bài thu hoạch bdtx thcs nội dung 3 gồm modul 5,6,7,8 – Tài liệu text

bài thu hoạch bdtx thcs nội dung 3 gồm modul 5,6,7,8

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (323.66 KB, 22 trang )

PHÒNG GD & ĐT …………………..
TRƯỜNG THCS
………………………….

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BÀI LÀM
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN – NỘI DUNG 3
NĂM HỌC ………………………..
HỌ VÀ TÊN: ………………………………..
CHỨC VỤ: ……………………..
A. CÁC MODULE ĐĂNG KÝ:
– Căn cứ Công văn số 1292/SGDĐT-TCCB, ngày 23/10/2012 của Sở Giáo dục và Đào tạo
Đắk Lắk về việc hướng dẫn thực hiện Thông tư 26.
– Căn cứ kế hoạch Số: 05/PGDĐT-VP Phòng Giáo dục và Đào tạo Krông Búk.
– Căn cứ vào sự hướng dẫn chỉ đạo của Phòng GD&ĐT Huyện Krông Buk.
– Căn cứ kế hoạch của Trường THCS Nguyễn Công Trứ về việc bồi dưỡng thường xuyên
năm học 2015 – 2016
– Căn cứ kế hoạch của Tổ Tự Nhiên và căn cứ vào khả năng, năng lực của bản thân, tôi lựa
chọn 4 môđun sau thuộc khối kiến thức tự chọn của cấp THCS để bồi dưỡng trong năm học là:
Module THCS 5, Module THCS 6, Module THCS 7, Module THCS 8.
B. NỘI DUNG TỰ BỒI DƯỠNG 2: (60 tiết)
MODULE THCS 5: ( 15 tiết)
NÂNG CAO NĂNG LỤC HIỂU BIẾT VÀ XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG GIÁO DỤC
CỦA GIÁO VIÊN
I.TÌM HIỂU GIAI ĐOẠN LỨATUỔI HỌC SINH THCS
1. Khái niệm học sinh Trung học cơ sở
Lứa tuổi học sinh THCS bao gồm những em có độ tuổi từ 11 đến 15 tuổi. Đó là những
em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS. Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên

và nó có một vị trí đặc biệt trong thời kì phát triển của trẻ em. Vị trí đặc biệt này được phản ánh
bằng các tên gọi: “ thời kì quá độ”,“ tuổi khó bảo”, “ tuổi bất trị” hay “ tuổi khủng hoảng” …
Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát
triển của trẻ em.
Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trường thành.
Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở
Nội dung cơ bản và sự khác biệt ở lứa tuổi học sinh THCS với các em ở lứa tuổi khác là
sự phát triển mạnh mẽ, thiếu cân đối về các mặt trí tuệ, đạo đức. Sự xuất hiện những yếu tố mới

của sự trưởng thành do kết quả của sự biến đổi cơ thể, của sự tự ý thức, của các kiểu giao tiếp
với người lớn, với bạn bè, của hoạt động học tập, hoạt động xã hội… yếu tố đầu tiên của sự
phát triển nhân cách ở lứa tuổi học sinh THCS là tính tích cực xã hội mạnh mẽ của các em
nhằm lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực nhất định, nhằm xây dựng những quan hệ thỏa
đáng với người lớn, với bạn ngang hàng và cuối cùng nhằm vào bản thân, thiết kế nhân cách
của mình một cách độc lập.
Tuy nhiên quá trình hình thành cái mới thường kéo dài về thời gian và phụ thuộc vào
điều kiện sống, hoạt động của các em. Do đó sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này diễn ra không
đồng đều về mọi mặt. điều đó quyết định sự tồn tại song song “ vừa tính trẻ con, vừa tính người
lớn” ở lứa tuổi này.
Nét đặc trưng trong giao tiếp của học sinh THCS với người lớn là sự cải tổ lại kiểu quan hệ
giữa người lớn với trẻ em ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ đặc trưng của tuổi thiếu
niên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớn với người lớn trong các giai đoạn
tiếp theo. Trong giao tiếp với người lớn có thể nảy sinh những khó khăn, xung đột do thiếu
niên chưa xác định đầy đủ giữa mong muốn về vị trí và khả năng của mình.
Đặc điểm đặc trưng trong sự phát triển cấu trúc nhận thức của học sinh THCS là sự
hình thành và phát triển của các tri thức lí luận, gắn với các mệnh đề các quá trình nhận thức tri
giác, chú ý, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng… ở học sinh THCS đều phát triển mạnh, đặc biệt sự
phát triển của tư duy hình tượng và tư duy trừu tượng.
Trong giao tiếp, thiếu niên định hướng đến bạn rất mạnh mẽ, giao tiếp với bạn chiếm vị

trí quan trọng trong đời sống và có ý nghĩa thiết thực đối với sự phát triển nhân cách của thiếu
niên. Khác với giao tiếp với người lớn, giao tiếp của thiếu niên với bạn ngang hàng là hệ thống
bình đẳng và mang đặc trưng của quan hệ xã hội giũa các cá nhân độc lập.
GIỚI THIỆU VỀ MÔI TRUỜNG HỌC TẬP
Khái niệm môi trường học tập
Môi trường học tập là các yếu tốcó tác động đến quá trình học tập của HS bao gồm:
Môi trường vật chất: Là không gian diễn ra quá trình dạy học gồm có đồ dùng dạy học
như bảng, bàn ghế, sách vở, nhiệt độ ánh sáng, âm thanh, không khí…
Môi trường tinh thần: Là mối quan hệ giữa GV với HS, HS với HS, giữa nhà trường- gia
đình – xã hội… Các yếu tố tâm lí như động cơ, nhu cầu, hứng thú tích học tập của HS và phong
cách, phương pháp giảng dạy của GV trong môi trường nhóm, lớp.
Môi trường học tập rất đa dạng, cần được tạo ra ờ nhà trường, gia đình, xã hội. Môi trường
sư phạm là tập hợp những con người phương tiện đảm bảo cho việc học tập đạt kết quả tốt.
Môi trường sư phạm là nội dung cơ bản của môi trường nhà trường.
Toàn bộ hệ thống môi trường học tập, môi trường dạy học, môi trường giáo dục trong
trường phải được tiếp cận hệ thống, đó là các quan hệ thầy – trò, quan hệ trò – trò, quan hệ
nhóm lớp của HS, quan hệ của HS với nhà quản lí, mà bản chất của các mối quan hệ là dựa
trên quan hệ pháp luật, nhân văn, đạo đức, cộng đồng hợp tác.
Như vậy, môi trường học tập là toàn bộ các yếu tố vật chất, không gian và thời gian,
tình cảm và tinh thần – nơi HS đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng trực tiếp,
gián tiếp đến sự hình nhân cách của HS phù hợp với mục đích giáo dục.
*CÁC LOẠI MÔI TRUỜNG HỌC TẬP

* Môi trường học tập ở trường;
Giáo dục nhà trường là hoạt động giáo dục trong các trường lớp thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân theo mục đích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học và
thực tiển nhất định.
So với gia đình, nhà trường là một môi trường giáo dục rộng lớn hơn, phong phú, hấp
dẫn hơn đổi với thế hệ trẻ.

Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt thực hiện chức năng cơ bản là tái sản xuất
sức lao động, phát triển nhân cách theo hướng duy trì, phát triển xã hội. Nhà trường có chức
năng hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ thông qua hoạt động dạy học, giáo dục.
Giáo dục nhà trường có sự thống nhất về mục đích, mục tiêu cụ thể, được thực hiện bởi
đội ngũ các nhà sư phạm được đào tạo và bồi dưỡng chu đáo, tiến hành giáo dục theo một
chương trình, nội dung, phương pháp sư phạm nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển nhân cách toàn diện, hướng tới sự thành đạt của con người.
Hoạt động học tập và các hoạt động khác cửa HS THCS có nhiề sự thay đổi, động
quan trọng đến việc hình thành những đặc điểm tâm lí lứa tuổi HS THCS, như:
– Bắt đầu thay đổi về nội dung dạy học:
– Sự thay đổi về phương pháp dạy học và hình thức học tập:
Thái độ đổi với học tập của HS THCS cũng rất khác nhau. Tất cả các em đều ý thức được
tầm quan trọng và sự cần thiết của học tập, nhưng thái độ biểu hiện rất khác nhau. Sự khác
nhau đó được thể hiện :
Trong thái độ học tập
Trong sự hiểu biết chung
Trong phuơng thức lĩnh hội tài liệu học tập
Trong hứng thú học tập
* Môi trường gia đình:
Ở lứa tuổi này, địa vị của các em ở trong gia đình đã thay đổi, các em được gia đình thừa
nhận như là một thanh viên tích cực của gia đình,
Gia đình là một đơn vị xã hội (nhóm nhỏ xã hội), hình thức tổ chức quan trọng nhất của
sinh hoạt cá nhân
Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và là môi trường giáo dục suốt đời đối với quá
trình hình thành và phát triển nhân cách con người. Gia đình giữ vị trí quan trọng và có ý nghĩa
lớn lao đổi với quá trình hình thành và phát triển nhân cách
.* Môi trường xã hội:
Giáo dục xã hội là hoạt động của các tổ chức, các nhóm xã hội có chức năng giáo dục theo
quy định của pháp luật hoặc các chương trình giáo dục trên các phương tiện thông tin đại
chúng. Giáo dục xã hội tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của đứa trẻ

thường qua hai hình thức: tự phát và tự giác.
Giáo dục cửa xã hội phải kết hợp chặt chẽ với giáo dục gia đình và nhà trường, góp phần
thực hiện mục tiêu đào tạo con người theo định hướn của Đảng và Nhà nước.
ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA

HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.Ảnh hưởng của môi trường đến mục đích, động cơ học tập
Môi trường học tập ảnh hường không nhỏ tới mục đích, động cơ học tập. Mục đích của
hành động hoàn toàn không phải do con ngưòi nghĩ ra một cách chủ quan mà nó được hình
thành dần trong quá trình diễn ra hành động. Mục đích thực sự chỉ có thể có khi chủ thể bắt
đầu hành động.
Mục đích học chỉ đuợc hình thành khi chủ thể bắt đầu học tập. Thông qua học lập, người
học chiếm lĩnh được tri thúc, kỉ năng, kỉ xảo bộ phận (những khái niệm cửa tùng bài học, tùng
tiết học) – đây là mục đích bộ phận. Trên cơ sở chiếm lĩnh những tri thức, kỉ năng, kỉ xảo bộ
phận mà chiếm lĩnh được toàn bộ những tri thúc, kỉ năng, kỉ xảo hệ thống (những khái niệm
của môn học) – đây là mục đích môn học. Mỗi tri thức, kỉ năng, kỉ xảo bộ phận được chủ thể
tiếp thu và làm chủ lại trở thành phương tiện cho việc hình thành mục đích bộ phận tiếp theo,
cứ như vậy, mục đích học sẽ được hình thành trong quá trình thực hiện một hệ thống các hành
động học trong một môi trường nhất định.
Động cơ của hoạt động học không có sẵn mà hiện thân ở đối tượng của hoạt động học (đó
là những tri thức, kỉ năng, kỉ xảo…) mà người học cần chiếm lĩnh để hình thành và phát triển
nhân cách.
Có hai loại động cơ học là: động cơ hoàn thiện tri thức và động cơ quan hệ xã hội.
– Động cơ hoàn thiện tri thúc:
Trong quá trình học tập, học để mở rộng tri thức, mở rộng vốn hiểu biết là động cơ
thúc đẩy người học tích cực học tập nhằm lĩnh hội tri thúc, kỉ năng, kĩ xảo. Trong trường
hợp này, nguyện vọng hoàn thiện tri thức hiện thân ở đối tượng của hoạt động học.Đây là
động cơ bên trong của hoạt động học vì những yếu tố kích thích người học xuất phát từ mục
đích học, từ nhu cầu, hứng thú nhận thức của người học. Người học mong muốn hiểu biết

những điều mới lạ, mở rộng tri thúc và họ thấy thoải mái, không căng thẳng, mệt mỏi khi
học.
– Động cơ quan hệ xã hội:
Trong quá trinh học lập, người học say sưa học ngoài sụ hấp dẫn, lôi cuốn của tri thúc còn
vì các quan hệ xã hội (học để phục vụ xã hội, học để hài lòng cha mẹ). Trong trường hợp này,
những mổi quan hệ xã hội của cá nhân đuợc hiện thân ở đối tượng của hoạt động học. Khi hoạt
động học được thúc đẩy bởi động cơ quan hệ xã hội thì ở một mức độ nào đấy nó mang tính
chất cưỡng bức, có lúc xuất hiện như là vật cản trên con đường đạt mục đích, vì vậy người học
cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi và có khi xuất hiện xung đột găy gắt
Hai loại động cơ nói trên cùng diễn ra trong quá trình học tập, nó làm thành một hệ thống
động cơ thúc đẩy người học học tập. Trong thục tế, có những HS học tập với sự nổ lực như
nhau, kết quả đạt được như nhau nhưng động cơ có thể rất khác nhau: có người học là do
muốn nâng cao trình độ hiểu biết, muốn có sự phát triển ngày càng cao; có người học là do để
đuợc khen, để bố me vui lòng hoặc đó là con đường tiến thân.
Động cơ của hoạt động học không có sẵn, nó đuợc hình thành trong chính quá trình học
tập dưới sự tác động của nhiều yếu tố : yếu tố chủ quan (nhu cầu, hứng thú, tình cảm, thái
độ… của người học) và yếu tố khách quan (cha me, thầy cô giáo, bạn bè…).

2.Ảnh hưởng của môi trường đến phương pháp học tập
Việc học tập ở trường THCS là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ. Ở các
lớp dưới, trẻ học tập các hệ thống các sự kiện và hiện tượng, hiểu những mối quan hệ cụ thể và
đơn giản giữa các sụ kiện và hiện tượng đó. Ở trường THCS, việc học tập của các em phúc tạp
hơn. Các em chuyển sang nghiên cứu có hệ thống những cơ sở của các khoa học, các em học
nhìều môn học hơn… Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành
một hệ thống tương đối sâu sắc. Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao. Ở đa số
thiếu niên, nội dung khái niệm “học tập” đã đuợc mở rộng ; ở nhiều em đã có yếu tố tự học, có
hứng thú bền vững đổi với môn học, say mê học tập. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết
nhiều có thể khiến hứng thú của các em bị phân tán và không bền vững, có thể hình thành thái
độ dễ dãi, không nghiêm túc đổi với các lĩnh vục khác trong cuộc sống, vì vậy, môi trường và

phuơng pháp học tập có mối quan hệ tác động qua lại với nhau. Môi trường là điều kiện để
người học sử dụng những phương pháp học tập thích hợp. Môi trường nhóm lớp, phương pháp
giảng dạy của GV, quan hệ ứng xử của GV đối với HS là yếu tố ảnh hưởng trục tiếp tới
phương pháp học tập của HS THCS. Quá trình dạy học đòi hỏi GV và HS cần nổ lực tìm ra các
giải pháp để dạy và học đạt hiệu quả ngày càng cao, trong đó, việc GV vận dụng phương pháp
dạy học phù hợp với nhu cầu, trình độ và các đặc điểm tâm lí khác của lứa tuổi HS THCS đuợc
coi là một giải pháp tốt nhất. Các phương pháp dạy học khác nhau phát triển những kĩ năng và
những phẩm chất khác nhau của HS. Phương pháp dạy học đa dạng làm cho bài giảng của GV
trở nên thú vị và HS cảm thấy hứng khởi hơn trong giờ học. Để xây dụng một môi trường học
tập thân thiện nhằm khai thác mặt giá trị và cảm xúc của HS trong quá trình học tập thì các moi
quan hệ trong dạy học có vai trò quyết định. Quan hệ giữa GV với HS, giữa cá nhân HS với
nhau, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm và cả lớp được phát triển theo xu hướng tăng cường
sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia sẻ. Đây là môi trường học tập giúp HS
THCS không ngừng tự hoàn thiện nhân cách và cải thiện kết quả học tập cá nhân.
Quan hệ thầy trò tốt đẹp đuợc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. HS tôn trọng GV bởi kỉ
năng giảng dạy, phẩm chất cá nhân, kiến thúc và trình độ chuyên môn; GV tôn trọng HS vì mỗi
HS là một nhân cách với những nổ lực học tập. .
Mối quan hệ tốt đẹp giữa GV với HS được biểu hiện cụ thể thông qua thái độ, cử chỉ,
điệu bộ, ngôn ngữ cửa GV trong quá trình dạy học. HS sẽ cảm thấy tự tin hơn khi GV tươi
cười hay có lời khen để động viên HS học tập; nó có thể thay đổi một trường hợp được coi là
tiêu cực trở thành tích cực. GV cần tỏ ra hài lòng khi HS thành công trong học tập; nhiệt tình
hướng dẫn và giải đáp thắc mắc cho HS; động viên các em bày tỏ nhu cầu, nguyện vọng học
tập và biết giúp đỡ, chia sẽ kinh nghiệm học tập với bạn; nhận xét và đánh giá kết quả học lập
đảm bảo sự công bằng… tạo cho HS có động lực để phấn đấu dành kết quả cao trong học tập,
tìm tòi phương pháp học tập hiệu quả.
Như vậy, GV là nguời chủ động tạo ra và điểu khiển mổi quan hệ giữa thầy và trò, dùng ảnh
huớng của mối quan hệ đó để xây dụng các mối quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân với cá nhân HS,
giữa cá nhân với nhóm và giữa các nhóm với cả lớp..
3.Ảnh hường của môi trường đến kết quả học tập
Môi trường học tập của HS THCS có sự tham gia của nhiều nhân tố :GV, người học, gia

đình, cơ sở vật chất, yếu tố quản lí của nhà trường. GV là người quyết định sự hợp tác gắn bó
giữa thầy và trò, giữa trò và trò, là nhân tố quyết định chẩt lượng giáo dục học lập ở HS. Hình
thức bên ngoài, đời sống nội tâm, phương pháp dạy học, kỉ năng giao tiếp, phong cách sống…

của GV có tác động mạnh mẽ đến tâm lí HS. Khi bài giảng của GV được HS hưởng ứng, ủng
hộ có nghĩa là GV đang ảnh hưởng tích cực đến môi trường học tập của HS. Năng lực sư
phạm, trình độ chuyên môn của GV, quan hệ ứng xử của GV đối với HS là yếu tố quyết định
chất lượng dạy học, là nhân tố tạo nên kết quả học tập ở người học.
– HS và tính tích cực học tập trong môi trường nhóm lớp: Tất cả mọi hoạt động trong các
nhà trường đều nhằm mục đích phát triển nguời học, người học đuợc coi là yếu tố trung tâm.
Việc xây dựng môi trường học tập cho HS THCS cũng dựa vào HS và hoạt động của HS để
khai thác mặt giá trị và cảm xức trong học tập và giao tiếp. Vì vậy, cần thiết phải tạo ra môi
trường học tập tự giác, tích cực, chủ động của HS trong hoạt động nhóm lớp nhằm góp phần
nâng cao kết quả học tập. Chính thành tích học tập của lớp, của nhóm sẽ góp phần thúc đẩy
thành tích học tập của mọi cá nhân HS trong nhóm, lớp.
– Cán bộ quản lí: Nhận thức và hành động của cán bộ quản lí là “cốt lõi” để tạo nên sự thân
thiện giữa các thành viên trong nhà trường. Trong mọi quan hệ, người cán bộ quản lí phải dân
chủ, minh bạch, công khai. Giữa cán bộ quản lí, GV, HS phải thực sự tôn trọng lẫn nhau, quan
hệ chia sẻ, cộng đồng trách nhiệm. Không thể có môi trường học tập tốt nếu trong nhà trường
các mối quan hệ thiếu dân chú, bất bình đẳng. Hình ảnh các thầy là hình ảnh lí tường mà các
thế hệ học trò học tập và làm theo. Chính tấm gương lao động của các thầy, cô là bài học cho
lớp lớp thế hệ HS, góp phần tạo nên thành tích của nhà trườmg.
Cơ sở vật chất: Môi trường học tập của HS giới hạn trong một không gian nhất định, đó
là trường học. Mọi hoạt động của HS diễn ra trong phạm vi không gian lớp học với các yếu tố:
bàn ghế, ánh sáng, âm thanh cùng với các phương tiện phục vụ dạy và học, các thiết bị thực
hành… Mỗi trường THCS đều có sự khác nhau nhất định về Cơ sờ vật chất tuy vào nguồn lục
kinh tế của nhà trường và địa phương. Nhìn chung, các nhà trường THCS hiện nay đều phải
hướng tới tiêu chuẩn tổi thiểu về điểu kiện cơ sở, vật chất, đó là điều kiện cần và đủ để nâng
cao chất lượng và đảm bảo chất lượng. Một môi trường học tập tốt trước hết phải đảm bảo các

