa tiệc thịnh soạn, phong phú
của cuộc sống “nở hoa dâng tặng người muốn hái”. Đẹp làm sao! Làm sao Xuân Diệu có
những cảm nhận tinh tế, diệu kì ấy nếu nhà thơ dửng dưng, vơ cảm với cuộc đời. Chính niềm
khao khát giao cảm với cuộc đời, chính niềm yêu sống đến cuồng si, mãnh liệt đã giúp thi sĩ
phát hiện ra vẻ đẹp của cuộc sống. Những vần thơ như “lịng” Xn Diệu mở ra, như tay
Xn Diệu muốn chìa ra mời mọc, gợi mời con người. Sao có thể không nhớ, không yêu những
vần thơ say đắm, thiết tha đến dường vậy! Thơ Xuân Diệu, tự bản thân nó khơng phải sự mơ
phỏng cuộc sống. Đó là lời tụng ca hân hoan, đắm đuối trước vẻ đẹp đích thực của cuộc sống.
Cũng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên đã cất lên tiếng hát ngợi ca vẻ đẹp giá trị của cuộc sống
trong những năm tháng đất nước độc lập, tiến lên xây dựng cuộc sống mới, chế độ mới.
“Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!
Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,
Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ,
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn…”
(“Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?”)
Bước ra từ những tháp Chàm đổ nát để hòa nhập với cuộc đời, Chế Lan Viên như thốt khỏi
“thung lũng đau thương” để tìm đến “cánh đồng vui”. Ấy là cuộc sống mới của những con
người mới. Nhà thơ thấy cuộc đời thật đẹp, thật phong phú, mến yêu biết bao nhiêu. Lần đầu
tiên trong cuộc đời, nhà thơ cảm nhận được vẻ đẹp đích thực của cuộc sống. Sung sướng lắm!
Tự hào lắm! Bởi được sống, được cống hiến, và thấy đời mình có ý nghĩa. Những lời thơ ấy đã
Trang 19
ngân vang điệu nhạc rạo rực, say mê, hân hoan của hồn người. Âm hưởng của khúc nhạc thần
kì ấy sẽ cịn vang vọng và dư ba.
Như vậy, có thể nói tình cảm là điều kiện khơng thể thiếu để có tác phẩm nghệ thuật đích thực.
Cảm xúc chân thành mãnh liệt, tự nó đã là giá trị của tác phẩm văn học. Nó cũng chính là
“cái hơi thở, cái sức sống của những tác phẩm vĩ đại”. Nhưng nếu chỉ có tình cảm khơng thơi,
văn học liệu có dược sức sống, sức hấp dẫn kì diệu đến vậy hay khơng? Belinsky thêm một lần
nữa nhấn mạnh vào vai trị đặc biệt quan trọng của tư tưởng đúng đắn, sâu sắc ở người viết.
Tác phẩm nghệ thuật sẽ sống khi nó “đặt ra những câu hỏi và trả lời những câu hỏi đó”. Theo
tơi hiểu, những “câu hỏi” ở đây là những vấn đề nhà văn trăn trở, nghĩ suy về cuộc sống, về
con người. Ấy là những “câu hỏi của cuộc sống” (Tố Hữu). Những câu hỏi ấy thể hiện cách
nhìn, nhận thức, quan niệm nghệ thuật về con người, về xã hội của nhà văn. Nói cách khác, đó
là sự hiện hình của tư tưởng nhà văn được biểu hiện trong tác phẩm. Tư tưởng nghệ thuật là
một trong những yếu tố quyết định tầm vóc của nhà văn và giá trị của tác phẩm. Nguyễn Khải
từng nói: “Giá trị của một tác phẩm văn học trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó”. Cịn
Korolenco thì nhấn mạnh: “Tư tưởng là linh hồn của tác phẩm văn học”. Tư tưởng sai lầm,
lệch lạc, văn học sẽ trở thành công cụ gây tội ác. Lỗ Tấn đã từng nói: “Làm một thầy thuốc kê
đơn bốc thuốc bậy chỉ giết chết có một người, làm một viên võ tướng điều binh khiển tướng
bậy chỉ nướng hết một đạo qn, cịn làm một nhà văn viết bậy có thể gây tác hại đến ba thế
hệ.” Có được ảnh hưởng hết sức quan trọng như vậy bởi nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của
văn học. Văn học không chỉ là “công cụ khám phá, hiểu biết và sáng tạo thực tại xã hội” mà
cịn tham gia vào q trình cải tạo xã hội. Nói như Thạch Lam, đó là “thứ khíi giới thanh cao
và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi thế giới giả dối và tàn ác”. Văn học góp phần
làm cho cuộc sống con người tốt đẹp, trong sáng hơn. Vậy nếu nhà văn chỉ đơn thuần tái hiện
vẹn nguyên cuộc sống mà không gửi gắm một tư tưởng tiến bộ nào, liệu rằng văn học có thể
hồn thành nhiệm vụ cao cả ấy không? Hơn ở đâu, nhà văn phải thể hiện, phải đặt ra và giải
quyết những vấn đề quan trọng về nhân sinh. Để mỗi người đọc, đến với tác phẩm, đều phải
day dứt, ám ảnh về điều đó, để rồi tự tìm ra được câu trả lời cho những vấn đề về con người.
Tìm hiểu sâu sắc về bản chất cuộc sống, về bản chất con người cho hay cũng là nhu cầu tiếp
nhận chính đáng của người đọc. Độc giả tìm đến tác phẩm văn chương đâu phải chỉ để hiểu
biết về hiện thực cuộc sống, mà còn muốn tìm hiểu ý nghĩa, giá trị, bản chất của cuộc sống, để
tìm câu trả lời cho những băn khoăn, trăn trở, nghĩ suy của bản thân mình. Bởi vậy, tác phẩm
nghệ thuật phải “đặt ra những câu hỏi” và có thể, cịn cần phải “trả lời những câu hỏi đó”.
Nam Cao, qua số phận bi kịch của Chí Phèo đã cất lên câu hỏi: Làm thế nào cứu vớt những
con người đang đứng trên vực thẳm của sự tha hóa nhân tính và nhân hình? Làm thế nào để
xã hội này khơng cịn những Chí Phèo? Câu hỏi ấy vang vọng, văng vẳng suốt thiên truyện,
đau đáu mãi không ngi. Nó hiện hình trong lời kết án đau đớn tuyệt vọng của Chí Phèo
trước khi tự kết liễu đời mình: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết
mảnh chai trên mặt này?”. Nhà văn dẫu không trả lời trực tiếp, nhưng qua tác phẩm của
mình, Nam Cao đã ngầm đưa ra câu trả lời cho bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí.
Phải tiêu diệt xã hội đại ác, vạn ác này; phải tiêu diệt những con quỷ dữ Bá Kiến, Đội Tảo,…
để cuộc đời này khơng cịn những Chí Phèo. Và quan trọng hơn, để cứu rỗi những linh hồn tội
lỗi như Chí Phèo, cần có một “lịng tốt bình thường”- tình người chân thành, mộc mạc như
Thị Nở. Chỉ tình người mới cứu được tính người. Ấy là thơng điệp nhân sinh, là câu trả lời sâu
sắc, đúng đắn của Nam Cao cho những vấn đề bức xúc của xã hội. Cũng như thế, Thạch Lam,
Trang 20
trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, không dừng lại ở việc miêu tả cuộc sống tù túng, quẩn
quanh, vô nghĩa, mòn mỏi đến tội nghiệp của những người dân nơi phố huyện nghèo. Nhà văn
còn đặt ra những câu hỏi, những thông điệp sâu sắc: Hãy cứu lấy những đứa trẻ, hãy cứu lấy
tương lai của phố huyện. Điều mà Thạch Lam trăn trở không phải vấn đề cơm áo, sưu thuế,
bất cơng xã hội mà cịn là quyền sống có ý nghĩa của con người. Xã hội Việt Nam trước Cách
mạng như “ao đời phẳng lặng” nhấn chìm mọi sự sống, lăm le muốn cướp đi ý nghĩa thực sự
của cuộc sống đối với mỗi con người. Hai đứa trẻ – những mầm xanh mới đâm chồi nảy lộc
trên mảnh đất cạn khô nhựa sống của phố huyện liệu có trở thành bà cụ Thi điên, liệu có là
chị Tí hay bác phở Siêu, gia đình bác xẩm? Câu trả lời ấy, Thạch Lam khơng nói nhưng rõ
ràng, nhà văn đã hé mở cho người đọc điều đó. Tại sao chị em Liên khơng nhập vào khơng khí
tù đọng của phố huyện mà tối tối lại cố thức chờ đồn tàu qua? Có phải đồn tàu đem đến cho
Liên và An nhận thức ở đâu đó ngồi phố huyện cịn có một miền đời, một cuộc sống khác ý
nghĩa hơn? Như thế, con người phải tự vượt lên để khơng bị hồn cảnh, để khơng bị cuộc sống
vơ nghĩa nhấn chìm. Đó chính là chiều sâu nhân đạo trong sáng tác của Thạch Lam.
Ý kiến của Belinsky đã đặt ra yêu cầu hết sức đúng đắn, cần thiết, quan trọng với người cầm
bút: ấy là anh phải có cái tâm trước cuộc sống, con người. Đó cũng chính là bài học đối với
những nghệ sĩ. Muốn có được tác phẩm sống mãi với thời gian, anh phải sống sâu sắc với
cuộc đời, nói như giáo sư Đặng Thai Mai phải biết “sâu sắc cảm thấy mọi nỗi đau đớn con
người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những lo âu, bực bội, tủi hổ và cả
những ước mong tha thiết nhất của loài người”. Để viết nên tác phẩm, nhà văn phải “tìm
tịi…, phải u rất nhiều và phải chịu nhiều đau khổ” (Gioócgio Xang). Và lịch sử văn học,
thực chất chính là lịch sử của những tư tưởng vĩ đại của người nghệ sĩ.
Tìm hiểu ý kiến của Belinsky, tơi càng thấm thía quy luật đào thải nghiệt ngã nhưng công
bằng của thời gian, của cơng chúng. Có những tác phẩm dù trung thành với nguyên tắc phản
ánh hiện thực, thậm chí hết sức hiện thực nhưng khơng thể hiện tư tưởng, tình cảm sâu sắc
nào. Những tác phẩm ấy chỉ là bức ảnh vơ hồn, thậm chí rơi vào tự nhiên chủ nghĩa bởi tình
cảm, tư tưởng miệt thị con người, bi quan với cuộc đời. Lại có những tác phẩm chỉ đắm chìm
trong cảm xúc hay mê mải chạy theo những tư tưởng kì vĩ. Chỉ những tác phẩm nào có sự hòa
quyện cao độ giữa tư tưởng đúng đắn, sâu sắc với tình cảm chân thành, mãnh liệt của người
cầm bút mới có giá trị và sức sống bền lâu.
Thế nhưng, văn chương trước hết là văn chương, nghệ thuật trước hết là nghệ thuật. Nói đến
nghệ thuật là nói đến cái hay, cái đẹp của nghệ thuật. Tư tưởng, tình cảm sâu sắc, mãnh liệt
đến mấy mà không được chuyển tải qua hệ thống phương tiện nghệ thuật giàu giá trị thẩm mỹ
thì khơng thể thức tỉnh, lay động tâm hồn người đọc. Gogol đã rất khổ tâm khi “những tình
cảm thật q có thể trở nên tầm thường khi diễn đạt ra thành lời”. Người nghệ sĩ vĩ đại khơng
chỉ có cái tâm mà cịn phải có cái tài để cái tâm được tỏa sáng lung linh.
“Rồi nhân dân sẽ cịn trìu mến tơi mãi mãi vì tơi đã dùng thơ đánh thức những tình cảm tốt
lành, vì trong thế kỉ tàn khốc của chúng ta, tôi ngợi ca tự do và lòng thương những kẻ khốn
cùng”. Bất cứ nghệ sĩ nào đã sống sâu sắc với cuộc đời, đã đau đớn, mừng vui với những vui
buồn, sướng khổ của lồi người đều có quyền tự hào và tin tưởng như Puskin về sự tồn tại
vĩnh hằng của những tác phẩm nghệ thuật chân chính của mình.
(Nguyễn Thị Hải Hậu, tỉnh Phú Thọ)
Nếu vẫn chưa đủ tự tin để xác định ranh giới các phần, hãy đọc lại bài văn đã được chia
tách thành các ý sau đây. Cuối cùng, hãy cho vào những khoảng trống ( chữ mầu xanh ) để
chỉ rõ ranh giới các phần nhé!
Trang 21
I. Mở bài:
1. Dẫn dắt vào vấn đề:
– Dostoevsky khi lí giải động lực khiến mình cầm bút đã nói rằng: “Tơi hãy cịn một trái tim,
một dịng máu nóng để u thương, cảm thơng và chia sẻ”.
– Cịn R.Tagore mong muốn sau khi từ giã cõi đời, được nhắn nhủ lại một lời: “Tơi đã từng
u”.
2. Nêu vấn đề:
Có phải bởi những nhà văn, nhà thơ vĩ đại – những con người đã sống, đã sống hết mình và
yêu hết mình với cuộc đời, với con người bởi thấm thía sâu sắc rằng: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ
chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét khổ đau hay lời
ca tụng hân hoan, nếu nó khơng đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”. (Lí luận
văn học, NXB Giáo dục, 1993, trang 62)
II. Thân bài:
1. Giải thích ý kiến trên:
– Saltykov Shchedrin đã từng nói: “Nghệ thuật nằm ngồi quy luật của sự băng hoại. Chỉ
mình nó khổng thừa nhận cái chết”. Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm nghệ thuật bất tử? Ở
tài năng hay ở tấm lòng của người cầm bút?