điều kiện cơ sở vật chất tối thiểu. Ngược lai, cơ sở vật chất thiếu thốn sẽ gây ra khó khăn về
mọi mặt cho hoạt động học tập của HS, làm giảm sút kết quả học tập của HS.
Môi trường giáo dục là tập hợp không gian với các hoạt động xã hội của cá nhân, các
phương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện thuận lợi để giáo dục đạt kết quả
cao nhất. Do bản chất nhân văn của giáo dục, cùng với đạo lí và lẽ sống tình người đang thôi
thúc chúng ta phải góp một viên gạch vào việc xây dụng một môi trường học tập lành mạnh,
tích cực. Đồng thời, cũng cần thiết phải phân biệt rõ các khái niệm môi trường và môi trường
giáo dục là hai phạm trù khác nhau về đối tượng tiếp cận và nội dung nghiên cứu. Tuy nhiên,
có điểm chung là đều nghiên cứu sự tác động của con người với môi trường xung quanh và
ngược lại. Ở phạm vi môi trường giáo dục, chủ yếu đề cập đến quan hệ giữa con người với con
người trong một phạm vi hẹp hơn.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỤNG MÔI TRUỜNG GIÁO DỤC
*. Phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục HS
• Nội dung phối hợp :
Việc liên kết, phối hợp giữa môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và các tổ chức xã
hội nhằm thực hiện mục đích phát triển nhân cách công dân được coi là một nguyên tắc quan
trọng. Việc liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục nhằm đảm bảo sự thống
nhất về nhận thức cũng như cách thức hành động để hiện thực hóa mục tiêu quá trình phát triển

nhân cách; tránh sự tách rời, mâu thuẫn, vô hiệu hoá lẫn nhau gây nên tâm trạng nghi ngờ,
hoang mang, dao động đối với cá nhân trong việc lựa chọn, tiếp thu các giá trị tốt đẹp.
Gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội liên kết, phối hợp thống nhất mục đích, mục
tiêu giáo dục thể hiện ở những nội dung cơ bản nhằm phát triển toàn diện các mặt đức, trí, thể,
mĩ, lao động… Mọi môi trường đều có một ưu thế trong việc thực hiện các nội dung giáo dục.
Gia đình có ưu thế đổi với việc giáo dục định hướng nghề nghiệp, rèn luyện kỉ năng, kĩ xảo,
thói quen lao động chân tay, quan hệ ứng xử… Nhà trường có ưu thế trong việc giáo dục toàn
diện, đặc biệt là tri thức văn hoá; các chuẩn mực đạo đúc, ý thức công dân… bằng các phương
pháp, phương tiện hiện đại nhằm thúc đẩy nhanh quá trình phát triển nhân cách. Các đoàn thể
xã hội bằng các hình thức tổ chức hoạt động xã hội ngoài giờ lên lớp giúp các em mở rộng kiến

thức, gắn tri thúc với thực tiễn, chủ trương, chính sách chung của Nhà nước, của địa phương về
các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Việc liên kết, phối hợp các môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và các tổ chức xã
hội diễn ra dưới nhiều hình thức, vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu là các lực lượng giáo dục
đó phải phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động tìm ra các hình thức, giải pháp, tạo ra mối
liên kết, phối hợp vì mục đích giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ thành những công dân hữu ích của
đất nước. Do đó, không thể coi đây là trách nhiệm riêng cửa lực lượng nào. Tuy nhiên, gia đình
và nhà trường có trọng trách lớn hơn, bởi vì trẻ em là con cái của gia đình, là HS của nhà
trường trước khi trở thành công dân xã hội.
Liên kết, phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội nhằm thực hiện những
nội dung chú yếu sau:
-Thống nhất mục đích, kế hoạch chăm sóc, giáo dục HS của tập thể sư phạm nhà trường với
phụ huynh, với các đoàn thể, cơ sở sản xuất, các cơ quan văn hoá, giáo dục ngoài nhà trường.
– Theo dõi, đánh giá kết quả quá trình giáo dục HS trong nhà trường và ở địa phương nhằm
không ngừng nâng cao hiệu quả giáo dục.
Gia đình phải tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ,
thể chất, thẩm mĩ cho trẻ em; người lớn cỏ trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con em, cùng
nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.
– Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa giáo dục nhằm tạo ra động lực mạnh mẽ cũng như điều kiện
thuận lợi cho hệ thống nhà trường thực hiện tổt mục tiêu giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học.

Những yêu cầu để thực hiện tốt việc phối hợp:
-Đối với gia đình
Hoạt động tích cực trong tổ chúc hội phụ huynh nhà trường nhằm góp phần xây dựng cơ
sở vật chất, tinh thần, thực hiện sự nghiệp xã hội hoá giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà
trường nâng cao chất lượng giáo dưỡng và giáo dục. Những cuộc họp phụ huynh HS đuợc tổ
chức theo khối, theo lớp do GV chủ nhiệm hoặc ban liên lạc phụ huynh tổ chức đầu năm học
hoặc từng học kì… yêu cầu các bậc cha mẹ cần đi đầy đủ để nắm vững mục đích, yêu cầu, nội
dung, phương pháp giáo dục HS, tạo sự thống nhất giữa nhà trường với gia đình trong quá trình
giáo dục HS.

Duy trì thường xuyên, đều đận mổi quan hệ giữa nhà trường, gia đình bằng sổ liên lạc,
phiếu đánh giá, điện thoại để gia đình biết được kết quả học tập, rèn luyện và những ưu nhược điểm của con em mình. Ngược lai, nhà trường cũng nắm bắt được tình hình học tập,
sinh hoạt của HS ngoài giờ lên lớp. Tất cả những nhận xét, đánh giá về phía nhà trường cũng

như gia đình cần chính xác, thận trọng, nhấn mạnh đến ưu điểm, tiến bộ là chú yếu, không nên
chỉ tập trung nhấn mạnh vào những nhược điểm, yếu kém. Nếu trẻ có những sai phạm nghiêm
trọng thì các bậc cha mẹ và nhà trường cần gặp nhau trực tiếp nhằm tìm đúng nguyên nhân và
các biện pháp giáo dục phù hợp. cha mẹ không nên che giấu những nhược điểm của con cái
trong học tập, sinh hoạt ở gia đình, địa phuơng đối với nhà trường, dẫn đến những hiện tương
một số em ở trường được khen thửơng là Hs giỏi, tiên tiến nhưng ở địa phương và gia đinh còn
yếu kém về nhiều mặt. Gia đình cũng phát huy truyền thống “tôn sư trọng đạo”, bảo vệ uy tín,
danh dự cho thầy cô giáo, tránh những lời nói, thái độ, hành vi coi thường thầy cô giáo trước
mặt các em.
Vì mục đích giáo dục nên các bậc cha mẹ cần mạnh dạn thẳng thắn liên lạc, phối hợp với
các cơ quan, đoàn thể, tổ chức ở mọi địa phương, kể cả những cơ quan bảo vệ pháp luật như
công an, chính quyền địa phương nếu thấy cần thiết để uốn nắn, ngăn chặn kịp thời những biểu
hiện xấu, lệch lạc có thể phát triển đối với con em mình.
– Đối với nhà trường
Cần phát huy vai trò trung tâm trong việc liên lạc, phối hợp giáo dục. Nhà trường chủ
động phổ biến nội dung, mục đích giáo dục đến các tổ chúc xã hội của địa phương như Đoàn
Thanh niên, Hội Phụ nữ… nhằm định hướng tác động thống nhất đối với quá trình hình thành
và phát triển nhân cách của trẻ.
Thực hiện vai trò là trung tâm văn hoá, giáo dục của địa phương, nhà trường cần tổ chức
tuyên truyền phổ biến các tri thức khoa học kĩ thuật, công nghệ, văn hoá, ,… những kiến thúc
về phuơng pháp, biện pháp giáo dục có hiệu quả tránh đuợc những sai lầm, lệch lạc đối với quá
trình phát triển nhân cách của trẻ, đặc biệt trong cơ chế thị trường có không ít những tác động
xấu ảnh hướng đến thế hệ trẻ.
Nhà trường cần phối hợp với chính quyền phương tổ chức cho các em tham gia tích cực
vào các hoạt động văn hoá, xã hội như: bảo vệ môi trường, đền ơn đáp nghĩa, bài trừ ma túy,

dân số – kế hoạch hóa gia đình… nhằm góp phần cải tạo môi trường ngày càng tốt đẹp, lành
mạnh đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách của trẻ.
Giúp địa phương theo dõi, đánh giá kết quả của quá trình giáo dục thanh thiếu niên, phân
tích nguyên nhân, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự liên kết, phối hợp chặt
chẽ giữa các môi trường và khai thác vai trò, ưu thế đặc biệt của giáo dục gia đình.
Xây dựng, củng cố Hội Phụ huynh HS, ban giáo dục địa phuơng tạo nên sức mạnh tổng
hợp, đồng bộ, hướng vào mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ một cách thường xuyên, cótổ chức, có kế
hoạch.
– Với các tổ chức xã hội
Tiềm năng giáo dục của lực lượng xã hội như các cơ quan đoàn thể, các hội quần chúng,
các cơ sở sản xuất, các đơn vị quân đội… là vô cùng to lớn, được thể hiện trong tất cả các lĩnh
vực tư tưởng chính trị – đạo đức, khoa học- kĩ thuật văn hoá- nghệ thuật thể dục- thể thao, nghề
nghiệp… dưới hình thức kết nghĩa với nhà trường hoặc đỡ đầu nhà trường xây dựng cơ sở vật
chất – kỉ thuật hoặc giúp các lớp HS tham quan, học tập, giao lưu, tiếp xúc với việc thật, người
thật điển hình, gương mẫu trong xã hội để hoàn thiện cá nhân, chủ tịch Hồ chí Minh đã khẳng
định “Nếu nhà trường dạy tốt mà gia đình ngược lại, sẽ có ảnh hưởng không tốt đến trẻ và kết
quả cũng không tốt. Cho nên muốn giáo dục các cháu thành người tốt, nhà trường, gia đình,
đoàn thể xã hội đều phải kết hợp chặt chẽ với nhau”.

Chính quyền các cấp động viên tất cả mọi lực lượng, mọi tầng lớp xây dựng thực hiện
nếp sống văn minh, thực hiện các phong trào “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo”,
“Gia đình văn hoá”, xây dựng “Thôn xóm không có người nghiện hút”…, kiên quyết đẩy lùi,
xóa bỏ các tàn dư lạc hậu, các nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội. Người lớn cần gương
mẫu trong mọi lĩnh vực của cuộc sống để thế hệ trẻ noi theo.
Xây dựng cơ sở vật chất, cảnh quan nhà trường:
Cơ sở vật chất và cảnh quan nhà trường có tác động mạnh đến cảm xúc, hình thành ấn
tượng và niềm tự hào đối với HS. Một môi trường xanh, sạch, đẹp với điều kiện cơ sở vật chất
đuợc đảm bảo tạo cho HS cảm giác tự tin, vui tươi khi đến trường, hình thành nên hưng phấn
tích cực đổi với mọi hoạt động. Cơ sở vật chất và cảnh quan nhà trường bao gồm các điều kiện

tự nhiên nơi trường đóng và các phương tiện kỉ thuật phục vụ cho mọi hoạt động của nhà
trường.
Các trường THCS cần phải đảm báo các điều kiện tối thiểu cơ sở vật chất như: không gian
trong lớp học da dạng và phong phú; bàn ghế cơ động; các phương tiện dạy học như bảng,
tranh ảnh, sách giáo khoa, Internet và các phuơng tiện máy tính, máy chiếu… hoạt động tốt và
an toàn. Các tài liệu học tập đuợc cung cấp theo yéu cầu học tập ở trường trung học.
Cấu trúc phòng học, ánh sáng, âm thanh đạt yêu cầu về chất lượng, hệ thống nhà được xây
dung đứng tiêu chuẩn. Bài trí tranh ảnh, lô gô khẩu hiệu phải mang tính thẩm mĩ và tính giáo
dục tạo nên những nét đẹp văn hoá nhà trường.
Về cảnh quan nhà trường phải đảm bảo các điều kiện cơ bản như: Phòng học cần được
quét dọn thường xuyên, hệ thống cây xanh, thảm cỏ, cây cảnh được phổi hợp hài hoà tạo nên
sự thân thiện, dể chịu cho HS trong mọi hoạt động. Không khí trong lành, không gian dành cho
các hoạt động được mở rộng và sạch sẽ.
Việc xây dựng cơ sở vật chất và cảnh quan nhà trường là một nội dung cơ bản để có một
môi trường học tập thân thiện ở trường THCS. Nếu các yếu tố trên không được đảm bảo thì
không thể tạo ra được những ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, tình cảm của HS, làm hạn chế
chất lượng dạy học trong nhà trường.
Nhà trường phải có sân chơi, có nhà vệ sinh, có đủ nước uống hợp vệ sinh cho HS, có
nhà tập thể thao, có đủ đồ dùng học tập, sách và tài liệu tham khảo cho HS. Đây là những điều
kiện giúp HS có thể học tập thành công và hiệu quả. Nhà trường phải có vườn trường, có thư
viện thân thiện thu hút HS tham gia và tạo sự tham gia tự giác tích cực ở HS.
Lựa chọn, vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học có hiệu quả
Quá trình dạy học đòi hỏi GV và HS cần nổ lực tìm ra các giải pháp để dạy và học đạt hiệu
quả ngày càng cao, trong đó, việc GV vận dụng phương pháp dạy học phù họp với nhu cầu,
trình độ và các đặc điểm tâm lí khác của lứa tuổi HS THCS nhằm phát huy tính tự giác, tính
tích cực chủ động học tập của HS đuợc coi là một giải pháp tốt nhất. Mỗi phương pháp dạy học
có ưu điểm, nhược điểm khác nhau và sự phù hợp với nội dung khác nhau, do đó GV cần phối
hợp các phương pháp dạy học nhằm huy động tới mức cao nhất tính tích cực học tập của HS,
tạo quan hệ học tập hợp tác, chia sẻ trong môi trường nhóm lớp của HS.
Khi lựa chọn, vận dụng, phối hợp phương pháp dạy học, GV cần chú ý:

Nội dung cơ bản của bài học, đặc điểm trình độ nhận thức của HS, điều kiện phục vụ cho
dạy học, năng lực của bản thân để thiết kế và tổ chức bài học trong môi trường học tập thân

thiện, hiệu quả.
Xây dựng quan hệ sư phạm mang tính chuẩn mực
Để xây dựng một môi trường học tập thân thiện nhằm khai thác mặt giá trị và cảm xúc của
HS trong qua trình học tập thì các mối quan hệ trong dạy học có vai trò quyết định. Quan hệ
giữa GV với HS, giữa cá nhân HS với nhau, giữa cá nhân với nhóm, giữa nhóm và cả lớp được
phát triển theo xu hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh, tham gia và chia sẻ.
Nhà trường cần tăng cường xây dựng các mối quan hệ sư phạm chuẩn mực giữa GV với đồng
nghiệp, giữa GV với HS, giữa HS với GV và HS với HS… Tính chuẩn mực trong quan hệ sư
phạm phải trở thành nét văn hoá truyền thống của nhà trường, có tác dụng tạo động lực cho
hoạt động dạy và học phát triển.
MODULE THCS 6:(15 tiết)
XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
Giúp giáo viên THCS nắm vững những kiến thức lí thuyết và có những kĩ năng thành thạo
trong việc xây dựng môi trường học tập tốt đẹp, hiệu quả cho học sinh.
2. Mục tiêu cụ thể
*Kiến thức:
-Trình bày được các biện pháp xây dựng môi trường học tập cho học sinh THCS.
-Nắm vững cách thức cập nhật, xử lí và sử dụng thông tin về môi trường giáo dục vào quá trình
dạy học và giáo dục học sinh THCS.
*Kĩ năng:
-Sử dụng tri thức của module này để nghiên cứu các module tiếp theo và giải quyết tốt các vấn
đề trong thực tiển giáo dục ở cấp THCS hiện nay.
-Có kĩ năng sử dụng các phương pháp và kĩ thuật để tạo dựng môi trường học tập cho học sinh

THCS, đặc biệt là môi trường học tập hiện đại phù hợp với đặc điểm hoạt động dạy học của
các nhà trường THCS hiện nay.
-Kĩ năng cập nhật và sử dụng thông tin về môi trường giáo dục vào quá trình giáo dục và dạy
học học sinh THCS để đạt được hiệu quả tối ưu.
*Thái độ:
– Có thái độ học tập theo nội dung và quy trình thực hiện module một cách khoa học, độc lập,
tích cực và sáng tạo.
– Có nhận thức và đánh giá đúng về tầm quan trọng của việc xây dựng môi trường học tập cho
THCS.
– Có nguyện vọng và quyết tâm vận dụng những tri thức đã học vào thực tiển hoạt động dạy học, giáo
dục của bản thân ở hiện tại và tương lai.
Môi trường học tập là các yếu tố có tác động đến quá trình học tập của HS bao gồm:

-Môi trường vật chất: Là không gian dìễn ra quá trình dạy học gồm có đồ dùng dạy học như
bảng, bàn ghế, sách vở, nhiệt độ ánh sáng, âm thanh, không khí…
-Môi trường tinh thần: Là mối quan hệ giữa GV với HS, HS với HS, giữa nhà trường- gia đình

– xã hội… Các yếu tố tâm lí như động cơ, nhu cầu, hứng thú, tính tích cực học tập của HS và
phong cách, phương pháp giảng dạy của GV trong môi trường nhóm, lớp.
Môi trường học tập rất đa dạng, cần được tạo ra ở nhà trường, gia đình, xã hội. Môi trường sư
phạm là tập hợp những con người, phương tiện đảm bảo cho việc học tập đạt kết quả tốt. Môi
trường sư phạm là nội dung cơ bản của môi trường nhà trường.
Như vậy, môi trường học tập là toàn bộ các yếu tố vật chất, không gian và thời gian, tình cảm và tinh
thần – nơi HS đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến sự hình nhân
cách của HS phù hợp với mục đích giáo dục.
-Môi trường học tập theo truyền thống: Nhà trường là môi trường đơn độc tĩnh lặng và trật tự. Bầu
không khí này là kết quả của áp lực theo định nghĩa hẹp của nền giáo dục chính quy, cửa vào giới hạn
cho một số người và theo phong cách giáo huấn, mô phạm (nói, nghe) đối với việc học tập.

-Trường học đổi mới có cơ cấu tổ chức hoàn toàn trái ngược với phong cách truyền thống.
chúng thường được mở rộng hơn, ồn ào hơn và đôi khi như những trung tâm với các hoạt động.
Các trường học như thế thường là kết quả của cả hai sự thay đổi: Định nghĩa trường học và
cách hiểu mới về điều kiện môi trường để củng cố việc học.
Có ba tiêu chuẩn để đánh giá môi trường học tập của nhà trường: Mối liên hệ giữa nhà trường
với công đồng xung quanh, cấu trúc và cách sử dụng các tòa nhà và sân bãi, cách tổ chức
không gian học lập trong tòa nhà.
Dạy học có tính thụ động

Dạy học có tính tích cực

1. GV truyền đạt kiến thúc.

1. GV tổ chúc hướng dẫn HS lĩnh hội.

2. GV độc thoại và phát vấn.

2. Đối thoại GV- HS, HS- HS.

3. GV áp đặt kiến thúc cỏ sẵn.

3. HS hợp tác với GV khẳng định kiến thức HS tìm ra.

4. Hs thụ động nhận thúc.

4. HS tự tìm ra kiến thức bằng hành động của chính mình.

5. HS học thuộc lòng.

5. HS học cách học, cách giải quyết vấn đề, cách sống và trưởng

thành.