– Ý kiến của nhà phê bình Nga Belinsky trên đây đã khẳng định vai trị đặc biệt quan trọng,
thậm chí, quyết định của tư tưởng, tình cảm, hay nói cách khác, cái tâm của người cầm
bút quyết định sức sống của một tác phẩm nghệ thuật, ở đây được hiểu là tác phẩm văn học.
Tác phẩm văn học chỉ sống được trong những tư tưởng, tình cảm mãnh liệt của ngưịi cầm bút
mà thơi.
2. Phân tích, chứng minh tính đúng đắn của câu nói:
– Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả:
+ Trước hết, qua nhận xét của mình, Belinsky muốn lên án thứ văn chương “miêu tả cuộc
sống chỉ để miêu tả”. Đúng là văn học nghệ thuật ra đời để miêu tả, phản ánh hiện thực cuộc
sống con người. Nhưng đó khơng phải là mục đích duy nhất của văn học.
+ Nếu văn học chỉ miêu tả cuộc sống đơn thuần không thơi thì đó đâu khác bức ảnh, bản
photo ngun xi, máy móc, vơ hồn về cuộc sống. Và liệu rằng các tác phẩm ấy có thể cung
cấp cho người đọc nhiều hiểu biết chính xác, phong phú, khách quan hơn các cơng trình
nghiên cứu khoa học được chăng? Sao chép nguyên xi hiện thực, mô phỏng cuộc sống một
cách vụng về, văn học nghệ thuật sẽ khơng cịn là văn học, sẽ “chết” như cách nói của
Belinsky.
– Tác phẩm nghệ thuật phải là “tiếng kêu đau khổ”:
+ Vậy điều gì giúp cho các tác phẩm văn học, mặc dù vẫn miêu tả, thể hiện những khám phá
về cuộc sống lại không trở thành những bức ảnh vô hồn hay những bản thống kê chi tiết đến
khô cứng, lạnh lùng? Belinsky đã chỉ ra rằng, tác phẩm ấy phải là tiếng thét khổ đau hoặc
lời ca tụng hân hoan, tức là phải in đậm bầu cảm xúc mãnh liệt của người nghệ sĩ.
Trang 22
+ Bởi lẽ văn học là làm theo quy luật của tình cảm. Văn học là sự lên tiếng thơi thúc của
những trái tim. Nhà văn chỉ viết được khi “trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Nếu như các
ngành khoa học loại bỏ cái tôi trong nghiên cứu thì các ngành nghệ thuật, trong đó có văn học
lại lấy cái tôi làm điểm tựa cho sự sáng tạo. Viên Mai đã từng nói: “Làm người thì khơng nên
có cái tơi nhưng làm thơ khơng thể khơng có cái tơi”. Thơ nói riêng và văn học nói chung
khơng thể thiếu cái tôi – ở đây là dấu ấn tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ.
+ Làm sao nhà văn có thể viết khi đứng trước hiện thực cuộc sống, trái tim anh không hề
rung động, không hề xúc cảm? Hiện thực cuộc sống, dù phong phú, kì diệu đến mấy mà
khơng được thổi hồn bởi những tình cảm mãnh liệt của người cầm bút thì cũng chỉ là những
hình ảnh lay lắt, khơng có sức sống trong tác phẩm mà thôi. “Đừng cậy thời đại anh hùng nếu
tâm hồn anh cứ bé” – ấy là lời nhắn nhủ chân thành, lời khun răn chính mình của nhà thơ
Chế Lan Viên. Cho hay, đó cũng chính là điều sinh tử với những người cầm bút.
+ Tình cảm khơng chỉ là “khâu đầu tiên” mà còn là “khâu cuối cùng” trong quá trình hình
thành một tác phẩm văn học. Văn học chỉ sống được trong tấm lòng đồng cảm của người
đọc. Vậy làm sao tác phẩm nghệ thuật có thể lay động sâu xa tâm hồn người đọc, có thể khiến
độc giả cùng vui, buồn, xôn xao, giận hờn, đau khổ, căm phẫn… cùng nhân vật khi nhà văn
không thực sự xúc cảm, không viết nên từ “chiều sâu con tim”?
o “Thơ muốn làm cho người ta khóc, trước tiên mình phải khóc, muốn làm cho người ta cười,
trước hết mình phải cười”. Nhà văn phải đau cái đau của nhân vật, phải buồn cái buồn của
nhân vật, vui cái vui của cuộc sống, của con người, khi ấy tác phẩm của anh mới có sức “đồng
cảm mãnh liệt và quảng đại”.
o Cảm xúc trơ lì, sáo mịn; tình cảm nông cạn hời hợt, giả dối; tác phẩm chỉ là những con chữ
vô hổn, xác bướm ép khô không gây xúc động nơi người đọc.
o Chỉ những gì xuất phát từ trái tim mới đi đến những trái tím. Với ý nghĩa ấy, tác phẩm văn
học đã bắc nhịp cầu linh diệu nối liền trái tim nghệ sĩ với tâm hồn độc giả, để trong đời này có
nhiều yêu thương, sẻ chia hơn.
* Chứng minh bằng tác phẩm văn học cụ thể:
+ Nhà văn Nga Gercen đã từng cho rằng: “Nhà văn là một nỗi đau khổ”. Khổ đau trong cuộc
đời, các nhà văn đã thấu hiểu sâu sắc “mọi nỗi đau đớn của con người thời đại, đã rung
động tận đáy tâm hồn với những lo âu, bực bội, tủi hổ,… của loài người” (Đặng Thai Mai).
Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều bởi “nỗi đau đớn lòng” trước những điều Người đã “trông
thấy”, đã từng trải qua trong cuộc đời.
o Truyện Kiều là tiếng kêu đứt ruột về những kiếp sống bị đoạ đày. Ai biết trong mười lăm
năm lưu lạc của mình, Thuý Kiều đã từng bao lần rơi lệ, đã từng bao lần bị đánh đập, hành hạ?
Và ai biết được, người nghệ sĩ có trái tim nhân đạo vĩ đại – Nguyễn Du đã bao lần nhỏ lệ
trước “số phận một con người” bất hạnh, đau đớn ê chề. “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân
Kiều”. Nỗi đau ấy đã một lần thôi thúc Người viết nên hai câu thơ, mà hôm nay và mai sau
hãy còn vang vọng:
Trang 23
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng cũng là lời chung.
(Truyện Kiều)
o Khơng cầu kì, hoa mĩ, đó là những lời huyết lệ, những lời tâm can của chính Nguyễn Du.
Những câu thơ như thế, có gì hay, có gì mà hấp dẫn mn triệu trái tim, mn triệu tâm hồn?
Phải chăng bởi đó là tiếng thét khổ đau, bởi đó là sự trào dâng mãnh liệt của cảm xúc, của
tình yêu thương con người.
o Mượn cốt truyện của người xưa nhưng Nguyễn Du không sao chép nguyên xi. Người đã
thổi hồn cho những con chữ, những hình tượng sống dậy và sống mãi trong tâm hồn, trong
những sướng khổ, buồn vui của biết bao thế hệ con người Việt Nam hôm nay và mai sau.
+ Khác với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cũng viết về người phụ nữ, nhưng với tâm trạng
của người trong cuộc, hay đúng hơn, viết bằng sự trải nghiệm của chính bản thân mình.
o Những vần thơ của Xuân Hương là sự lên tiếng của một thân phận. Bất hạnh trong cuộc đời
riêng, Xuân Hương tìm đến thơ như người bạn tâm tình – nơi gửi gắm, kí thác những nỗi niềm
suy tư. Đọc thơ Xuân Hương, người đọc có thể bị cuốn đi bởi những câu thơ mỉa mai sát sàn
sạt, những lời mắng chửi té tát, không thương tiếc với bọn “hiền nhân quân tử”, những
vua chúa, sư sãi giả dối, hợm hĩnh, vô luân,…
o Nhưng đằng sau những nụ cười “rất mạnh, rất sâu” ấy là những giọt nước mắt, những
tiếng thét khổ đau cho thân phận người phụ nữ. Để rồi đọc thơ bà, ta thấy “cần phải khóc”
trước những cảnh “Kẻ đắp chăn bơng kẻ lạnh lùng”, trước cảnh ngộ “Trơ cái hồng nhan với
nước non”. Khao khát mãnh liệt về hạnh phúc, nhưng cuối cùng, nữ sĩ được gì ngồi “kiếp lấy
chồng chung”, ngồi thứ tình cảm chia năm sẻ bảy “Mảnh tình san sẻ tí con con”.
o Hồ Xuân Hương muốn vượt thoát tất cả, muốn “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”, khơng
cịn những cảnh “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”. Nhưng cái xã hội phong kiến bất cơng phi
nhân tính ấy đâu có để nữ sĩ sống hạnh phúc, bình n như mong muốn. Cho nên tiếng thơ Hồ
Xuân Hương đọng lại một niềm đau, không thể lãng quên, không thể nguôi ngoai.
+ Trong truyện ngắn nổi tiếng Chí Phèo, Nam Cao lại quay tấm gương cuộc đời anh Chí để ta
thấy một kiếp sống tủi nhục trong xã hội Việt Nam trước Cách mạng.
o Chí Phèo, một nạn nhận đau khổ của một xã hội cạn khơ tình người với “con quỷ mang bộ
mặt người”. Sinh ra khơng tình u thương của mẹ cha, Chí lớn lên trong sự đùm bọc của
những người như anh thả ống lươn, bà cụ mù phó cối dù nghèo nhưng tốt bụng. Nhưng những
năm tháng ấy, như chính những thước phim để nhà văn tái hiện rất ngắn gọn của Nam Cao,
lướt qua cuộc đời Chí như cơn lốc cuốn qua.
o Cái cịn lại của cuộc đời, Chí đâu có gì ngồi những năm tháng tù tội, những lần rạch mặt ăn
vạ, những khinh bỉ, miệt thị của người đời. Gặp thị Nở, cứ tưởng Chí sẽ bừng sáng, sẽ ngời lên
Trang 24
hồi chng an lành nhưng hạnh phúc, tình người lại thoảng qua như hơi cháo hành, như ảo ảnh
về nguồn nước giữa sa mạc cạn khô. Người nhen lên ngọn lửa của lương tri, tình người cũng
chính là người dập tắt hi vọng trở về với cuộc đời của Chí.
o Và khi “mất thiên thần, người đã chết”. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở vẻ với cuộc
đời. Chí đã chết khi miệng “ngáp ngáp” như muốn thanh minh, muốn bày tỏ với cuộc đời, với
con người. Có đau đớn nào đau đớn hơn thân phận của con người ấy?
o Viết về những số phận bất hạnh, ngòi bút của Nam Cao đâu chỉ nhằm phản ánh chân xác
thực trạng con người xã trong xã hội cũ. Đằng sau câu chữ, cách xưng hơ có vẻ lạnh lùng,
dửng dưng miệt thị ấy là một trái tim ấm nóng tình u thương con người. Nam Cao đã
có lí tưởng muốn viết lên những tác phẩm làm cho “người gần người hơn” thì với Chí Phèo,
ơng đã làm được điều đó. Bởi lẽ nhà văn đã “đứng trong lao khổ mở hồn ra để đón lấy những
vang động của đời” cho nên tác phẩm của ơng, những “tiếng đau lốt ra từ những kiếp lầm
than” sẽ còn sống mãi.
– Tác phẩm còn là “lời ca tụng hân hoan”:
+ Bầu trời khơng chỉ có mây đen mà cịn có những tia nắng vàng, cuộc sống khơng chỉ có
những nỗi khổ đau mà cịn có những niềm vui sướng. Văn học phản ánh chân thực, không chỉ
là phản ánh những đau khổ mà còn ngợi ca những vẻ đẹp và niềm vui của cuộc sống, của
con người.