6. GV độc quyền đánh giá cho điểm cố 6. HS tự đánh giá, tự điều chỉnh làm cơ sở để giáo viên cho
định.
điểm cơ động.

-Nhà trường mong muốn mở rộng các phản hồi của HS về quá trình học tập thường khuyến
khích sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động của nhà trường, không gian hấp dẫn vui
vẽ, đầy màu sắc, sân trường được sử dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động…
-Cuộc cách mạng trong xây dựng trường học: Một tòa nhà sinh động, năng nổ thể hiện một
trung tâm học tập chủ động, sáng tạo.
-Không gian lớp học: Cách truyền thổng là sắp xếp phòng học sao cho tất cả mọi cái nhìn và sự
chú ý tập trung vào người thầy, các hoạt động trùng khớp với cách sắp xếp đồ đạc.
Toàn bộ hệ thống môi trường học tập, môi trường dạy học, môi trường giáo dục trong trường
phải được tiếp cận hệ thống, đó là các quan hệ thầy – trò, quan hệ trò – trò, quan hệ nhóm lớp
của HS, quan hệ của HS với nhà quản lí, mà bản chất của các mối quan hệ là dựa trên quan hệ
pháp luật, nhân văn, đạo đức, cộng đồng hợp tác.

Học tập là hoạt động quan trọng của lứa tuổi học sinh THCS. Hiệu quả học tập của học sinh
phụ thuộc khá lớn vào MTHT. Bởi vậy, việc xây dựng MTHT cho học sinh là một việc làm
quan trọng để hoàn thành các mục tiêu đặt ra cho cấp học. Đặt nền móng vững chắc cho việc
hình thành và phát triển nhân cách học sinh THCS.
* Các biện pháp xây dựng MTHT mang tính truyền thống cho học sinh THCS:
Biện pháp 1: Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục nhà trường, gia đình, xã hội.
– Giáo dục có nhiều lực lượng tham gia trong đó có 3 lực lượng quan trọng nhất : Gia đình –
nhà trường – xã hội.
– Gia đình là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em. Giáo dục gia đình dựa trên tình cảm
huyết thống, các thành viên gắn bó với nhau trong suốt cuộc đời.
– Giáo dục xã hội là giáo dục trong môi trường nơi trẻ sinh sống. Mỗi địa phương có trình đọ

phát triển, đặc thù có truyền thống và bản sắc văn hóa riêng.
– Tuy nhiên quá trình giáo dục phải lấy nhà trường làm trung tâm. Giáo dục nhà trường có mục
đích và nội dung giáo dục toàn diện.
Biện pháp 2: Tạo môi trường tương tác giữa người dạy – người học; người học – người học
qua việc sử dụng PP dạy học tích cực.
Dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của người học dựa trên quan điểm: “ Dạy học lấy
hoạt động của người học làm trung tâm”. Dạy học cần khai thác tối đa tiềm năng của người
học; Dạy học tạo ra cho người học một môi trường để họ có thể tự khám phá. Môi trường đó
gồm các thành tố:
-Các hình thức học tập đa dạng.
-Nội dung học tập phù hợp với khả năng, thiên hướng của người học.
-Quan hệ thày trò, bạn bè với tinh thần hợp tác dân chủ.
Giáo viên đóng vai trò chủ đạ, là người tổ chức hướng dẫn, học sinh tự tìm hiểu, tự phát hiện
và giải quyết vấn đề. Người học là chủ thể của hoạt động học, tự tìm ra kiến thức bằng hành
động của chính mình.
Biện pháp 3: Sử dụng kết hợp các hình thức tổ chức dạy học trong quá trình dạy học.
+ Hình thức dạy học trên lớp.
+ Hình thức dạy học ngoài lớp.
+ Hình thức dạy học theo nhóm.
+ Hình thức dạy học cá nhân.
*Các biện pháp xây dựng môi trường học tập hiện đại cho học sinh THCS có ứng dụng CNTT:
Công nghệ thông tin tạo ra một cuộc cách mạng mở:
+ Yếu tố thời gian không còn là một ràng buộc. Việc học cá nhân hóa tùy thuộc vào mục đích
của từng người.
+ Người học có thể tham gia vào giờ giảng ngoài không gian của trường.
+ Người học không chỉ thu nhận thông tin mà còn học cách chiếm lĩnh thông tin tùy theo nhu
cầu và biến nó thành kiến thức của mình thông qua việc khai thác, xử lý, sử dụng các nguồn
thông tin đa chiều.
+ Tăng cường khả năng khả năng trao đổi giữa người dạy và người học; Người học – người
học : Việc sử dụng diễn đàn hay Email cho phép Giáo viên và học sinh trao đổi ngoài thời gian

giảng dạy, các học sinh cũng dễ dàng trao đổi với nhau. Như vậy bất cứ ai quan tâm đến vấn đề
này cũng có có thể tham khảo, khai thác các kiến thức của các thành viên tham gia vào quá
trình học tập.

+ Có tính hấp dẫn cao vì trong các bài giảng tích hợp văn bản, đồ họa, âm thanh. Bởi thế người
học có thể thu nhận thông tin qua nhiều giác quan tạo sự hưng phấn.
Tất cả hình thức tổ chức dạy học được sử dụng ở trường THCS đã nêu trên có liên hệ mật thiết với
nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Mọi hình thức tổ chức dạy học có chức năng và vai trò nhất định trong quá trình
dạy học ở trường phổ thông, song hình thức dạy học trên lớp là hình thức tổ chức dạy học cơ bản.
Chính vì vậy muốn xây dựng môi trường học tập mang tính truyền thống cho học sinh trung học cơ sở
thì cần phải nắm rõ và đổi mới PPDH.
-Đổi mới PPDH là sự cải tiến hoàn thiện các phương pháp dạy học đang sử dụng để góp phần nâng cao
chất lượng và hiệu quả dạy học; là việc bổ sung phối hợp nhiều phương pháp để khắc phục mặt hạn chế
của các phương pháp dạy học đang sử dụng nhằm đạt được mục tiêu dạy học đã đề ra, đồng thời là sự
thay thế phương pháp đang sử dụng bằng phương pháp dạy học mới tối ưu, kết hợp với việc sử dụng
các phương tiện, trang thiết bị dạy học hiện đại từ đó hình thành nên các ‘‘kiểu” dạy – học mới với
mong muốn đem lại hiệu quả cao hơn. Cho dù đổi mới ở mức độ nào thì việc dạy học cũng phải hướng
đến “ lấy người học làm trung tâm”. Thực hiện có hiệu quả phương châm ‘‘học đi đôi với hành”, ‘‘lý
luận gắn với thực tiễn” phải khai thác tối đa kinh nghiệm của người học. Đổi mới PPDH là sự sử dụng
hợp lý, sáng tạo cách dạy, cách truyền thụ để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nhất từ đó giúp người học
vừa nắm chắc kiến thức, vừa có kỹ năng thực hành.
-Chỉ có đổi mới PPDH mới là động lực làm thay đổi căn bản chất lượng đào tạo nguồn nhân lực toàn
diện đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH đặt ra. Sử dụng hợp lý các phương tiện dạy học truyền thống,
đa phương tiện nhằm góp phần huy động tối đa các giác quan của người học, tham gia vào quá trình
dạy học.
-Cần phải quán triệt chu đáo, tạo chuyển biến trong nhận thức của gv, phải xem đổi mới PPDH là một
yêu cầu cấp thiết và cũng là một hoạt động khoa học sáng tạo để nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học
của người giáo viên. Đây là yêu cầu của sự nghiệp đổi mới giáo dục, đào tạo nói chung và sự nghiệp
giáo dục ở nhà trường nói riêng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Mặt khác, cần coi đây là thách thức

mà đội ngũ giáo viên cần phải đáp ứng nhưng cũng là cơ hội phát triển của mỗi giáo viên và của mỗi
nhà trường.

* Các phương pháp dạy học truyền thống luôn là những phương pháp quan trọng trong
dạy học. Đổi mới không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp truyền thống mà cần bắt
đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng.
1. Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống.
Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm
vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng
như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong
khi thuyết trình, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật
làm mẫu trong luyện tập.
2. Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học.
Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nội dung dạy học.
Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhược điểm và giới hạn sử dụng riêng. Vì
vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá trình dạy
học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học.
Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những hình thức xã hội của
dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức năng riêng. Tình trạng độc tôn
của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệt
thông qua làm việc nhóm.
3. Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề.

Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan
điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Học
được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức,
thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận
thức.
Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học

sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học
sinh.
4. Vận dụng dạy học theo tình huống.
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo
một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp. Quá trình học
tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo
cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập.
Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc
lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được phân theo
các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức
hợp.
Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn
của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức
hợp, liên môn.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo
tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn
thông qua làm việc nhóm.
5. Vận dụng dạy học định hướng hành động.
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt
động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm
vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí
tuệ và hoạt động tay chân.
Đây là một quan điểm dạy học tích cực hóa và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng
hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với
thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội.
6. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy học.
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng
cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Việc sử dụng các phương tiện
dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học.
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học

trong dạy học hiện đại. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều khả năng ứng dụng
trong dạy học. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng
cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện
tử (E-Learning).
7. Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình
huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học là
những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học.

Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví
dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các
kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”,
“bể cá”, XYZ, Bản đồ tư duy…
8. Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn.
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học. Vì vậy bên cạnh
những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng các
phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương pháp
dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn.
Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự
nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích
sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực
trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy
học các môn khoa học;…
9. Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh.
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa, phát huy
tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập,
xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có
những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn.
Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và

các phương pháp học tập trong bộ môn.
Tóm lại có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận
khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung. Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi
hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về
tổ chức, quản lý.
Môi trường học tập thụ động
Môi trường học tập hiện đại tích cực
Truyền thụ lấy người dạy làm trung – Học lấy hoạt động của người học làm trung tâm.
tâm. -Kích thích đơn giác quan.
– Kích thích đa giác quan.
– Hướng phát triển một chiều.
– Hướng phát triển đa chiều.
– Đơn phuơng tiện, đơn năng.
– Đa phuơng tiện, đa năng.
– Lam việc riêng lẻ, cá thể.
– Làm việc hợp tác, tương tác.
– Truyền tải thông tin.
– Trao đổi thông tin.
– Học tập thụ động.
– Học tập tích cực, tìm tòi, khám phá.
– Học sụ kiện, học dựa trên những tri – Học dựa trên tư duy phê phán, sáng tạo bằng việc đưa
thức có sẵn.
ra quyết định.
– Dạy học dựa trên những phản ứng – Dạy học thích ứng dựa trên những hoạt động có chủ
đáp lại, tái tạo theo mẫu.
định.
– Tình huống tách biệt, không th tế.
– Tình huống thực tế, xác thực.