+ Thơ Xuân Diệu là “bầu xn”, là “bình chứa mn hương” của tuổi trẻ, sức sống và tình
yêu:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
Này đây hoa của đồng nội xanh rì;
Này đây lá của cành tơ phơ phất;
Của yến anh này đây khúc tình si;
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,
Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gỗ cửa;
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;
(Vội vàng)
o Người ta gọi thơ Xuân Diệu là “nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ
này” phải chăng bởi nhà thơ đã đốt cháy xúc cảm say mê mãnh liệt với cuộc đời.
o Cuộc sống muôn đời vẫn là vậy. Thế nhưng những cảnh sắc của cuộc sống đi qua tâm hồn
nồng nàn tình yêu cuộc đời của Xuân Diệu lại ánh lên những màu sắc diệu kì, lại ngân lên
những thanh âm du dương. Thế giới, qua căp mắt “xanh non biếc rờn” của thi sĩ họ Ngô là khu
Trang 25
III. Chức năng của văn học1. Chức năng nhận thức. 2. Chức năng giáo dục. 3. Chức năng thẩm mĩ. 4. Mối quan hệ giữa các tính năng văn học. IV. Con người trong văn học. 1. Đối tượng phản ánh của văn học. 2. Hình tượng văn học. V. Thiên chức nhà văn1. Thế nào là thiên chức của nhà văn ? 2. Bản tính của thiên chức nhà văn. VI.. Yêu cầu so với người nghệ sĩ1. Yêu cầu thứ nhất : Người nghệ sĩ phải ln phát minh sáng tạo, tìm tịi những đề tài mới, hình thức mới. 2. u cầu thứ hai : Người nghệ sĩ phải ghi nhận rung cảm trước cuộc sống. 3. Yêu cầu thứ 3 : Nhà văn phải có phong thái riêng. VII. Phong cách sáng tác1. Khái niệm phong thái sáng tác : 2. Đặc điểm của phong thái nghệ thuậtVIII. Nhà văn – Tác phẩm – Bạn đọ1. Nhà văn và tác phẩm. 2. Bạn đọc. IX. THƠ1. Thơ là gì ? 2. Đặc trưng của thơ. 3. Một tác phẩm thơ có giá trị4. Tình cảm trong thơ. 5. Thơ trong mối quan hệ hiện thực. 6. Sáng tạo trong thơ. 7. Để phát minh sáng tạo và lưu giữ một bài thơ hay. X. TÍNH NHẠC, HỌA, ĐIỆN ẢNH, CHẠM KHẮC TRONG THƠ1. Tính nhạc. 2. Tính họa3. Điện ảnh. 4. Điêu khắc. XI. VẺ ĐẸP CỦA NGÔN NGỮ THƠ CAXII. NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC. 1. Khái niệmTrang 22. Vai trò của nhân vật trong tác phẩm. 3. Phân loại nhân vật văn học4. Một số giải pháp kiến thiết xây dựng nhân vật. XIII. TÌNH HUỐNG TRUYỆN. 1. Khái niệm2. Phân loại. 3. Phương pháp tiếp cận trường hợp. XIV. TÁC PHẨM VĂN HỌC CHÂN CHÍNH. 1. Thế nào là tác phẩm văn học chân chính ? 2. Yêu cầu của một tác phẩm văn học chân chínhXV. GIỌNG ĐIỆU TRONG VĂN HỌC1. Giọng điệu là gì2. Yêu cầu khi khám phá giọng điệu trong văn học. 3., Yêu cầu khi viết một bài văn về giọng điệu trong văn học. XVI. CHI TIẾT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC. 1. Chi tiết nghệ thuật và thẩm mỹ là gì ? 2. Đặc điểm và vai trò của cụ thể trong tác phẩm tự sự3. Cách cảm nhận cụ thể trong tác phẩm tự sựChương 2 : CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN THI HSG NGỮ VĂN THPT ( Phần 1 ) CHUYÊN ĐỀ 1 : VĂN HỌC DÂN GIAN VIỆT NAM. 1. Những giá trị cơ bản của Văn học dân gian Nước Ta. 2. Vai trò của văn học dân gian3. Một số quan tâm về giải pháp đọc – hiểu văn học dân gian4. Ảnh hưởng của Văn học dân gian so với văn học viết Nước Ta. CHUYÊN ĐỀ 2 : CA DAO1. Nhân vật trữ tình2. Thể thơ. 3. Thời gian thẩm mỹ và nghệ thuật và khoảng trống nghệ thuật4. Ngơn ngữ5. Kết cấu6. Một số hình tượng, hình ảnh trong ca dao7. Bi kịch người phụ nữ trong ca daoCHUYÊN ĐỀ 3 : THI PHÁP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI. 1. Đặc trưng thi pháp : mạng lưới hệ thống ước lệ nghệ thuật và thẩm mỹ cổ xưa. 2. Thiên nhiên trong văn học trung đại. 3. Một quốc tế nghệ thuật và thẩm mỹ phi thời gian. 4. Quan niệm con người trong văn chương trung đại. CHUYÊN ĐỀ 4 : TÍNH QUY PHẠM VÀ BẤT QUY PHẠM TRONG VĂN HỌCTRUNG ĐẠI VIỆT NAM1. Tính quy phạm trong văn học trung đại Nước Ta : 1.1 / Khái niệmTrang 31.2 / Đặc điểm2. Tính bất quy phạm trong văn học trung đại Việt Nam2. 1 / Khái niệm2. 2 / Đặc điểm3. Tính quy phạm và bất quy phạm qua một số ít tác phầm tiêu biểu4. Đánh giáCHUN ĐỀ 5 : HÀO KHÍ ĐƠNG A QUA THƠ THỜI TRẦN1. Thế nào là hào khí Đơng A ? 2. Hào khí Đơng A trong các tác phẩm : “ Tụng giá hoàn kinh sư ”, “ Thuật hoài ”, “ Cảm hoài ”. CHUYÊN ĐỀ 6 : THƠ NGUYỄN TRÃI VÀ THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM1. Nguyễn Trãi và Bảo kính cảnh giới – bài số 432. Nguyễn Bỉnh Khiêm và NhànCHUYÊN ĐỀ 7 : QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HOC VIỆT NẠM TỪ ĐẦUTHẾ KỈ XX ĐẾN 19451. Khái niệm văn minh hóa2. Q trình tân tiến hóa3. Sản phẩm của văn minh hố văn họcCHUN ĐỀ 8 : THƠ MỚI1. Hoàn cảnh lịch sử vẻ vang xã hội2. Các thời kỳ tăng trưởng của Phong trào thơ mới3. Đặc điểm điển hình nổi bật của Phong trào thơ mới4. Những góp phần của trào lưu thơ mới5. Những tác giả tiêu biểu vượt trội của trào lưu Thơ mới ( 1932 – 1945 ) CHUYÊN ĐỀ 9 : PHONG CÁCH THƠ XUÂN DIỆUChuyên đề 10 : GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO1. Khái niệm về giá trị hiện thực2. Khái niệm giá trị nhân đạo3. Biểu hiện của giá trị hiện thực trong văn học trung đại4. Giá trị hiện thực và nhân đạo trong 1 số ít tác phẩm lớp 11 Truyện ngắn “ Hai đứa trẻ ” – Thạch Lam Truyện ngắn “ Chí Phèo ” – Nam Cao. Bổ sung nội dungCHUYÊN ĐỀ 11 : CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ CHỦ NGHĨA LÃNG MẠNI. Chủ nghĩa lãng mạn1. Lịch sử hình thành và đặc trưng cơ bản : 2. 2. Trào lưu lãng mạn trong văn học Nước Ta : II. Chủ nghĩa hiện thực1. Lịch sử hình thành và đặc trưng cơ bản : Trang 42. Trào lưu hiện thực phê phán trong văn học Việt NamIII. Sự độc lạ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa lãng mạn trong nộidung phản ánhCHUYÊN ĐỀ 12 : ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁNVIỆT NAM QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂNTHPTI. Khái quát về Chủ nghĩa hiện thực phê phán1. Lịch sử hình thành2. Nhân vật TT và cảm hứng chủ đạo3. Các nguyên tắc tái hiện đời sống4. Đặc trưng thi phápII. Đặc trưng của Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong Văn học Việt Nam1. Sự hình thành2. Đặc trưngIII, ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC PHÊ PHÁN VIỆT NAMQUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT1. Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia ( Trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng ) 2. Các truyện ngắn của Nam CaoChuyên đề 13 : TRÀO LƯU LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM GIAIĐOẠN 1930 – 1945I. Hồn cảnh sinh ra, q trình tăng trưởng của trào lưu lãng mạn trong văn học ViệtNam quá trình 1930 – 1945II. Đặc trưng của trào lưu lãng mạnIII. Thơ mới1. Đặc trưng về nội dung2. Đặc trưng về nghệ thuật3. Những nhà thơ tiêu biểu vượt trội Xuân Diệu – Nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ mới Hàn Mặc Tử – Hồn thơ phức tạo và huyền bí của trào lưu Thơ mớiChuyên đề 14 : VĂN XUÔI LÃNG MẠN VIỆT NAM : THẠCH LAM – NGUYỄNTUÂNA. Văn xuôi lãng mạn Việt NamB. TÁC GIẢ THẠCH LAM VÀ HAI ĐỨA TRẺC. TÁC GIẢ NGHUYỄN TUÂN VÀ CHỮ NGƯỜI TỬ TÙChuyên đề 15 : VẺ ĐẸP CỔ ĐIỂN VÀ HIỆN ĐẠI TRONG TẬP THƠ NHẬT KÍTRONG TÙChuyên đề 16 : CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪNỬA CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1945I. CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM NỬA CUỐI THẾKỈ XIX1. Sự chuyển tiếp chủ nghĩa yêu nước trong buổi giao thời Âu – Á của văn họcViệt Nam từ cuối thế kỉ XIXTrang 5 a / Bối cảnh lịch sử vẻ vang của buổi giao thời Ấu – Áb. Những tác giả tiêu biểu vượt trội của buổi giao thời Âu – Á cuối thế kỉ XIX : NguyễnĐình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Trường Tộ, II. CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈXX ĐẾN NĂM 19451. Chủ nghĩa yêu nước trong văn học Nước Ta quá trình 1900 – 19302. Chủ nghĩa yêu nưóc trong văn học Nước Ta quy trình tiến độ 1930 – 1945M ỤC LỤC QUYỂN 2 ( 469 Trang ) Chương 1 : KĨ NĂNG ĐƯA LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI VĂN HSGI. Những câu hỏi cho người mới bắt đầu1. Lý luận văn học là gì ? 2. Học lý luận văn học như thế nào ? 3. Kiến thức lý luận văn học nằm ở đâu trong bài làm nghị luận văn học ? 4. Dàn ý của dạng bài xử lý một yếu tố lí luận văn họcII. Năm nguyên tắc quan trọng khi đưa kỹ năng và kiến thức lí luận văn học vào bài vănnghị luậnIII. HƯỚNG DẲN HỌC SINH KHAI THÁC DẲN CHỨNG CHO NHỮNGVẤN ĐỀ CỐT LÕI VỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC ĐỐI VỚI ĐỀ THI HỌCSINH GIỎI QUỐC GIAIV.KIẾN THỨC BỔ TRỢ : VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀ LÍ LUẬN VĂNHỌC CHO HỌC SINH GIỎI THEO GIỚI HẠN CHƯƠNG TRÌNHNGỮ VĂN 11 TỪ NĂM 2018 ( Tài liệu tập huấn dành cho Giáo viên dạy đội tuyển HSG ) Chương 2 : CÁC CHUYÊN ĐỀ ÔN THI HSG NGỮ VĂN THPT ( Phần 2 ) Chuyên đề 17 : NGHỊ LUẬN XÃ HỘII. Nghị luận xã hội là gì ? II. Những nhu yếu khi làm văn Nghị luận xã hộiIII. Phân loại đề văn Nghị luận xã hộiIV. Cấu trúc bài văn Nghị luận xã hộiDạng 1 : Nghị luận về tư tưởng đạo líDạng 2 : Nghị luận về hiện tượng kỳ lạ đời sốngDạng 3 : Nghị luận về yếu tố đặt ra trong tác phẩm hoặc câu chuyệnDạng 4 : Dạng đề tích hợp hai mặt tốt xấu trong một vấn đềDạng 5. Dạng đề mang đặc thù đối thoại, thể hiện tâm lý riêng về yếu tố đượcđặt raDạng 6 : Nghị luận về một yếu tố được gợi ra từ một bức tranh / hình ảnhTổng hợp 100 dẫn chứng cho bài Nghị luận xã hộiChuyên đề 18 : KỊCH BẢN VĂN HỌCI.Khái quát về kịch bản văn học1. Khái niệmTrang 62. Phân loại kịch. 3. Đặc trưng của kịchII. Một số tác phẩm kịch trong chương trình THPT1. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ” – Bi kịch về cái đẹp bị bức tử2. Hồn Trương Ba, Da Hàng thịtChuyên đề 19 : KÍ VÀ TÙY BÚTI, Kí1. Khái niệm2. Phân loại3. Đặc trưng của thể loại kí. 4. Những điểm cần quan tâm khi đọc – hiểu tác phẩm kí theo đặc trưng thể loạiII, Tùy bút1. Khái niệm2. Đặc điểmIII. Một số tác phẩm kí, Tùy bút trong chương trình1. Người lái đị sơng Đà2. Ai đã đặt tên cho dịng sơng ? Chun đề 20 : TÌNH HUỐNG TRUYỆN ( Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân ; Vợ nhặt của Kim Lân và Chiếc thuyền ngoàixa của Nguyễn Minh Châu ” ) Chuyên đề 21 : PHONG CÁCH CỦA CÁC NHÀ VĂN TIÊU BIỂU TRONGCHƯƠNG TRÌNH THPTChuyên đề 22 : KHÁM PHÁ LÝ TƯỞNG CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ TRONG VHHIỆN ĐẠI VNI. Khái quátII. Lý tưởng người nghệ sĩ trong các tác phẩm đã học1. Giai đoạn văn học Nước Ta trước Cách mạng tháng Tám 19452. Giai đoạn văn học Nước Ta từ 1945 đến 1975 : 3. Giai đoạn văn học Nước Ta sau 1975 : III. Kết luậnChuyên đề 23 : CÁC CHI TIẾT NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN1. Những cụ thể nghệ thuật và thẩm mỹ rực rỡ trong các truyện ngắn Nước Ta giaiđoạn 1930 – 1945 Chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao Chi tiết đồn tàu trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam. 2. Những chi tiết cụ thể nghệ thuật và thẩm mỹ rực rỡ trong các truyện ngắn Nước Ta quá trình 1945 – 1975 Chi tiết căn buồng Mị nằm và chi tiết cụ thể tiếng sáo đêm xuân trong truyện ngắnVợ chồng A Phủ của Tơ Hồi Chi tiết nụ cười và nước mắt, cụ thể nồi cháo cám trong truyện ngắn Vợ nhặtTrang 7 của Kim Lân. Chi tiết đôi bàn tay Tnú trong truyện ngắn Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành3. Những cụ thể thẩm mỹ và nghệ thuật rực rỡ trong các truyện ngắn Nước Ta giaiđoạn 1975 đến hết thế kỉ XX Chi tiết tấm ảnh thẩm mỹ và nghệ thuật trong bộ lịch cuối năm trong truyện Chiếcthuyền ngoài xa. Chi tiết cây si ở đền Ngọc Sơn trong Một người TP. Hà Nội của Nguyễn KhảiChuyên đề 24 : GIỌNG ĐIỆU TRONG TIỂU THUYẾT SỬ THI 1945 – 1975C hun đề 25 : HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG THƠ VĂN 1945 – 1975I. Hình tượng người lính trong thơ văn 1945 – 1975 nói chungII. Hình tượng người lính trong các tác phẩm : Tây Tiến, Rừng Xà nu, Những đứa con trong gia đìnhChuyên đề 26 : NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ TRONG CÁC TRUYỆN NGẮN ( Vợ nhặt, Một người Thành Phố Hà Nội, Chiếc thuyền ngoài xa ) I. Về số phận của nhân vậtCuộc đời nhọc nhằn, lam lũNhững nỗi đau do chiến tranhII. Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật người mẹGiàu đức hi sinh, vị tha, bao dungSắc sảo, hiểu đời và trải đờiIII. Nghệ thuật khắc họa nhân vậtNghệ thuật miêu tả nhân vật bà cụ TứNghệ thuật miêu tả nhân vật bà Hiền và nhân vật mẹ của TuấtNghệ thuật miêu tả nhân vật người đàn bà hàng chàiChuyên đề 27 : GƯƠNG MẶT ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ VĂNChuyên đề 28 : NHỮNG CHUYỂN BIẾN VỀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VÀ HÌNHTHỨC NGHỆ THUẬT CỦA THƠ VIỆT NAM NHÌN TỪ PHONG TRÀO THƠMỚI, THƠ CA CÁCH MẠNG ( 1945 – 1975 ) VÀ THƠ CA TỪ 1975 ĐẾN HẾT THẾKỈ XXI. Những chuyển biến của thơ Việt nhìn từ trào lưu thơ Mới, thơ ca cách mạng ( 1945 – 1975 ), thơ Việt sau 1975 đến hết thế kỉ XX trên bình diện nội dung tư tưởng1. Những chuyển biến của cảm hứng thơ2. Những chuyển biến của cái tơi trữ tình trong thơII. Những chuyển biến của thơ Việt nhìn từ trào lưu thơ Mới, thơ ca Cáchmạng, thơ Việt sau 1975 đến hết thế kỉ XX trên bình diện hình thức nghệ thuật1. Những chuyển biến về cấu trúc thơTrang 82. Sự chuyển biến về giọng điệu nghệ thuật của thơ Việt3. Những chuyển biến về hình ảnh thơ4. Sự chuyển biến về ngôn từ thơChuyên đề 29 : VĂN HỌC ĐỔI MỚI VÀ NHỮNG NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG ( Nguyễn Minh Châu, Thanh Thảo ) I.Khái quát1. Những điểm mới của truyện ngắn sau năm 1975 so với tiến trình trước2. Điểm mới của thơ trữ tình sau năm 1975 so với tiến trình trướcII. Nguyễn Minh Châu và Chiếc thuyền ngoài xaIII. Thanh Thảo và Đàn Ghi ta của LorcaChuyên đề 30 : QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜII.QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆTNAM 1945 – 19751. Quan niệm con người tập thể, đại chúng2. Quan niệm con người sử thi3. Quan niệm con người lí trí, đơn trịII. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI TRONG VĂN HỌC VIỆTNAM SAU 1975 ĐẾN NAY1. Con người cá nhân2. Con người thế sự, đời tư3. Con người lưỡng diện, phức tạp và bí ẩnChuyên đề 31 : KHUYNH HƯỚNG THƠ TƯỢNG TRƯNG SIÊU THỰC SAU1975I. Về nội dung1 Khuynh hướng thơ đi sâu vào vùng mờ tâm linh, vô thức và những biểu hiện2 Cái tôi tâm linh, vô thức trong khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực hành trình của sự thừa kế và phát triển3 Những tác giả tiêu biểuII. Về hình thức thể hiện1 Từ ý niệm mới về chữ và nghĩa của thơ, xu thế thơ dòng chữ … 2. Biểu hiện đa dạng và phong phú ở từng nhà thơChuyên đề 32 : ĐỘI NGŨ SÁNG TÁC THƠ VIỆT NAM SAU 19751. Vài nét về thơ Nước Ta sau 19752. Các tác giả tiêu biểuTrang 9C hương 3 : NHỮNG BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM CAO CỦA HỌC SINH GIỎINghị luận văn học : Bài văn 1 : Thơ là lời nói tiên phong, lời nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm tớicuộc sống. Bài văn 2 : Chứng minh đánh giá và nhận định “ Với Thơ Mới, thi ca Nước Ta bước vào một thờiđại mới ” Bài văn 3 : Chất thơ trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ ” của Thạch Lam. Bài văn 4 : Sinh thời Nam Cao đã từng rất tâm đắc với câu nói của một nhà văn Pháp “ người ta chỉ xấu xa, bần tiện trong con mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ ”. Qua sựnghiệp sáng tác của Nam Cao, Anh chị hãy chứng tỏ. Bài văn 5 : Văn học giúp con người hiểu được bản thân mình nâng cao niềm tin vàobản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng vươn tới chân lý. Bài văn 6 : Con người đến với đời sống từ nhiều nẻo đường, trên muôn vàn cung bậcphong phú. Nhưng tiêu điểm mà con người hướng đến vẫn là con ngườiBài văn 7 : Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà văn nhân đạo từ trong cốt tủyBài văn 8 : “ Văn học là cuốn bách khoa toàn thư về đời sống ”. Bài văn 9 : Nguyễn Tuân cho rằng “ mỗi nhà văn là một phu chữ ”. Em hiểu quan điểm trênnhư thế nào ? bằng việc nghiên cứu và phân tích vẻ đẹp của ngơn từ trong “ tun ngơn độc lập ” của HồChí Minh. Bài văn 10 : Bàn về ngơn ngữ thẩm mỹ và nghệ thuật, có người cho rằng lựa chọn ngôn từ là yếu tốquan trọng góp thêm phần làm ra sự thành cơng của một tác phẩm thơ ca. Bằng việc phântích nghệ thuật và thẩm mỹ, sử dụng ngôn từ trong bài “ Tây Tiến ” của Quang Dũng, em hãy làmsáng tỏ quan điểm trên. Bài văn 11 : Bàn về mối quan hệ giữa nhà văn với bạn đọc, bạn đọc với tác phẩm ChếLan Viên viết. “ Mình là ta đấy, thơi ta vẫn gửi cho mình, Sâu thẳm mình ư lại là ta đấy, Ta gửi cho mình nhen thành nửa cháy, Gửi viên đã con, mình lại dựng lên thành ”. Bằng việc nghiên cứu và phân tích một số ít tác phẩm trong chương trình Ngữ Văn 12, anh chị hãy làmrõ mối quan hệ giữa tác giả và fan hâm mộ trong ý niệm trên của Chế Lan Viên. Bài văn 12 : So sánh phong thái viết kí của Nguyễn Tn trong Người lái đị sơng Đàvới Hoàng Phủ Ngọc Tường trong Ai đã đặt tên cho dịng sơng. Bài văn 13C ó quan điểm cho rằng “ phong thái văn học bộc lộ trước hết ở cách nhìn, cách cảm thụcó đặc thù tò mò ở giọng điệu riêng không liên quan gì đến nhau của tác giả ”. Bằng việc nghiên cứu và phân tích tùy bút Người lái đị sơng Đà, hãy chứng tỏ đánh giá và nhận định trên. Bài văn 14 Có quan điểm cho rằng “ kí là trần thuật người thật, việc thật ”, quan điểm của anhchị về ý niệm này ? Bằng việc nghiên cứu và phân tích một tác phẩm văn học lớp 12 hãy bình luậný kiến trên. Bài văn 15 : “ Thích một bài thơ, theo tơi nghĩ, trước hết là thích một cách nhìn, một cách nghĩ, một cách xúc cảm, một cách nói, nghĩa là trước hết là thích một conngười ”. Nghị luận xã hội : Trang 10B ài văn 16 : NLXH : Phải chăng sống là phải tỏa sáng ? Bài văn 17 : Phía sau những lời khen … Bài văn 18 : Phía sau lời nói dối … Bài văn 19 : Theo đuổi tham vọng …. Bài văn 20 : NLXH Hãy sống toàn vẹn nhất. Bài văn 21 : Nghị luận về ý nghĩa câu truyện Hai hạt mầmBài văn 22 : Cuộc sống cần những giọt nước mắt. Bài văn 23 : Nếu một ngày đời sống nhuộm màu đen hãy cầm bút và vẽ cho nó nhữngvì sao lấp lánh lung linh. Bài văn 24 : Nghị luận XH : Tổ quốc trong tôiBài văn 25 : Suy nghĩ của anh, chị về triết lý nhân sinh rút ra từ bài thơ “ Quán hàngphù thủy ” Bài văn 26 : tâm lý về câu truyện Bóng nắng bóng râmBài văn 27 : Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc sống, sự mất mátlớn nhất là để tâm hồn tàn lụi ngay khi còn sống. Bài văn 28 : Nghị luận về ý nghĩa đoạn thơ Lá Xanh – Nguyễn Sỹ ĐạiKiến thức hỗ trợ 1 : Cấu trúc đề thi HSG Ngữ vănKiến thức hỗ trợ 2 : Tổng hợp dẫn chứng cho bài NLXHKiến thức hỗ trợ 3 : Những nhận định và đánh giá văn học hayCÒN MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ ĐANG SOẠN, DỰ KIẾN SẼ HOÀN THIỆNTRONG THỜI GIAN TỚIChuyên đề : Truyện KiềuChuyên đề : Tố Hữu – Đảng và thơ. Phong cách trữ tình – chính trị ( Từ ấy, Việt Bắc, Bác ơi ) Chuyên đề : Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn ( văn học 1945 – 1975 ) Chuyên đề : Chủ nghĩa anh hùng cách mạng qua truyện kí cuộc chiến tranh ( Người mẹcầm súng, Những đứa con trong mái ấm gia đình, Đất nước đứng lên, Rừng xà nu. ) Chuyên đề : Chân dung Xn Quỳnh qua thơ tình ( Sóng, Thuyền và biển, Thơ tìnhcuối mùa thu, Nếu ngày mai em không làm thơ nữa, Hoa cỏ may ) Chuyên đề : Những áng thiên cổ hùng văn ( Nam quốc sơn hà, Bình ngơ đaị cáo, Tun ngơn độc lập ) Chun đề : Hình tượng tiếng đàn trong văn học ( Tì bà hành, Truyện Kiều, Đànghi ta của Lorca ) Chương 1 : KĨ NĂNG ĐƯA LÍ LUẬN VĂN HỌC VÀO BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌCI. NHỮNG CÂU HỎI CHO NGƯỜI MỚI BẮT ĐẦU1. Lý luận văn học là gì ? Lý luận văn học, hiểu một cách đơn thuần là bộ mơn nghiên cứu và điều tra văn học ở bình diệnkhái quát, nhằm mục đích tìm ra những quy luật chung nhất về văn học. Kiến thức lý luận văn học sẽgiúp tất cả chúng ta vấn đáp các câu hỏi khái quát, ví dụ như : Trang 11V ăn học bắt nguồn từ đâu ? Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạo thành ? Văn học được sáng tác và được tiếp đón như thế nào ? Văn học sinh ra để làm gì ? … Các nhà lí luận sẽ nghiên cứu và điều tra trên các hiện tượng kỳ lạ văn học để khái quát lên những thuậtngữ, những vấn đề về các quy luật của văn học. Nhờ các thành quả điều tra và nghiên cứu đó mànhững người chăm sóc đến văn học hoàn toàn có thể lí giải được sâu hơn thực chất của các hiện tượngvăn học như : nhà văn, tác phẩm, trào lưu văn học … Các kỹ năng và kiến thức lí luận văn học đang tăng trưởng từng ngày từng giờ với rất nhiều cáckhuynh hướng, các luồng tư tưởng, các ý niệm khác nhau, có khi thống nhất nhưng cũngcó khi phủ nhận lẫn nhau. Những điều tra và nghiên cứu về lí luận văn học vẫn đang được triển khai hàngngày trong đời sống của tất cả chúng ta, trao cho ta những góc nhìn mới mẻ và lạ mắt, thâm thúy hơn về vănhọc. Có nhiều người cho rằng lí luận văn học rất khó hiểu, thực ra các kiến thức và kỹ năng lí luận văn học vơcùng thân mật với tất cả chúng ta. Văn học là gì ? Văn học vì ai mà sống sót ? – những câu hỏi ấy nảy ratrong ta ngay từ khi gặp gỡ văn học, và mỗi tất cả chúng ta ắt hẳn đều có cho riêng mình những ýniệm để vấn đáp câu hỏi ấy. Học lí luận văn học là cách để ta hoàn toàn có thể vấn đáp những câu hỏi dạngnhư vậy một cách có mạng lưới hệ thống và khoa học hơn. Ở mức độ trường đại trà phổ thông, trước nay tất cả chúng ta vẫn lĩnh hội tri thức lí luận văn học ở mức độcơ bản. Những tri thức này sẽ là nền tảng để học viên liên tục nghiên cứu và điều tra sâu hơn ở các bậchọc cao hơn. 2. Học lý luận văn học như thế nào ? Cũng như mọi bộ môn nghiên cứu và điều tra kim chỉ nan khác, tất cả chúng ta đảm nhiệm tri thức lí luận văn họctrên nhiều Lever. Từ thấp đến cao, các Lever đó biểu lộ như sau : Chúng ta biết được các thuật ngữ và các vấn đề lí luận văn học. BiếtChúng ta hoàn toàn có thể hiểu và diễn đạt đúng mực các thuật ngữ và luậnHiểuđiểm lí luận văn học bằng lời văn của mình. Chúng ta hoàn toàn có thể vận dụng các kỹ năng và kiến thức lí luận văn học để lí giải cácVận dụnghiện tượng văn học, các nhận định và đánh giá về lí luận văn học. Chúng ta hoàn toàn có thể nghiên cứu và phân tích các bộc lộ của yếu tố lí luận văn họctrong một hiện tượng kỳ lạ văn học cụ thể ( tác phẩm, phong thái tác giả, Phân tíchtrào lưu văn học, thời kì văn học … ) Chúng ta hoàn toàn có thể tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố lí luận văn họcTổng hợpkhác nhau, kêu gọi kiến thức và kỹ năng của nhiều chủ đề khác nhau để giảiquyết yếu tố có đặc thù tổng hợp. Chúng ta nhìn nhận được mức độ đúng chuẩn, tồn vẹn của một nhậnĐánh giáđịnh lí luận văn học và hoàn toàn có thể bổ trợ, phản biện một cách hài hòa và hợp lý. Ở mức độ một bài thi học viên giỏi, bài văn nghị luận dạng vận dụng kỹ năng và kiến thức lí luận văn họcđòi hỏi học viên phải nắm kiến thức và kỹ năng đến mức độ cao nhất trong thang nêu trên, là mức độ đánhgiá. Như vậy, việc lĩnh hội tri thức lí luận văn học cũng cần phải được rèn luyện từng bước đểđạt được Lever cao nhất. Cấp độ lĩnh Cách thức hình thànhhội tri thứcTrang 12B iết – Đọc giáo trình, tài liệu, xác lập các đơn vị chức năng kỹ năng và kiến thức quan trọng ( gạch chân, tô sáng các ý ). – Ghi nhớ những đơn vị chức năng kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất : những thuật ngữquan trọng, những vấn đề quan trọng. Sử dụng các kĩ thuật ghiCấp độ lĩnh Cách thức hình thànhhội tri thứcnhớ như sơ đồ hóa, khắc sâu từ khóa. Chẳng hạn : phải nắm các khái niệm như nhà văn, tác phẩm văn học, giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mĩ, phong thái vănhọc, trào lưu văn học, tiếp đón văn học, thể loại thơ, tự sự, kịch … HiểuVận dụngPhân tíchTổng hợpTập diễn đạt lại nội dung thuật ngữ, nội dung các vấn đề lí luậnvăn học bằng lời văn của chính mình. Tập lí giải một số ít hiện tượng kỳ lạ văn học thường gặp. Tập lí giải một sốluận điểm lí luận văn học. Thường xuyên đặt câu hỏi “ Vì sao ? ” vàcác câu hỏi giả định. Chẳng hạn như các câu hỏi : + Vì sao văn học phải phản ánh hiện thực đời sống ? + Vì sao cùng viết về “ Tương tư ” nhưng Nguyễn Bính trong bài thơ “ Tương tư ” thì chọn thể thơ lục bát, còn Xuân Diệu trong “ Tươngtư chiều ” lại chọn thể thơ tự do ? + Văn học hoàn toàn có thể sống sót không nếu không viết về con người ? + Ở văn học trung đại có hiện tượng kỳ lạ văn-sử-triết bất phân, nhưngđến văn học tân tiến thì người ta chia ba nghành nghề dịch vụ ấy ra. Vì sao cóthể tách văn ra khỏi sử và triết ? + Tại sao trong đoạn trích “ Kiều ở lầu Ngưng Bích ”, Nguyễn Du lạiđể Kiều nhớ Kim Trọng trước, cha mẹ sau ? Quy luật văn học nàodẫn đến điều đó ? + Tại sao nói truyện ngắn “ Hai đứa trẻ ” là bài thơ trữ tình đượmbuồn ? Phân tích các biểu lộ của các yếu tố văn học trong những hiệntượng văn học cụ thể như tác phẩm, phong thái tác giả, trào lưuvăn học, thời kì văn học … Ví dụ như : – Phân tích ( chỉ ra bộc lộ ) phong thái Nam Cao qua 1 số ít tácphẩm truyện ngắn trước CMT8. – Phân tích ( chỉ ra biểu lộ ) giá trị nhân đạo trong “ Truyện Kiều ”. – Phân tích ( chỉ ra bộc lộ ) nét riêng của nhà thơ Xuân Diệu khiviết về đề tài tình yêu … Giải quyết các yếu tố có đặc thù tổng hợp. Ví dụ như : – Nói về thơ ca, nhà thơ Tố Hữu nói : “ Thơ ca là lời nói hồn nhiênnhất của tâm hồn ”, nhưng Nguyễn Cơng Trứ lại cho rằng : “ Trót nợcùng thơ phải chuốt lời ”. Phải chăng hai câu nói trên là mâuthuẫn, hãy thử lí giải. Trang 13C ấp độ lĩnh Cách thức hình thànhhội tri thức – Có người cho rằng : Văn chương phải giúp tất cả chúng ta hiểu thêm vềđời sống và hiểu chính mình. Từ các phương diện đặc trưng văn học, công dụng văn học, quy trình sáng tác, quy trình đảm nhiệm, hãy lýgiải quan điểm trên. Liên tục đặt các câu hỏi tra vấn, phản biện : + Có phải khi nào cũng như vậy hay khơng ? + Nói như vậy đã thực sự đúng mực hay chưa ? Đánh giá + Có ngoại lệ hay khơng ? + Vấn đề đã tồn vẹn hay chưa, có bổ trợ gì khơng ? Trong khuynh hướng xử lý các đề thi, các bước rèn luyện như sau : – Bước 1 : Tìm hiểu triết lý, đọc sách, đọc giáo trình, nghe giáo viêngiảng và hỏi. – Bước 2 : Giải quyết đề thi, nhận định đề và lập dàn ý. – Bước 3 : Tiến hành viết bài. – Bước 4 : Sửa lỗi và rút kinh nghiệm tay nghề. Bốn bước nêu trên sẽ được lặp đi lặp lại và mỗi lần làm lại thì ở mức độ cao hơn. Đó là cáchtốt nhất để củng cố và liên tục tăng trưởng năng lượng cho đến khi thuần thục ở mức cao nhất. 3. Kiến thức lý luận văn học nằm ở đâu trong bài làm nghị luận văn học ? Có thể tạm chia các đề NLVH thường gặp lúc bấy giờ thành ba Lever : Yêu cầu đềĐề minh họa – Phân tích nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩmPhân tích các yếu tố “ Vợ nhặt ” của nhà văn Kim Lân. cơ bản trong một tác – Cảm nhận về nhân vật Người đàn bà hàngCấp độ 1 phẩm văn học. chài trong “ Chiếc thuyền ngồi xa ” của nhà vănNguyễn Minh Châu. – Phân tích giá trị nhân đạo trong “ Vợ nhặt ” củaKim Lân. Phân tích các yếu tố – Phân tích chất thơ trong truyện ngắn “ Hai đứatrong tác phẩm văn trẻ ” của nhà văn Thạch Lam. Cấp độ 2 học để làm rõ một – Phân tích tích tác phẩm “ Người lái đị Sơngu cầu nào đó. Đà ” để cho thấy những chuyển biến trong sángtác của nhà văn Nguyễn Tuân ở quá trình sauCMT8 1945. Giải quyếtmột – Bình luận về quan điểm của nhà thơ Tố Hữu : “ ThơCấp độ 3T rang 14 nhận định và đánh giá lí luận chỉ bật ra trong tim ta khi đời sống đã trànđầy ”. văn học. – Tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ chân chính là sự tơnvinh con người bằng cách hình thức nghệ thuậtđộc đáo. Bày tỏ tâm lý về quan điểm trên. Ở cả ba Lever đề trên, ta đều hoàn toàn có thể vận dụng kỹ năng và kiến thức lí luận văn học. Ở Lever 1, kiến thức và kỹ năng lí luận văn học sử dụng đa phần ở phần tổng kết để so sánh, so sánh, nâng cao yếu tố. Ví dụ : Khi nghiên cứu và phân tích nhân vật bà cụ Tứ ( trong truyện ngắn Vợ nhặt ), ta hoàn toàn có thể so sánh đốichiếu với hình tượng nhân vật người nông dân trước CMT8 để thấy sự thừa kế và phát triểncủa nhà văn Kim Lân trong truyền thống lịch sử về đề tài người nông dân. Bằng các kỹ năng và kiến thức lí luậnvăn học về trào lưu văn học, về quy trình phản ánh hiện thực và sự phát minh sáng tạo của người nghệ sĩ, ta hoàn toàn có thể lí giải phần so sánh, so sánh, qua đó làm cho bài viết thâm thúy hơn. Ở Lever 2, kiến thức và kỹ năng lí luận văn học bộc lộ ở ngay trong những thuật ngữ đề nhu yếu ta làmrõ. “ Giá trị nhân đạo ”, “ chất thơ ”, “ phong thái sáng tác ” đều là những thuật ngữ lí luậnvăn học. Để xử lý được các đề ở trên, ta phải nắm được khái niệm của các thuật ngữ, cácbiểu hiện của chúng và biết cách nghiên cứu và phân tích các biểu lộ ấy trong tác phẩm văn học. Ở Lever 3, kiến thức và kỹ năng lí luận văn học sẽ được vận dụng trong toàn bài viết. Đây là dạng đềquen thuộc nhất ở các kì thi học viên giỏi. Từ phần này trở về sau, bài viết sẽ chỉ đề cập đến việc vận dụng kiến thức và kỹ năng lí luận văn họctrong các đề ở Lever 3 này. Bởi vì nếu ta thành thục các kĩ năng cần có để xử lý các dạngđề ở Lever này, ta sẽ thuận tiện vận dụng vào hai Lever trước. 4. Dàn ý của dạng bài xử lý một yếu tố lí luận văn họcDàn ý chung phần thân bài như sau : Thao tácNội dung – Giải thích các thuật ngữ, các từ ngữ, hìnhảnh khó hiểu trong đánh giá và nhận định. 1. Giải thích Chốt vấn đề nghị luận : Như vậy, vấn đềcần bàn ở đây là gì ? Sử dụng các kỹ năng và kiến thức lí luận văn học để lígiải vấn đề nghị luận. Trả lời cho câu hỏi2. Bàn luận “ vì sao ? ” Chọn cụ thể trong tác phẩm để làm rõ các3. Chứng minhbiểu hiện của vấn đề nghị luận. – Đánh giá tính đúng đắn của yếu tố nghịluận. 4. Đánh giá – Bổ sung, phản biện lại yếu tố ( Nếu có ) Rút ra bài học kinh nghiệm cho nhà văn trong quá trình5. Liên hệMức độ tư duyBiếtHiểuVận dụngTổng hợpPhân tíchĐánh giáVận dụngsáng tác và bạn đọc trong quy trình tiếpnhận. Khi làm bài, cần vận dụng linh động các bước trên nhưng nhất thiết phải có không thiếu các thao tácTrang 15 này để bài viết không bị mất điểm. II, NĂM NGUYÊN TẮC QUAN TRỌNG KHI ĐƯA KIẾN THỨC LÍ LUẬN VĂNHỌCVÀO BÀI VĂN NGHỊ LUẬN——————Ở phần 1, ta đã biết những kiến thức và kỹ năng cơ bản nhất để làm quen với dạng bài lí luận văn học. Về từng chủ đề lí luận văn học, các bạn hoàn toàn có thể xem thêm Quyển 1, còn riêng phần 2 này, ta sẽbiết 5 nguyên tắc vô cùng quan trọng để việc thực hành thực tế viết bài văn được thuận tiện và suôn sẻhơn ! Để hiểu hơn về cách viết phần lí luận trong bài nghị luận văn học, trướchết hãy đọc bài văn dưới đây và thực thi những nhu yếu sau : – Xác định vấn đề nghị luận trong đề bài : Đề bài nhu yếu bàn về nhữngvấn đề nào ? – Với mỗi yếu tố, người viết đã dùng những lí lẽ nào để làm sáng tỏ ? – Xác định bố cục tổng quan bài viết : Giải thích, Bàn luận, Chứng minh, Đánh giá, LiênĐềbài : hệ. Đừng lười nhé, thao tác này rất quan trọng đấy ! Nhà phê bình người Nga Belinxky viết : “ Tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ sẽ chết nếu nó miêu tả cuộcsống chỉ để miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếunó khơng đặt ra những câu hỏi hoặc vấn đáp những câu hỏi đó ” ( Lí luận văn học, NXB Giáodục, 1993, trang 62 ). Bằng hiểu biết về văn học, anh ( chị ) hãy phản hồi và làm sáng tỏ quan điểm trên. Bài làmDostoevsky khi lí giải động lực khiến mình cầm bút đã nói rằng : “ Tơi hãy cịn một trái tim, một dịng máu nóng để u thương, cảm thơng và san sẻ ”. Cịn R. Tagore mong ước sau khitừ giã cõi đời, được nhắn nhủ lại một lời : “ Tơi đã từng u ”. Có phải bởi những nhà văn, nhàthơ vĩ đại – những con người đã sống, đã sống hết mình và yêu hết mình với cuộc sống, với conngười bởi thấm thía thâm thúy rằng : “ Tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ sẽ chết nếu nó miêu tả đời sống chỉđể miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó khơngđặt ra những câu hỏi hoặc vấn đáp những câu hỏi đó ” ( Lí luận văn học, NXB Giáo dục đào tạo, 1993, trang 62 ). Saltykov Shchedrin đã từng nói : “ Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Chỉ mìnhnó khơng thừa nhận cái chết ”. Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật bất tử ? Ở tàinăng hay ở tấm lòng người cầm bút ? Ý kiến của nhà phê bình Nga Bielinxky trên đây đãkhẳng định vai trị đặc biệt quan trọng quan trọng, thậm chí còn, quyết định hành động tư tưởng, tình cảm, hay nói cáchkhác, cái tâm của người cầm bút quyết định hành động sức sống của một tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ, ở đâyđược hiểu là tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học chỉ sống được trong những tư tưởng, tìnhcảm mãnh liệt của người cầm bút mà thơi. Trước hết, qua nhận xét của mình, Belinxky muốn lên án thứ văn chương “ miêu tả cuộc sốngchỉ để miêu tả ”. Đúng là văn học nghệ thuật và thẩm mỹ sinh ra để miêu tả, phản ánh hiện thực cuộc sốngcon người. Nhưng đó khơng phải là mục tiêu duy nhất của văn học. Nếu văn học chỉ miêu tảTrang 16 đời sống đơn thuần khơng thơi thì đó đâu khác bức ảnh, bản photo ngun xi, máy móc, vơhồn về đời sống. Và liệu rằng các tác phẩm ấy hoàn toàn có thể phân phối cho người đọc nhiều hiểu biếtchính xác, đa dạng và phong phú, khách quan hơn các cơng trình khiên cứu khoa học được chăng ? Saochép nguyên xi hiện thực, mô phỏng đời sống một cách vụng về, văn học thẩm mỹ và nghệ thuật sẽ khơngcịn là văn học, sẽ “ chết ” như cách nói của Belinsky. Vậy điều gì giúp cho các tác phẩm văn học, mặc dầu vẫn miêu tả, bộc lộ những tò mò vềcuộc sống lại không trở thành những bức ảnh vô hồn hay những bản thống kê cụ thể đến khôcứng, lãnh đạm ? Belinsky đã chỉ ra rằng, tác phẩm ấy phải là “ tiếng thét khổ đau ” hoặc là “ lời ca tụng hân hoan ”, tức là phải in đậm bầu xúc cảm mãnh liệt của người nghệ sĩ. Bởi lẽvăn học là làm theo quy luật của tình cảm. Văn học là sự lên tiếng thôi thúc của trái tim. Nhàvăn chỉ viết được khi “ trong tim ta đời sống đã tràn trề ”. Nếu như các ngành khoa học loạibỏ cái tơi trong nghiên cứu và điều tra thì các ngành thẩm mỹ và nghệ thuật, trong đó có văn học lại lấy cái tơi làmđiểm tựa cho sự phát minh sáng tạo. Viên Mai đã từng nói : “ Làm người thì khơng nên có cái tơi nhưnglàm thơ khơng thể khơng có cái tơi ”. Thơ nói riêng và văn học nói chung khơng thể thiếu cáitơi – ở đây là dấu ấn tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ. Làm sao nhà văn hoàn toàn có thể viết khiđứng trước hiện thực đời sống, trái tim anh không hề rung động, không hề xúc cảm ? Hiệnthực đời sống, dù đa dạng và phong phú, kì diệu đến mấy mà khơng được thổi hồn bởi tình cảm mãnhliệt của người cầm bút thì cũng chỉ là những hình ảnh lay lắt, khơng có sức sống trong tácphẩm mà thôi. “ Đừng cậy thời đại anh hùng nếu tâm hồn anh cứ bé ” – ấy là lời nhắn nhủchân thành, lời khun răn chính mình của nhà thơ Chế Lan Viên. Cho hay, đó cũng chính làđiều sinh tử với người cầm bút. Tình cảm khơng chỉ là “ khâu tiên phong ” mà còn là “ khâu sau cuối ” trong quy trình hìnhthành một tác phẩm văn học. Văn học chỉ sống được trong tấm lòng đồng cảm của người học. Vậy làm thế nào tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật hoàn toàn có thể lay động sâu xa tâm hồn người đọc, hoàn toàn có thể khiến độcgiả cùng vui, buồn, rối loạn, giận hờn, đau khổ, phẫn nộ … cùng nhân vật khi mà nhà vănkhông thực sự xúc cảm, không viết từ chiều sâu con tim ? “ Thơ muốn làm cho người ta khóc, thứ nhất mình cũng phải khóc, muốn làm cho người ta cười, trước hết mình phải cười ”. Nhàvăn phải đau cái đau của nhân vật, phải buồn cái buồn của nhân vật, vui cái vui của cuộcsống, của con người, khi ấy tác phẩm của anh mới có “ sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại ” ( Hồi Thanh ). Cảm xúc trơ lì, sáo mịn ; tình cảm nơng cạn, hời hợt, giả dối ; tác phẩm chỉ lànhững con chữ vô hồn, xác ép khô khơng gây xúc động nơi người đọc. Chỉ những gì xuất pháttừ trái tim mới đi đến những trái tim. Với ý nghĩa ấy, tác phẩm văn học đã bắc nhịp cầu linhdiệu nối tiếp trái tim nghệ sĩ với tâm hồn fan hâm mộ để trong đời này có nhiều yêu thương, sẻchia hơn. Nhà văn Nga Gercen đã từng cho rằng : “ Nhà văn là một nỗi đau khổ ”. Khổ đau trong cuộcđời, các nhà văn đã đồng cảm thâm thúy “ mọi nỗi đau đớn của con người thời đại, đã rung độngtận đáy tâm hồn với những lo âu, tức bực, tủi hổ, … của loài người ” ( Đặng Thai Mai ). NguyễnDu đã viết “ Truyện Kiều ” bởi “ nỗi đau đớn lòng ” trước những điều Người đã “ trông thấy ”, đã từng trải qua trong cuộc sống. “ Truyện Kiều ” là tiếng kêu đứt ruột về những kiếp sống bịđọa đày. Ai biết trong mười lăm năm lưu lạc của mình, Thúy Kiều đã từng bao lần rơi lệ, đãtừng bao lần bị đánh đập, hành hạ ? Và ai biết được, người nghệ sĩ có trái tim nhân đạo vĩ đại – Nguỹen Du đã bao lần nhỏ lệ trước “ số phận một con người ” xấu số, đau đớn, ê chề. “ TốNhư ơi, lệ chảy quanh thân Kiều ”. Nỗi đau ấy đã lại một lần thôi thúc Người viết nên hai câuthơ, mà thời điểm ngày hôm nay và tương lai hãy còn vang vọng : Trang 17 “ Đau đớn thay phận đàn bà ! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung ” Khơng cầu kì, hoa mỹ, đó là những lời huyết lệ, những lời tâm can của chính Nguyễn Du. Những câu thơ như vậy, có gì hay, có gì mà mê hoặc muôn triệu trái tim, muôn triệu tâm hồn ? Phải chăng bởi đó là “ tiếng thét khổ đau ”, bởi đó là sự trào dâng mãnh liệt của cảm hứng, củatình yêu thương con người. Mượn diễn biến của người xưa nhưng Nguyễn Du không sao chépnguyên xi. Người đã thổi hồn cho những con chữ, những hình tượng sống dậy mãi trong tâmhồn, trong những sướng khổ, buồn vui của biết bao thế hệ con người Nước Ta ngày hôm nay vàmai sau. Khác với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cũng viết về người phụ nữ, nhưng với tâm trạng củangười trong cuộc, hay đúng hơn, viết bằng sự thưởng thức của chính bản thân mình. Nhữngvần thơ của Xn Hương là sự lên tiếng của một thân phận. Bất hạnh trong cuộc sống riêng, Xuân Hương tìm đến thơ như người bạn tâm tình – nơi gửi gắm, kí thác những nỗi niềm suytư. Đọc thơ Hồ Xuân Hương, người đọc hoàn toàn có thể bị cuốn đi bởi các câu thơ mỉa mai sát sàn sạt, những lời mắng chửi té tát, không thương tiếc với bọn “ hiền nhân quân tử ”, những vua chúa, sư sãi giả dối, hợm hĩnh, vô luân, … Nhưng đằng sau những nụ cười “ rất mạnh, rất sâu ” ấy lànhững giọt nước mắt, những “ tiếng thét khổ đau ” cho thân phận người phụ nữ. Để rồi đọc thơbà, ta thấy “ cần phải khóc ” trước những cảnh “ Kẻ đắp chăn bơng kẻ hờ hững ”, trước cảnhngộ “ Trơ cái hồng nhan với nước non ”. Khao khát mãnh liệt về tình yêu, về niềm hạnh phúc, nhưngcuối cùng, nữ sĩ được gì ngồi “ kiếp lấy chồng chung ”, ngồi thứ tình cảm chia năm sẻ bảy “ Mảnh tình san sẻ tí con con ”. Hồ Xn Hương muốn vượt thoát tổng thể, muốn “ Chém cha cáikiếp lấy chồng chung ” để khơng cịn những cảnh “ Kẻ đắp chăn bông kẻ lãnh đạm ”. Nhưngcái xã hội phong kiến bất cơng phi nhân tính ấy đâu có để nữ sĩ sống niềm hạnh phúc, bình yên nhưmong muốn. Cho nên tiếng thơ Hồ Xuân Hương đọng lại một niềm đau, không dễ qn, khơngthể ngi. Trong truyện ngắn nổi tiếng “ Chí Phèo ”, Nam Cao lại quay tấm gương đời sống, cho ta thấymột kiếp sống tủi nhục trong xã hội Nước Ta trước Cách mạng. Ấy là Chí Phèo, một nạnnhân đau khổ của một xã hội cạn khơ tình người với những hung thần quỷ ác mang bộ mặt người. Sinhra khơng tình yêu thương của mẹ cha, Chí Phèo lớn lên trong sự đùm bọc của những ngườinhư : anh thả ống lươn, bà cụ mù lịa, bác phó cối nghèo nhưng tốt bụng. Nhưng những ngườinăm ấy, như chính những câu văn tái hiện rất ngắn gọn của Nam Cao, lướt qua cuộc sống Chínhư những cơn gió. Phần cịn lại của cuộc sống, Chí đâu có gì ngồi những năm tháng tù tội, những lần rạch mặt ăn vạ, những khinh bỉ, miệt thị của người đời ? Gặp Thị Nở, cứ tưởng cuộcđời Chí sẽ bừng sáng, sẽ ngời lên hồi chng an lành nhưng niềm hạnh phúc, tình yêu thoảng quanhư hơi cháo hành, như ảo ảnh về nguồn nước giữa sa mạc khơ tình người. Người nhen lênngọn lửa lương tri, tình người cũng chính là người dập tắt hy vọng trở lại với cuộc sống củaChí. Và khi “ mất thiên thần, người đã chết ”. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở lại cuộcđời. Chí đã chết khi miệng cịn “ ngáp ngáp ” như muốn thanh minh, muốn bày tỏ với cuộc sống, với con người. Cịn gì đau đớn hơn thân phận của con người ấy ? Viết về những số phận bấthạnh ấy, ngòi bút Nam Cao đâu chỉ nhằm mục đích phản ánh chân xác tình hình con người bị tha hóatrong xã hội cũ. Đằng sau câu chữ, cách xưng hô có vẻ như lãnh đạm, dửng dưng, miệt thị ấy làmột trái tim ấm nóng tình u thương con người. Nam Cao đã từng mong ước viết lên nhữngtác phẩm làm cho “ người gần người hơn ” thì với Chí Phèo, ơng đã làm được điều đó. Bởi lẽnhà văn đã “ đứng trong lao khổ mở hồn ra đón lấy những vang vọng của đời ” vì vậy nhữngTrang 18 tác phẩm của ơng, những “ tiếng đau khổ kia thốt ra từ những kiếp lầm than ” sẽ còn sốngmãi. Mặt trời khơng chỉ có mây đen mà cịn có những tia nắng vàng, đời sống khơng chỉ có nhữngnỗi khổ đau mà cịn có những niềm vui sướng. Văn học phản ánh hiện thực, không riêng gì là phảnánh những đau khổ mà còn ngợi ca những vẻ đẹp, những niềm vui của đời sống, của conngười. Hài kịch “ Người lái buôn thành Venice ” của Shakespeare là tiếng cười ngạo nghễ, sung sướng ; là lời ngợi ca hân hoan sự thắng lợi của chủ nghĩa nhân văn cao quý. Thơ XuânDiệu là “ bầu xn ”, là “ bình chứa mn hương ” của tuổi trẻ, sức sống và tình yêu : “ Của ong bướm này đây tuần tháng mật ; Này đây hoa của đồng nội xanh rìNày đây lá của cành tơ phơ phấtCủa yến anh này đây khúc tình siVà này đây ánh sáng chớp hàng miMỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửaTháng giêng ngon như một cặp môi gần ” ( Vội vàng ) Người ta gọi thơ Xuân Diệu là “ nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽnày ” phải chăng bởi nhà thơ đã đốt cháy xúc cảm mê hồn mãnh liệt với cuộc sống. Cuộc sốngmuôn đời vẫn vậy. Thế nhưng những cảnh sắc của đời sống đi qua tâm hồn nồng nàn tìnhyêu cuộc sống của Xuân Diệu lại ánh lên những sắc tố diệu kì, lại ngân lên những thanh âmdu dương. Thế giới, qua cặp mắt “ xanh non biếc rờn ” của thi sĩ họ Ngơ là khu vườn tình ái, nơi ong bướm đang trong “ tuần trăng mật ”, nơi chim muôn ca lên “ khúc tình si ”, nơi tạo hóađắm chìm trong “ cặp mơi gần ” của tháng giêng. Đó cịn là bữa tiệc thịnh soạn, phong phúcủa đời sống “ nở hoa dâng Tặng Kèm người muốn hái ”. Đẹp làm thế nào ! Làm