* Các phương pháp dạy học hiện đại:
1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC:
Phương pháp tích cực để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động
sáng tạo của người học. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt

động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
khơng phải là tâp trung vào người dạy.
+ Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp tích cực, có bốn dấu hiệu cơ bản:
– Dạy học thơng qua các hoạt động của học sinh
– Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
– Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm
– Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
+ Các phương pháp dạy học tích cực: Có rất nhiều phương pháp dạy học trong đó có một số
nhóm phương pháp thường được sử dụng hiện nay đó là:
– Phân nhóm các phương pháp dùng lời: bao gồm phương pháp thuyết trình và phương pháp
vấn đáp (đàm thoại).
– Phân nhóm các phương pháp dạy học trực quan: Phân nhóm này bao gồm phương pháp trình
bày trực quan và phương pháp quan sát.
– Phân nhóm phương pháp dạy học thực hành: Phân nhóm PPDH thực hành bao gồm phương
pháp luyện tập, phương pháp ơn tập, phương pháp cơng tác độc lập.
– Ngồi ra, còn có một số phương pháp như: chương trình hóa, Algorit hóa…

MỘT SỐ MƠ HÌNH THẢO LUẬN NHĨM NHỎ
MƠ HÌNH 1: PHÁT BIỂU LẦN LƯỢT

Mỗi người được phát biểu trong một
khoảng
thời gian nhất đònh

MƠ HÌNH 2: HIỆP Ý TAY ĐƠI

Hiệp ý theo từng đơi, sau đó
đại diện từng đơi phát biểu

MƠ HÌNH 3: HỒN THIỆN TỪNG BƯỚC

Cá nhân chuẩn bị  hiệp ý tay đơi  Hai cặp rà sốt  Cả nhóm hồn thiện

MƠ HÌNH 4: CHIA SẺ GIỮA CÁC NHĨM

A
B

C

B

C

D

D

A

A

B

C
D

A

A

B

A

B
A

B

A

B

C
C

C

D
C

C

B

D

D
D

Di: những người có cùng ký hiệu thành lập nhóm riêng
Tái cấu trúc để có các nhóm mớ

II.

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN:
Có thể chia phương pháp trực quan thành phương pháp trình bày trực quan và phương pháp
quan sát.
1. Phương pháp trình bày trực quan:
-Đây là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học
trước, trong và sau khi nắm tài liệu mới trong khi ơn tập, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri
thức, kỹ năng, kỹ xảo.
-Có hai hình thức thể hiện phương pháp trình bày trực quan đó là: hình thức minh họa và hình
thức trình bày. Trong đó, hình thức minh họa thường trưng bày những đồ dùng trực quan có
tính chất minh họa như bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung các nhà khoa học, hình vẽ
trên bảng… Hình thức trình bày thường gắn với việc trình bày những thí nghiệm, những thiết
bị kỹ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bày
mơ hình đại diện cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn thận về mặt sư phạm.
-Thơng qua sự trình bày thí nghiệm của gv mà hs khơng chỉ lĩnh hội dễ tri thức còn giúp họ học
tập được những động tác mẫu mực của gv, nhờ vậy dễ dàng hình thành kỹ năng, kỹ xảo biểu
diễn thí nghiệm. Ở trường phổ thơng, thí nghiệm có thể do giáo viên hướng dẫn và do hs tiến
hành trong khi học bài mới hoặc luyện tập trong phòng thí nghiệm.

2. Phương pháp quan sát:
-Quan sát là sự tri giác có chủ định, có kế hoạch tạo khả năng theo dõi tiến hành và sự biến đổi
diễn ra trong đối tượng quan sát. Quan sát là hình thức cảm tính tích cực nhằm thu thập những
sự kiện, hình thành những biểu tượng ban đầu về đối tượng của thế giới xung quanh, quan sát
gắn liền với tư duy.Quan Sát được học sinh sử dụng khi giáo viên trình bày phương tiện trực
quan, phương tiện dạy học hoặc khi học sinh tiến hành làm việc trong phòng thí nghiệm.
Căn cứ vào cách thức quan sát có thể chia thành quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp.
Căn cứ và thời gian quan sát có thể phân chia thành quan sát ngắn hạn, quan sát dài hạn.

Căn cứ vào phạm vi quan sát có thể phân ra quan sát toàn diện và quan sát khía cạnh.
Căn cứ vào mức độ tổ chức quan sát có thể phân chia thành quan sát tự nhiên và quan sát có bố
trí, sắp xếp.
III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ALGORIT HÓA:
Algorit thường được hiểu là bản ghi chính xác, tường minh tập hợp những thao tác sơ đẳng,
đơn vị theo một trình tự nhất định (tùy mỗi trường hợp cụ thể) để giải quyết bất kì vấn đề nào
thuộc cùng một loại hay kiểu.
-Các kiểu algorit dạy học: Có hai kiểu: Algorit nhận biết và Algorit biến đổi
Trong algorit biến đổi có thể chứa đựng những thao tác (thậm chí cả algorit) nhận biết. Ngược
lại, một algorit nhận biết có thể bao gồm những thao tác (hoặc algorit) biến đổi.
+Ba khái niệm cơ bản của phép tiếp cận algorit
+ Sự mô tả dưới dạng algorit cấu trúc của hoạt động.
+ Bản ghi algorit của hoạt động.
+ Quá trình algorit của hoạt động.
-Dạy học algorit là phương pháp dạy học tích cực. Với tinh thần “lấy học sinh là trung tâm của
quá trình dạy học. Phương pháp algorit có 3 đặc trưng cơ bản:
+Tính xác định: Những mệnh lệnh thực hiện, những thao tác ghi trong algorit phải đơn trị,
nghĩa là hoàn toàn xác định (có hay không, đúng hay sai,…) phải loại trừ mọi ngẫu nhiên, tùy
tiện mơ hồ. Nội dung càng ngắn gọn càng tốt, nhưng nhất thiết phải dễ hiểu, ai cũng rõ nghĩa
của mệnh lệnh. Ngoài ra mệnh lệnh phải tương ứng với thao tác dạy học sơ đẳng, ai cũng thực

hiện đúng, dễ dàng và như nhau.
+Tính đại trà: Người ta chỉ algorit hóa những hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tính đại
trà, phổ biến, thuộc cùng một thể loại nào đó như giải bài toán, thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ hóa
học…Không ai hoài công lập algorit cho một hoạt động riêng biệt, chỉ diễn ra một vài lần.
+Tính hiệu quả: Tính chất algorit là đối cực với tính chất ơrixtic. Nếu sử dụng phương pháp
algorit chắc chắn sẽ chỉ dẫn tới thành công, nghĩa là xác suất đạt kết quả của nó về lý thuyết,
p=12. Điều này hoàn toàn dễ hiểu, đó là vì algorit là mô hình cấu trúc đã biết của hoạt động, là
bản ghi các mệnh lệnh thao tác để thực hiện, là quá trình triển khai chính xác những mệnh lệnh
đó.
IV. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA:
-Quá trình học trong đó học viên tiến tới theo nhịp độ riêng của họ bằng cách dùng sách bài
tập, sách giáo khoa hoặc các công cụ điện tử khác trong đó thông tin được cung cấp theo từng
bước rời rạc, kiểm tra việc học sau mỗi bước và cung cấp ngay thông tin phản hồi về kết quả.
-Các hình thức trình bày bài học chương trình hóa:
+Sử dụng văn bản tĩnh: Bài học được biên soạn thành file văn bản, học viên dùng phần mềm
thích hợp để xem bài học trên máy tính.
+Sử dụng dạng chương trình: Bài học được soạn thành dạng chương trình, học viên chạy
chương trình để học.
+Dạng trình diễn đơn giản (ví dụ trên PowerPoint): Bài giảng được đánh máy và thiết kế, chiếu
đơn giản trên powerpoint
+Dạng trình diễn cấp cao (ví dụ trên Flash): lập trình trên flash ,hể hiện rất tốt các dạng dữ liệu
tĩnh và động, khả năng lập trình để phản hồi thông tin khá mạnh.
+Dạng trang web: Bài giảng được biên soạn ở dạng các trang web (HTML,DHTML,

JSP, ASP,Servlet…)người học dùng máy tính với trình duyệt web bất kỳ để xem.
-Phương pháp dạy học chương trình hóa có thể giúp học sinh tự học qua web, bên cạnh đó giáo
viên có thể hướng dẫn học sinh sau đó đưa bài giảng cho học sinh với nhiều hình thức trình bày
khác nhau (trình bày trên giấy, dạng powerpoint,…) và trên cơ sở được giáo viên hướng dẫn và
bài giảng học sinh có thể tự học ở nhà. Lúc này người giáo viên chỉ đóng vai trò phụ và việc tự

học của học sinh là rất quan trọng và cần thiết.
Tóm lại, đổi mới PPDH gắn liền với sự phát triển chuyên môn của đội ngũ GV. Khuyến
khích động viên mỗi sự sáng tạo của GV, tạo ra cơ chế hoạt động để GV có thể áp dụng sáng
kiến vào thực tiễn. GV cần nâng cao trình độ, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn về đổi mới
PPDH, về sử dụng phương tiện công nghệ vào dạy học. GV là yếu tố trung tâm của quá trình
đổi mới PPDH ./.
MODULE THCS 7 (15tiết):
HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH.
1. Quan niệm về hướng dẫn tư vấn cho học sinh.
a/ Hướng dẫn:
– Là quá trình tác động có chủ định của chủ thể đến quá trình phát triển tự nhiên của đối tượng
được hướng dẫn/ giúp đỡ nhằm làm cho người đó hiểu, chấm nhận và sử dụng được những
năng lực, khả năng và những mối quan tâm của mình trong việc đạt đến những mục tiêu phải
thực hiện.
– Là chỉ bảo, dẫn dắt, cho biết phương hướng, cách thức tiến hành một hoạt động nào đó.
b/ Tư vấn:
– Là quá trình tác động có định hướng của người tư vấn đến người được tư vấn nhằm đươa ra
những gợi mở, định hướng, các phương án giải quyết khác nhau. Trên cơ sở đó, người được tư
vấn có thể tự tin lựa chọn phương án, cách giải quyết tình huống phù hợp với bản thân, nhằm
giải quyết những khó khăn của nhiệm vụ đặt ra.
– Tư vấn là tiến trình tương tác giữa người tư vấn và người được tư vấn, trong đó người tư vấn
sử dụng những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của mình giúp người được tư vấn thấu hiểu
hoàn cảnh của mình và tự giải quyến vấn đề của mình.
– Có thể nói quan niệm tư vấn bằng 4 chữ T: Tiến trình, tương tác, thấu hiểu, tự giải quyết.
+ Tiến trình: tư vấn cần một khoảng thời gian, có thể không phải chỉ gặp gỡ 1 lần mà có khi rất
nhiều lần mới có kết quả rỏ rệt. Tư vấn là triến trình bởi nó là một hoạt động có mỡ đầu, diến
biến và có kết thúc.
+ Tương tác: Tư vấn không phải là người tư vấn khuyên bảo người được tư vấn phải làm gì mà
đó là cuộc trao đổi hai chiều.
+ Thấu hiểu:Tư vấn không phải là người được tư vấn nhận ra mình là ai, đang trong hoàn cảnh

nào, có thế mạnh, điểm yếu nào, đã sử dụng những biện pháp nào cho tình huống của mình, tại
sao chưa có kết quả, những cái được và cái mất khi sử dụng một biện pháp nào đó.
+ Tự giải quyết: Tư vấn không quyết định thay. Trên cơ sở thấu hiểu hoàn cảnh của mình,
người được tư vấn cân nhắc, lựa chọn biện pháp nào phù hợp nhất cho bản thân mình.
2. Các lĩnh vực cần hướng dẫn, tư vấn cho học sinh THCS.
a/ Hướng dẫn/ tư vấn về giáo dục:
– Giúp HS yếu, kém nhằm khắc phục hiện tượng lưu ban, bỏ học.
– Giúp HS trung bình duy trì và cải thiện lực học của bản thân.
– Giúp HS khá nâng cao sự tiến bộ của họ.
b/ Hướng dẫn/ Tư vấn về ứng xử xã hội:

– Giúp HS tháo gở những vướng mắc riêng tư có quan hệ tới nhu cầu cá nhân, quan hệ với
người khác.
– Giúp HS hiểu được bản thân mình
– Có kĩ năng sống chung với người khác.
– Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới.
– Quan hệ, giao tiếp, ứng xử với gia đình, giáo viên và bạn bè.
c/ Hướng dẫn/ tư vấn về phương pháp học tập.
d/ Hướng dẫn/ tư vấn về tham gia các hoạt động xã hội.
e/ Hướng dẫn/ tư vấn về thẩm mĩ.
f/ Hướng dẫn/ tư vấn về tác hại của game online.
g/ Hướng dẫn/ tư vấn về lợi ích cũng như tác hại của các trang mạng xã hội.
h/ Hướng dẫn/ tư vấn về nghề nghiệp.
MODULE THCS 8 (15tiết):
PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH THCS
1. Phương pháp hướng dẫn, tư vấn.
a/ Quy trình:

Ngườ được tư vaán

Phân tích sự kiện

Hiểu bản chất

Xđ vđề khó giải quyeát
Khoù ra quyeát ñònh

Xđ rỏ vđề cần hỏi
Mô ta hoàn cảnh

Nêu y/c tư vaán
Đặt câu hỏi

Chưa rỏ

Ptích tình huống

Người tư vấn

Đã rỏ

Chuẩn bị nd trả lời

Trả lời

-Với người được tư vấn: để có thể đưa ra được câu hỏi rỏ ràng, đúng bản chất cần thực hiện
theo các bước sau đây:
+Bước1: Phân tích sự kiện: Bước này đóng vai trò quan trọng nhằm hiểu rỏ bản chất của tình
huống, sự kiện mà người được tư vấn đang đối mặt. Sự kiện, tình huống được xem xét, phân

tích kĩ lưỡng dưới nhiều góc độ khác nhau trong mối liên hệ đa chiều.

+ Bước 2: Xác định vấn đề quan tâm, khó giải quyết, ra quyết định: Đây là giai đoạn tìm kiếm
vấn đề cần hỏi trong sự kiện, tính huống đã phân tích ở bước 1. trong một tình huông, sự kiện
có thể xác định nhiều hơn 1 vấn đề cần hỏi.
+ Bước 3: Nêu yêu cầu cần được tu vấn: Kết quả của bước này là nội dung cần được tư vấn gửi
tới người tư vấn. Yêu cầu tư vấn có thể được cấu trúc thành hai phần đó là mô ta hoàn cảnh và
câu hỏi.
– Với người tư vấn: Để trả lời chính xác câu hỏi, đáp ứng mục đích của người được tư vấn,
người tư vấn cần tiến hành trả lời câu hỏi theo các bước sau đây:
+ Bước 1: Phân tích tình huống, câu hỏi cần tư vấn.
Mục tiêu của bước này là làm rỏ điều người được tư vấn muốn hỏi, hiểu rỏ bối cảnh,
xuất hiện câu hỏi cần tư vấn, có 2 khả năng xảy ra:
* Nêu người tư vấn đã hiểu rỏ câu hỏi, đã rỏ hoàn cảnh, đủ thông tin để đưa ra câu trả
lời thì chuyển sang bước 2.
* Nếu nguồi tư vấn chưa hiểu câu hỏi, chưa rỏ tính huống chứa đựng câu hỏi. Người tư
vấn cần trao đổi thêm với người được tư vấn để làm rỏ hoặc biết thêm thông tin làm căn cứ để
đưa ra câu trả lời tốt nhất.
+ Bước 2: Chuẩn bị câu trả lời: Nội dung câu trả lời phải được chuẩn bị trước. Trong trường
hợp người tư vấn vẫn chưa vững tin khi trả lời, có thể tham khảo thêm ý kiến của đồng nghiệp
hay nhà tư vấn khác.
+ Bước 3: Trả lời: đưa ra hướng dẫn hoặc biện pháp để người được tư vấn áp dụng/ tham khảo
để giải quyết vấn đề.
b/ Tiến trình của một ca tư vấn: – 6G
-G1: Gặp gở, niềm nở đón tiếp, tạo ra rự tin tưởng, cởi mở thân thiện ngay từ ban đầu.
-G2: Gợi hỏi thông tin, điều gì làm người tư vấn lo lắng, vấn đề của họ là gì? Tại sao họ lại cần
đến tư vấn? Đã có những giải pháp nào cho hoàn cảnh bản thân, kết quả ra sao? Họ mong
muốn nhất điều gì khi đến với người tư vấn.
-G4: Giúp đở để người được tư vấn hiểu rỏ hơn hoàn cảnh của bản thân, từ đó cung nhau thảo

luận và lựa chọn những giải pháp phù hợp.
-G5: Giải thích cho người được tư vấn hiểu rỏ hơn giải pháp mà họ đã lựa chọn, cũng như
những điều cần lường trước khi lựa chọn giải pháp này.
-G6: Gặp lại: Tư vấn không bó hẹp trong một lần gặp gỡ, vì vậy sau mỗi buổi gặp gỡ người tư
vấn cần tóm tắt nội dung cơ bản đã trao đổi, nhắc nhỡ người được tư vấn suy nghĩ, hành động
và nếu cần thiết phải gặp lại thì cần dặn dò, hẹn với họ để họ yên tâm hơn.
c/ Các hình thức hướng dẫn tư vấn:
– Hướng dẫn/ tư vấn trực tiếp: mặt đối mặt.
– Hướng dẫn/ tư vấn gián tiếp: qua điện thoải, thư từ, mạng …
– Hướng dẫn/ tư vấn cá nhân: giữa hai người với nhau.
– Hướng dẫn tư vấn cộng đồng: Nói truyện về truyền thống, Học nội quy nhà trường, phương
pháp học tập bộ môn, giao lưu giữa các lớp, khối.
2. Những kĩ thuật cơ bản trong hướng dẫn, tư vấn cho học sinh.
– K1: Lắng nghe
– K2: Khai thaoc1 thông tin từ người được tư vấn bằng hệ thống các câu hỏi (bao gồm câu hỏi
đóng, câu hỏi mở, câu hỏi dẫn dắt).
– K3: Kĩ năng phản hồi.

+ Phản hồi là việc nhắc lại, tóm tắt, diễn đạt những gì mình nghe, cảm nhận từ người được tư
vấn.
+ Có 2 loại phản hồi là phản hồi thông tin và phản hồi tâm trạng, cảm xúc.
– K4: Kĩ năng cung cấp thông tin. Cung cấp thông tin dười nhiều hình thức, thông tin phải cập
nhât, liên quan đến câu chuyện của người được tư vấn. Không cung cấp những thông tin tuy
đúng nhưng lại mang lại lo lắng hoang mang có hại cho người được tư vấn
– K5: Kĩ năng bình thường hóa vấn đề (không phải tầm thường hóa) khi người được tư vấn lo
lắng thái quá, hay đánh giá vấn đề của mình quá nặng nề. Người tư vấn cần biến bình thường
hóa vấn đề để họ yên tâm.
– K6: Kĩ năng chia nhỏ vấn đề: Khi người được tư vấn đến với nhà tư vấn thường mang trong
lòng quá nhiều nỗi lo, trong câu chuyện của họ có quá nhiều vấn đề cần giải quyết. Nhưng

không ai có thể cùng lúc giải quyết mọi vấn đề, vì vậy nhà tư vấn cần giúp họ xác định vấn đề
nào quan trọng, ưu tiên giải quyết hàng đầu.
– K7: Kĩ năng tóm tắt vấn đề. Cuộc tư vấn có thể kéo dài nhiều giờ, người tư vấn và người
được tư vấn có thể trao đổi nhiều việc.Vì vậy cuối buổi tư vấn, người tư vấn cần tóm tắt lại
những nét chính của bổi tư vấn hôm ấy để họ nắm bắt được tốt hơn.
– K8: Kĩ năng kể chuyện. Đôi khi thông qua một câu chuyện của người khác, hay do người tư
vấn “sáng tác”, ngừoi được tư vấn rút ra được những bài học cho bản thân một cách tự nhiên,
không cần gò bó, miển cưởng. Nhưng chọn lựa chuyện và cáh kể cần hết sức khéo léo, tránh để
họ nghĩ người tư vấn là một người “hay đưa chuyện”.
3. Yêu cầu đối với giáo viên THCS trong vai trò người hướng dẫn, tư vấn cho học sinh.
– Nắm vững về lĩnh vực tư vấn.
– Tin tưởng, tôn trọng sở thích và khả năng của học sinh.
– Biết lắng nghe, chi sẽ, thân thiện thương yêu con người.
– Kiên trì, khách quan.
– Chân thật, tế nhị, khéo léo.
– Công bằng, không vụ lợi.
– Khoan dung, độ lượng.
…………………………., ngày …….. tháng …. năm 20