sao Xuân Diệu cónhững cảm nhận tinh xảo, diệu kì ấy nếu nhà thơ dửng dưng, vơ cảm với cuộc sống. Chính niềmkhao khát giao cảm với cuộc sống, chính niềm yêu sống đến cuồng si, mãnh liệt đã giúp thi sĩphát hiện ra vẻ đẹp của đời sống. Những vần thơ như “ lịng ” Xn Diệu mở ra, như tayXn Diệu muốn chìa ra mời mọc, gợi mời con người. Sao hoàn toàn có thể không nhớ, không yêu nhữngvần thơ say đắm, thiết tha đến dường vậy ! Thơ Xuân Diệu, tự bản thân nó khơng phải sự mơphỏng đời sống. Đó là lời tụng ca hân hoan, đắm đuối trước vẻ đẹp đích thực của đời sống. Cũng như Xuân Diệu, Chế Lan Viên đã cất lên tiếng hát ngợi ca vẻ đẹp giá trị của cuộc sốngtrong những năm tháng quốc gia độc lập, tiến lên thiết kế xây dựng đời sống mới, chính sách mới. “ Những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cảDù tương lai đời muôn vạn lần hơn ! Trái cây rơi vào áo người ngắm quả, Đường quả đât đi qua bóng lá xanh rờn, Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ, Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn … ” ( “ Tổ quốc khi nào đẹp thế này chăng ? ” ) Bước ra từ những tháp Chàm đổ nát để hòa nhập với cuộc sống, Chế Lan Viên như thốt khỏi “ thung lũng đau thương ” để tìm đến “ cánh đồng vui ”. Ấy là đời sống mới của những conngười mới. Nhà thơ thấy cuộc sống thật đẹp, thật đa dạng và phong phú, mến yêu biết bao nhiêu. Lần đầutiên trong cuộc sống, nhà thơ cảm nhận được vẻ đẹp đích thực của đời sống. Sung sướng lắm ! Tự hào lắm ! Bởi được sống, được góp sức, và thấy đời mình có ý nghĩa. Những lời thơ ấy đãTrang 19 ngân vang điệu nhạc rạo rực, mê hồn, hân hoan của hồn người. Âm hưởng của khúc nhạc thầnkì ấy sẽ cịn vang vọng và dư ba. Như vậy, hoàn toàn có thể nói tình cảm là điều kiện kèm theo khơng thể thiếu để có tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ đích thực. Cảm xúc chân thành mãnh liệt, tự nó đã là giá trị của tác phẩm văn học. Nó cũng chính là “ cái hơi thở, cái sức sống của những tác phẩm vĩ đại ”. Nhưng nếu chỉ có tình cảm khơng thơi, văn học liệu có dược sức sống, sức hấp dẫn kì diệu đến vậy hay khơng ? Belinsky thêm một lầnnữa nhấn mạnh vấn đề vào vai trị đặc biệt quan trọng quan trọng của tư tưởng đúng đắn, thâm thúy ở người viết. Tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật sẽ sống khi nó “ đặt ra những câu hỏi và vấn đáp những câu hỏi đó ”. Theotơi hiểu, những “ câu hỏi ” ở đây là những yếu tố nhà văn trăn trở, nghĩ suy về đời sống, vềcon người. Ấy là những “ câu hỏi của đời sống ” ( Tố Hữu ). Những câu hỏi ấy biểu lộ cáchnhìn, nhận thức, ý niệm thẩm mỹ và nghệ thuật về con người, về xã hội của nhà văn. Nói cách khác, đólà sự hiện hình của tư tưởng nhà văn được biểu lộ trong tác phẩm. Tư tưởng thẩm mỹ và nghệ thuật làmột trong những yếu tố quyết định hành động tầm vóc của nhà văn và giá trị của tác phẩm. Nguyễn Khảitừng nói : “ Giá trị của một tác phẩm văn học trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó ”. CịnKorolenco thì nhấn mạnh vấn đề : “ Tư tưởng là linh hồn của tác phẩm văn học ”. Tư tưởng sai lầm đáng tiếc, xô lệch, văn học sẽ trở thành công cụ gây tội ác. Lỗ Tấn đã từng nói : “ Làm một thầy thuốc kêđơn bốc thuốc bậy chỉ giết chết có một người, làm một viên võ tướng điều binh khiển tướngbậy chỉ nướng hết một đạo qn, cịn làm một nhà văn viết bậy hoàn toàn có thể gây mối đe dọa đến ba thếhệ. ” Có được tác động ảnh hưởng rất là quan trọng như vậy bởi trách nhiệm cao quý, thiêng liêng củavăn học. Văn học không chỉ là “ công cụ tò mò, hiểu biết và phát minh sáng tạo thực tại xã hội ” màcịn tham gia vào q trình tái tạo xã hội. Nói như Thạch Lam, đó là “ thứ khíi giới thanh caovà đắc lực mà tất cả chúng ta có để tố cáo và đổi khác quốc tế giả dối và gian ác ”. Văn học góp phầnlàm cho đời sống con người tốt đẹp, trong sáng hơn. Vậy nếu nhà văn chỉ đơn thuần tái hiệnvẹn nguyên đời sống mà không gửi gắm một tư tưởng văn minh nào, liệu rằng văn học có thểhồn thành trách nhiệm cao quý ấy không ? Hơn ở đâu, nhà văn phải bộc lộ, phải đặt ra và giảiquyết những yếu tố quan trọng về nhân sinh. Để mỗi người đọc, đến với tác phẩm, đều phảiday dứt, ám ảnh về điều đó, để rồi tự tìm ra được câu vấn đáp cho những yếu tố về con người. Tìm hiểu thâm thúy về thực chất đời sống, về thực chất con người cho hay cũng là nhu yếu tiếpnhận chính đáng của người đọc. Độc giả tìm đến tác phẩm văn chương đâu phải chỉ để hiểubiết về hiện thực đời sống, mà còn muốn khám phá ý nghĩa, giá trị, thực chất của đời sống, đểtìm câu vấn đáp cho những do dự, trăn trở, nghĩ suy của bản thân mình. Bởi vậy, tác phẩmnghệ thuật phải “ đặt ra những câu hỏi ” và hoàn toàn có thể, cịn cần phải “ vấn đáp những câu hỏi đó ”. Nam Cao, qua số phận thảm kịch của Chí Phèo đã cất lên câu hỏi : Làm thế nào cứu vớt nhữngcon người đang đứng trên vực thẳm của sự tha hóa nhân tính và nhân hình ? Làm thế nào đểxã hội này khơng cịn những Chí Phèo ? Câu hỏi ấy vang vọng, văng vẳng suốt thiên truyện, đau đáu mãi không ngi. Nó hiện hình trong lời phán quyết đau đớn vô vọng của Chí Phèotrước khi tự kết liễu đời mình : “ Ai cho tao lương thiện ? Làm thế nào cho mất được những vếtmảnh chai trên mặt này ? ”. Nhà văn dẫu không vấn đáp trực tiếp, nhưng qua tác phẩm củamình, Nam Cao đã ngầm đưa ra câu vấn đáp cho thảm kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí. Phải hủy hoại xã hội đại ác, vạn ác này ; phải hủy hoại những con quỷ dữ Bá Kiến, Đội Tảo, … để cuộc sống này khơng cịn những Chí Phèo. Và quan trọng hơn, để cứu rỗi những linh hồn tộilỗi như Chí Phèo, cần có một “ lịng tốt thông thường ” – tình người chân thành, mộc mạc nhưThị Nở. Chỉ tình người mới cứu được tính người. Ấy là thơng điệp nhân sinh, là câu vấn đáp sâusắc, đúng đắn của Nam Cao cho những yếu tố bức xúc của xã hội. Cũng như vậy, Thạch Lam, Trang 20 trong truyện ngắn “ Hai đứa trẻ ”, không dừng lại ở việc miêu tả đời sống tù túng, quẩnquanh, không có ý nghĩa, mòn mỏi đến tội nghiệp của những người dân nơi phố huyện nghèo. Nhà văncòn đặt ra những câu hỏi, những thông điệp thâm thúy : Hãy cứu lấy những đứa trẻ, hãy cứu lấytương lai của phố huyện. Điều mà Thạch Lam trăn trở không phải yếu tố cơm áo, sưu thuế, bất cơng xã hội mà cịn là quyền sống có ý nghĩa của con người. Xã hội Nước Ta trước Cáchmạng như “ ao đời yên bình ” nhấn chìm mọi sự sống, nhăm nhe muốn cướp đi ý nghĩa thực sựcủa đời sống so với mỗi con người. Hai đứa trẻ – những mầm xanh mới đâm chồi nảy lộctrên mảnh đất cạn khô nhựa sống của phố huyện liệu có trở thành bà cụ Thi điên, liệu có làchị Tí hay bác phở Siêu, mái ấm gia đình bác xẩm ? Câu vấn đáp ấy, Thạch Lam khơng nói nhưng rõràng, nhà văn đã hé mở cho người đọc điều đó. Tại sao chị em Liên khơng nhập vào khơng khítù đọng của phố huyện mà tối tối lại cố thức chờ đồn tàu qua ? Có phải đồn tàu đem đến choLiên và An nhận thức ở đâu đó ngồi phố huyện cịn có một miền đời, một đời sống khác ýnghĩa hơn ? Như thế, con người phải tự vượt lên để khơng bị hồn cảnh, để khơng bị cuộc sốngvơ nghĩa nhấn chìm. Đó chính là chiều sâu nhân đạo trong sáng tác của Thạch Lam. Ý kiến của Belinsky đã đặt ra nhu yếu rất là đúng đắn, thiết yếu, quan trọng với người cầmbút : ấy là anh phải có cái tâm trước đời sống, con người. Đó cũng chính là bài học kinh nghiệm đối vớinhững nghệ sĩ. Muốn có được tác phẩm sống mãi với thời hạn, anh phải sống thâm thúy vớicuộc đời, nói như giáo sư Đặng Thai Mai phải ghi nhận “ thâm thúy cảm thấy mọi nỗi đau đớn conngười trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những lo âu, tức bực, tủi hổ và cảnhững ước mong tha thiết nhất của loài người ”. Để viết nên tác phẩm, nhà văn phải “ tìmtịi …, phải u rất nhiều và phải chịu nhiều đau khổ ” ( Gioócgio Xang ). Và lịch sử dân tộc văn học, thực ra chính là lịch sử dân tộc của những tư tưởng vĩ đại của người nghệ sĩ. Tìm hiểu quan điểm của Belinsky, tơi càng thấm thía quy luật đào thải nghiệt ngã nhưng côngbằng của thời hạn, của cơng chúng. Có những tác phẩm dù trung thành với chủ với nguyên tắc phảnánh hiện thực, thậm chí còn rất là hiện thực nhưng khơng biểu lộ tư tưởng, tình cảm sâu sắcnào. Những tác phẩm ấy chỉ là bức ảnh vơ hồn, thậm chí còn rơi vào tự nhiên chủ nghĩa bởi tìnhcảm, tư tưởng miệt thị con người, bi quan với cuộc sống. Lại có những tác phẩm chỉ đắm chìmtrong xúc cảm hay mê mải chạy theo những tư tưởng kì vĩ. Chỉ những tác phẩm nào có sự hòaquyện cao độ giữa tư tưởng đúng đắn, thâm thúy với tình cảm chân thành, mãnh liệt của ngườicầm bút mới có giá trị và sức sống bền vững. Thế nhưng, văn chương trước hết là văn chương, thẩm mỹ và nghệ thuật trước hết là thẩm mỹ và nghệ thuật. Nói đếnnghệ thuật là nói đến cái hay, cái đẹp của nghệ thuật và thẩm mỹ. Tư tưởng, tình cảm thâm thúy, mãnh liệtđến mấy mà không được chuyển tải qua mạng lưới hệ thống phương tiện đi lại nghệ thuật và thẩm mỹ giàu giá trị thẩm mỹthì khơng thể thức tỉnh, lay động tâm hồn người đọc. Gogol đã rất khổ tâm khi “ những tìnhcảm thật q hoàn toàn có thể trở nên tầm thường khi diễn đạt ra thành lời ”. Người nghệ sĩ vĩ đại khơngchỉ có cái tâm mà cịn phải có cái tài để cái tâm được tỏa sáng lộng lẫy. “ Rồi nhân dân sẽ cịn trìu mến tơi mãi mãi vì tơi đã dùng thơ thức tỉnh những tình cảm tốtlành, vì trong thế kỉ quyết liệt của tất cả chúng ta, tôi ngợi ca tự do và lòng thương những kẻ khốncùng ”. Bất cứ nghệ sĩ nào đã sống thâm thúy với cuộc sống, đã đau đớn, mừng vui với những vuibuồn, sướng khổ của lồi người đều có quyền tự hào và tin yêu như Puskin về sự tồn tạivĩnh hằng của những tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật chân chính của mình. ( Nguyễn Thị Hải Hậu, tỉnh Phú Thọ ) Nếu vẫn chưa đủ tự tin để xác lập ranh giới các phần, hãy đọc lại bài văn đã được chiatách thành các ý sau đây. Cuối cùng, hãy cho vào những khoảng trống ( chữ mầu xanh ) đểchỉ rõ ranh giới các phần nhé ! Trang 21I. Mở bài : 1. Dẫn dắt vào yếu tố : – Dostoevsky khi lí giải động lực khiến mình cầm bút đã nói rằng : “ Tơi hãy cịn một trái tim, một dịng máu nóng để u thương, cảm thơng và san sẻ ”. – Cịn R.Tagore mong ước sau khi từ giã cõi đời, được nhắn nhủ lại một lời : “ Tơi đã từngu ”. 2. Nêu yếu tố : Có phải bởi những nhà văn, nhà thơ vĩ đại – những con người đã sống, đã sống hết mình vàyêu hết mình với cuộc sống, với con người bởi thấm thía thâm thúy rằng : “ Tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ sẽchết nếu nó miêu tả đời sống chỉ để miêu tả, nếu nó khơng phải là tiếng thét khổ đau hay lờica tụng hân hoan, nếu nó khơng đặt ra những câu hỏi hoặc vấn đáp những câu hỏi đó ”. ( Lí luậnvăn học, NXB Giáo dục đào tạo, 1993, trang 62 ) II. Thân bài : 1. Giải thích quan điểm trên : – Saltykov Shchedrin đã từng nói : “ Nghệ thuật nằm ngồi quy luật của sự băng hoại. Chỉmình nó khổng thừa nhận cái chết ”. Vậy điều gì đã khiến các tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ bất tử ? Ởtài năng hay ở tấm lòng của người cầm bút ? – Ý kiến của nhà phê bình Nga Belinsky trên đây đã khẳng định chắc chắn vai trị đặc biệt quan trọng quan trọng, thậm chí còn, quyết định hành động của tư tưởng, tình cảm, hay nói cách khác, cái tâm của người cầmbút quyết định hành động sức sống của một tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ, ở đây được hiểu là tác phẩm văn học. Tác phẩm văn học chỉ sống được trong những tư tưởng, tình cảm mãnh liệt của ngưịi cầm bútmà thơi. 2. Phân tích, chứng tỏ tính đúng đắn của câu nói : – Tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ sẽ chết nếu nó miêu tả đời sống chỉ để miêu tả : + Trước hết, qua nhận xét của mình, Belinsky muốn lên án thứ văn chương “ miêu tả cuộcsống chỉ để miêu tả ”. Đúng là văn học nghệ thuật và thẩm mỹ sinh ra để miêu tả, phản ánh hiện thực cuộcsống con người. Nhưng đó khơng phải là mục tiêu duy nhất của văn học. + Nếu văn học chỉ miêu tả đời sống đơn thuần không thơi thì đó đâu khác bức ảnh, bảnphoto ngun xi, máy móc, vơ hồn về đời sống. Và liệu rằng các tác phẩm ấy hoàn toàn có thể cungcấp cho người đọc nhiều hiểu biết đúng chuẩn, nhiều mẫu mã, khách quan hơn các cơng trìnhnghiên cứu khoa học được chăng ? Sao chép nguyên xi hiện thực, mô phỏng đời sống mộtcách vụng về, văn học nghệ thuật và thẩm mỹ sẽ khơng cịn là văn học, sẽ “ chết ” như cách nói củaBelinsky. – Tác phẩm thẩm mỹ và nghệ thuật phải là “ tiếng kêu đau khổ ” : + Vậy điều gì giúp cho các tác phẩm văn học, mặc dầu vẫn miêu tả, bộc lộ những khám phávề đời sống lại không trở thành những bức ảnh vô hồn hay những bản thống kê cụ thể đếnkhô cứng, lãnh đạm ? Belinsky đã chỉ ra rằng, tác phẩm ấy phải là tiếng thét khổ đau hoặclời ca tụng hân hoan, tức là phải in đậm bầu xúc cảm mãnh liệt của người nghệ sĩ. Trang 22 + Bởi lẽ văn học là làm theo quy luật của tình cảm. Văn học là sự lên tiếng thơi thúc củanhững trái tim. Nhà văn chỉ viết được khi “ trong tim ta đời sống đã tràn trề ”. Nếu như cácngành khoa học vô hiệu cái tôi trong điều tra và nghiên cứu thì các ngành thẩm mỹ và nghệ thuật, trong đó có văn họclại lấy cái tôi làm điểm tựa cho sự phát minh sáng tạo. Viên Mai đã từng nói : “ Làm người thì khơng nêncó cái tơi nhưng làm thơ khơng thể khơng có cái tơi ”. Thơ nói riêng và văn học nói chungkhơng thể thiếu cái tôi – ở đây là dấu ấn tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ. + Làm sao nhà văn hoàn toàn có thể viết khi đứng trước hiện thực đời sống, trái tim anh không hềrung động, không hề xúc cảm ? Hiện thực đời sống, dù đa dạng chủng loại, kì diệu đến mấy màkhơng được thổi hồn bởi những tình cảm mãnh liệt của người cầm bút thì cũng chỉ là nhữnghình ảnh lay lắt, khơng có sức sống trong tác phẩm mà thôi. “ Đừng cậy thời đại anh hùng nếutâm hồn anh cứ bé ” – ấy là lời nhắn nhủ chân thành, lời khun răn chính mình của nhà thơChế Lan Viên. Cho hay, đó cũng chính là điều sinh tử với những người cầm bút. + Tình cảm khơng chỉ là “ khâu tiên phong ” mà còn là “ khâu sau cuối ” trong quy trình hìnhthành một tác phẩm văn học. Văn học chỉ sống được trong tấm lòng đồng cảm của ngườiđọc. Vậy làm thế nào tác phẩm nghệ thuật và thẩm mỹ hoàn toàn có thể lay động sâu xa tâm hồn người đọc, hoàn toàn có thể khiếnđộc giả cùng vui, buồn, rối loạn, giận hờn, đau khổ, phẫn nộ … cùng nhân vật khi nhà vănkhông thực sự xúc cảm, không viết nên từ “ chiều sâu tâm hồn ” ? o “ Thơ muốn làm cho người ta khóc, thứ nhất mình phải khóc, muốn làm cho người ta cười, trước hết mình phải cười ”. Nhà văn phải đau cái đau của nhân vật, phải buồn cái buồn củanhân vật, vui cái vui của đời sống, của con người, khi ấy tác phẩm của anh mới có sức “ đồngcảm mãnh liệt và quảng đại ”. o Cảm xúc trơ lì, sáo mịn ; tình cảm nông cạn hời hợt, giả dối ; tác phẩm chỉ là những con chữvô hổn, xác bướm ép khô không gây xúc động nơi người đọc. o Chỉ những gì xuất phát từ trái tim mới đi đến những trái tím. Với ý nghĩa ấy, tác phẩm vănhọc đã bắc nhịp cầu linh diệu thông suốt trái tim nghệ sĩ với tâm hồn fan hâm mộ, để trong đời này cónhiều yêu thương, sẻ chia hơn. * Chứng minh bằng tác phẩm văn học cụ thể : + Nhà văn Nga Gercen đã từng cho rằng : “ Nhà văn là một nỗi đau khổ ”. Khổ đau trong cuộcđời, các nhà văn đã đồng cảm thâm thúy “ mọi nỗi đau đớn của con người thời đại, đã rungđộng tận đáy tâm hồn với những lo âu, tức bực, tủi hổ, … của loài người ” ( Đặng Thai Mai ). Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều bởi “ nỗi đau đớn lòng ” trước những điều Người đã “ trôngthấy ”, đã từng trải qua trong cuộc sống. o Truyện Kiều là tiếng kêu đứt ruột về những kiếp sống bị đoạ đày. Ai biết trong mười lămnăm lưu lạc của mình, Thuý Kiều đã từng bao lần rơi lệ, đã từng bao lần bị đánh đập, hành hạ ? Và ai biết được, người nghệ sĩ có trái tim nhân đạo vĩ đại – Nguyễn Du đã bao lần nhỏ lệtrước “ số phận một con người ” xấu số, đau đớn ê chề. “ Tố Như ơi, lệ chảy quanh thânKiều ”. Nỗi đau ấy đã một lần thôi thúc Người viết nên hai câu thơ, mà thời điểm ngày hôm nay và mai sauhãy còn vang vọng : Trang 23 Đau đớn thay phận đàn bàLời rằng bạc mệnh cũng cũng là lời chung. ( Truyện Kiều ) o Khơng cầu kì, hoa mĩ, đó là những lời huyết lệ, những lời tâm can của chính Nguyễn Du. Những câu thơ như vậy, có gì hay, có gì mà mê hoặc mn triệu trái tim, mn triệu tâm hồn ? Phải chăng bởi đó là tiếng thét khổ đau, bởi đó là sự trào dâng mãnh liệt của xúc cảm, củatình yêu thương con người. o Mượn diễn biến của người xưa nhưng Nguyễn Du không sao chép nguyên xi. Người đãthổi hồn cho những con chữ, những hình tượng sống dậy và sống mãi trong tâm hồn, trongnhững sướng khổ, buồn vui của biết bao thế hệ con người Nước Ta thời điểm ngày hôm nay và tương lai. + Khác với Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương cũng viết về người phụ nữ, nhưng với tâm trạngcủa người trong cuộc, hay đúng hơn, viết bằng sự thưởng thức của chính bản thân mình. o Những vần thơ của Xuân Hương là sự lên tiếng của một thân phận. Bất hạnh trong cuộc đờiriêng, Xuân Hương tìm đến thơ như người bạn tâm tình – nơi gửi gắm, kí thác những nỗi niềmsuy tư. Đọc thơ Xuân Hương, người đọc hoàn toàn có thể bị cuốn đi bởi những câu thơ mỉa mai sát sànsạt, những lời mắng chửi té tát, không thương tiếc với bọn “ hiền nhân quân tử ”, nhữngvua chúa, sư sãi giả dối, hợm hĩnh, vô luân, … o Nhưng đằng sau những nụ cười “ rất mạnh, rất sâu ” ấy là những giọt nước mắt, nhữngtiếng thét khổ đau cho thân phận người phụ nữ. Để rồi đọc thơ bà, ta thấy “ cần phải khóc ” trước những cảnh “ Kẻ đắp chăn bơng kẻ lãnh đạm ”, trước cảnh ngộ “ Trơ cái hồng nhan vớinước non ”. Khao khát mãnh liệt về niềm hạnh phúc, nhưng sau cuối, nữ sĩ được gì ngồi “ kiếp lấychồng chung ”, ngồi thứ tình cảm chia năm sẻ bảy “ Mảnh tình san sẻ tí con con ”. o Hồ Xuân Hương muốn vượt thoát toàn bộ, muốn “ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung ”, khơngcịn những cảnh “ Kẻ đắp chăn bông kẻ lãnh đạm ”. Nhưng cái xã hội phong kiến bất cơng phinhân tính ấy đâu có để nữ sĩ sống niềm hạnh phúc, bình n như mong ước. Cho nên tiếng thơ HồXuân Hương đọng lại một niềm đau, không hề quên lãng, không hề nguôi ngoai. + Trong truyện ngắn nổi tiếng Chí Phèo, Nam Cao lại quay tấm gương cuộc sống anh Chí để tathấy một kiếp sống tủi nhục trong xã hội Nước Ta trước Cách mạng. o Chí Phèo, một nạn nhận đau khổ của một xã hội cạn khơ tình người với “ con quỷ mang bộmặt người ”. Sinh ra khơng tình u thương của mẹ cha, Chí lớn lên trong sự đùm bọc củanhững người như anh thả ống lươn, bà cụ mù phó cối dù nghèo nhưng tốt bụng. Nhưng nhữngnăm tháng ấy, như chính những thước phim để nhà văn tái hiện rất ngắn gọn của Nam Cao, lướt qua cuộc sống Chí như cơn lốc cuốn qua. o Cái cịn lại của cuộc sống, Chí đâu có gì ngồi những năm tháng tù tội, những lần rạch mặt ănvạ, những khinh bỉ, miệt thị của người đời. Gặp thị Nở, cứ tưởng Chí sẽ bừng sáng, sẽ ngời lênTrang 24 hồi chng an lành nhưng niềm hạnh phúc, tình người lại thoảng qua như hơi cháo hành, như ảo ảnhvề nguồn nước giữa sa mạc cạn khô. Người nhen lên ngọn lửa của lương tri, tình người cũngchính là người dập tắt hy vọng trở lại với cuộc sống của Chí. o Và khi “ mất thiên thần, người đã chết ”. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở vẻ với cuộcđời. Chí đã chết khi miệng “ ngáp ngáp ” như muốn thanh minh, muốn bày tỏ với cuộc sống, vớicon người. Có đau đớn nào đau đớn hơn thân phận của con người ấy ? o Viết về những số phận xấu số, ngòi bút của Nam Cao đâu chỉ nhằm mục đích phản ánh chân xácthực trạng con người xã trong xã hội cũ. Đằng sau câu chữ, cách xưng hơ có vẻ như lãnh đạm, dửng dưng miệt thị ấy là một trái tim ấm nóng tình u thương con người. Nam Cao đãcó lí tưởng muốn viết lên những tác phẩm làm cho “ người gần người hơn ” thì với Chí Phèo, ơng đã làm được điều đó. Bởi lẽ nhà văn đã “ đứng trong lao khổ mở hồn ra để đón lấy nhữngvang động của đời ” vì vậy tác phẩm của ơng, những “ tiếng đau lốt ra từ những kiếp lầmthan ” sẽ còn sống mãi. – Tác phẩm còn là “ lời ca tụng hân hoan ” : + Bầu trời khơng chỉ có mây đen mà cịn có những tia nắng vàng, đời sống khơng chỉ cónhững nỗi khổ đau mà cịn có những niềm vui sướng. Văn học phản ánh chân thực, không chỉlà phản ánh những đau khổ mà còn ngợi ca những vẻ đẹp và niềm vui của đời sống, củacon người. + Thơ Xuân Diệu là “ bầu xn ”, là “ bình chứa mn hương ” của tuổi trẻ, sức sống và tìnhyêu : Của ong bướm này đây tuần tháng mật ; Này đây hoa của đồng nội xanh lè ; Này đây lá của cành tơ phơ phất ; Của yến anh này đây khúc tình si ; Và này đây ánh sáng chớp hàng mi, Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gỗ cửa ; Tháng giêng ngon như một cặp môi gần ; ( Vội vàng ) o Người ta gọi thơ Xuân Diệu là “ nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽnày ” phải chăng bởi nhà thơ đã đốt cháy xúc cảm mê hồn mãnh liệt với cuộc sống. o Cuộc sống muôn đời vẫn là vậy. Thế nhưng những cảnh sắc của đời sống đi qua tâm hồnnồng nàn tình yêu cuộc sống của Xuân Diệu lại ánh lên những sắc tố diệu kì, lại ngân lênnhững thanh âm du dương. Thế giới, qua căp mắt “ xanh non biếc rờn ” của thi sĩ họ Ngô là khuTrang 25
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