NGƯỜI LÀM

…………………………….

và nó có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kì tăng trưởng của trẻ nhỏ. Vị trí đặc biệt quan trọng này được phản ánhbằng những tên gọi : “ thời kì quá độ ”, “ tuổi khó bảo ”, “ tuổi bất trị ” hay “ tuổi khủng hoảng cục bộ ” … Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quy trình pháttriển của trẻ nhỏ. Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trường thành. Đặc điểm tâm lí lứa tuổi học viên Trung học cơ sởNội dung cơ bản và sự độc lạ ở lứa tuổi học viên THCS với những em ở lứa tuổi khác làsự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ, thiếu cân đối về những mặt trí tuệ, đạo đức. Sự Open những yếu tố mớicủa sự trưởng thành do hiệu quả của sự biến hóa khung hình, của sự tự ý thức, của những kiểu giao tiếpvới người lớn, với bạn hữu, của hoạt động giải trí học tập, hoạt động giải trí xã hội … yếu tố tiên phong của sựphát triển nhân cách ở lứa tuổi học viên THCS là tính tích cực xã hội can đảm và mạnh mẽ của những emnhằm lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực nhất định, nhằm mục đích thiết kế xây dựng những quan hệ thỏađáng với người lớn, với bạn ngang hàng và ở đầu cuối nhằm mục đích vào bản thân, phong cách thiết kế nhân cáchcủa mình một cách độc lập. Tuy nhiên quy trình hình thành cái mới thường lê dài về thời hạn và nhờ vào vàođiều kiện sống, hoạt động giải trí của những em. Do đó sự tăng trưởng tâm lí ở lứa tuổi này diễn ra khôngđồng đều về mọi mặt. điều đó quyết định hành động sự sống sót song song “ vừa tính trẻ con, vừa tính ngườilớn ” ở lứa tuổi này. Nét đặc trưng trong tiếp xúc của học viên THCS với người lớn là sự cải tổ lại kiểu quan hệgiữa người lớn với trẻ nhỏ ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ đặc trưng của tuổi thiếuniên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớn với người lớn trong những giai đoạntiếp theo. Trong tiếp xúc với người lớn hoàn toàn có thể phát sinh những khó khăn vất vả, xung đột do thiếuniên chưa xác lập khá đầy đủ giữa mong ước về vị trí và năng lực của mình. Đặc điểm đặc trưng trong sự tăng trưởng cấu trúc nhận thức của học viên THCS là sựhình thành và tăng trưởng của những tri thức lí luận, gắn với những mệnh đề những quy trình nhận thức trigiác, chú ý quan tâm, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng … ở học viên THCS đều tăng trưởng mạnh, đặc biệt quan trọng sựphát triển của tư duy hình tượng và tư duy trừu tượng. Trong tiếp xúc, thiếu niên khuynh hướng đến bạn rất can đảm và mạnh mẽ, tiếp xúc với bạn chiếm vịtrí quan trọng trong đời sống và có ý nghĩa thiết thực so với sự tăng trưởng nhân cách của thiếuniên. Khác với tiếp xúc với người lớn, tiếp xúc của thiếu niên với bạn ngang hàng là hệ thốngbình đẳng và mang đặc trưng của quan hệ xã hội giũa những cá thể độc lập. GIỚI THIỆU VỀ MÔI TRUỜNG HỌC TẬPKhái niệm môi trường học tậpMôi trường học tập là những yếu tốcó tác động ảnh hưởng đến quy trình học tập của HS gồm có : Môi trường vật chất : Là khoảng trống diễn ra quy trình dạy học gồm có vật dụng dạy họcnhư bảng, bàn và ghế, sách vở, nhiệt độ ánh sáng, âm thanh, không khí … Môi trường ý thức : Là mối quan hệ giữa GV với HS, HS với HS, giữa nhà trường – giađình – xã hội … Các yếu tố tâm lí như động cơ, nhu yếu, hứng thú tích học tập của HS và phongcách, chiêu thức giảng dạy của GV trong môi trường tự nhiên nhóm, lớp. Môi trường học tập rất phong phú, cần được tạo ra ờ nhà trường, mái ấm gia đình, xã hội. Môi trườngsư phạm là tập hợp những con người phương tiện đi lại bảo vệ cho việc học tập đạt hiệu quả tốt. Môi trường sư phạm là nội dung cơ bản của môi trường tự nhiên nhà trường. Toàn bộ mạng lưới hệ thống môi trường học tập, thiên nhiên và môi trường dạy học, môi trường tự nhiên giáo dục trongtrường phải được tiếp cận mạng lưới hệ thống, đó là những quan hệ thầy – trò, quan hệ trò – trò, quan hệnhóm lớp của HS, quan hệ của HS với nhà quản lí, mà thực chất của những mối quan hệ là dựatrên quan hệ pháp lý, nhân văn, đạo đức, hội đồng hợp tác. Như vậy, môi trường học tập là hàng loạt những yếu tố vật chất, khoảng trống và thời hạn, tình cảm và ý thức – nơi HS đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự hình nhân cách của HS tương thích với mục tiêu giáo dục. * CÁC LOẠI MÔI TRUỜNG HỌC TẬP * Môi trường học tập ở trường ; Giáo dục đào tạo nhà trường là hoạt động giải trí giáo dục trong những trường lớp thuộc hệ thốnggiáo dục quốc dân theo mục tiêu, nội dung, chiêu thức có tinh lọc trên cơ sở khoa học vàthực tiển nhất định. So với mái ấm gia đình, nhà trường là một thiên nhiên và môi trường giáo dục to lớn hơn, phong phú và đa dạng, hấpdẫn hơn đổi với thế hệ trẻ. Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt thực thi tính năng cơ bản là tái sản xuấtsức lao động, tăng trưởng nhân cách theo hướng duy trì, tăng trưởng xã hội. Nhà trường có chứcnăng hình thành và tăng trưởng nhân cách thế hệ trẻ trải qua hoạt động giải trí dạy học, giáo dục. Giáo dục nhà trường có sự thống nhất về mục tiêu, tiềm năng đơn cử, được thực thi bởiđội ngũ những nhà sư phạm được giảng dạy và tu dưỡng chu đáo, thực thi giáo dục theo mộtchương trình, nội dung, phương pháp sư phạm nhằm mục đích tạo mọi điều kiện kèm theo thuận tiện cho sự pháttriển nhân cách tổng lực, hướng tới sự thành đạt của con người. Hoạt động học tập và những hoạt động giải trí khác cửa HS THCS có nhiề sự đổi khác, độngquan trọng đến việc hình thành những đặc thù tâm lí lứa tuổi HS THCS, như : – Bắt đầu biến hóa về nội dung dạy học : – Sự đổi khác về chiêu thức dạy học và hình thức học tập : Thái độ đổi với học tập của HS THCS cũng rất khác nhau. Tất cả những em đều ý thức đượctầm quan trọng và sự thiết yếu của học tập, nhưng thái độ biểu lộ rất khác nhau. Sự khácnhau đó được bộc lộ : Trong thái độ học tậpTrong sự hiểu biết chungTrong phuơng thức lĩnh hội tài liệu học tậpTrong hứng thú học tập * Môi trường mái ấm gia đình : Ở lứa tuổi này, vị thế của những em ở trong mái ấm gia đình đã biến hóa, những em được mái ấm gia đình thừanhận như thể một thanh viên tích cực của mái ấm gia đình, Gia đình là một đơn vị chức năng xã hội ( nhóm nhỏ xã hội ), hình thức tổ chức triển khai quan trọng nhất củasinh hoạt cá nhânGia đình là thiên nhiên và môi trường giáo dục tiên phong và là thiên nhiên và môi trường giáo dục suốt đời so với quátrình hình thành và tăng trưởng nhân cách con người. Gia đình giữ vị trí quan trọng và có ý nghĩalớn lao đổi với quy trình hình thành và tăng trưởng nhân cách. * Môi trường xã hội : Giáo dục đào tạo xã hội là hoạt động giải trí của những tổ chức triển khai, những nhóm xã hội có công dụng giáo dục theoquy định của pháp lý hoặc những chương trình giáo dục trên những phương tiện đi lại thông tin đạichúng. Giáo dục đào tạo xã hội tác động ảnh hưởng đến quy trình hình thành và tăng trưởng nhân cách của đứa trẻthường qua hai hình thức : tự phát và tự giác. Giáo dục đào tạo cửa xã hội phải tích hợp ngặt nghèo với giáo dục mái ấm gia đình và nhà trường, góp phầnthực hiện tiềm năng giảng dạy con người theo định hướn của Đảng và Nhà nước. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦAHỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ1. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến mục tiêu, động cơ học tậpMôi trường học tập ảnh hường không nhỏ tới mục tiêu, động cơ học tập. Mục đích củahành động trọn vẹn không phải do con ngưòi nghĩ ra một cách chủ quan mà nó được hìnhthành dần trong quy trình diễn ra hành vi. Mục đích thực sự chỉ hoàn toàn có thể có khi chủ thể bắtđầu hành vi. Mục đích học chỉ đuợc hình thành khi chủ thể mở màn học tập. Thông qua học lập, ngườihọc sở hữu được tri thúc, kỉ năng, kỉ xảo bộ phận ( những khái niệm cửa tùng bài học kinh nghiệm, tùngtiết học ) – đây là mục tiêu bộ phận. Trên cơ sở sở hữu những tri thức, kỉ năng, kỉ xảo bộphận mà sở hữu được hàng loạt những tri thúc, kỉ năng, kỉ xảo mạng lưới hệ thống ( những khái niệmcủa môn học ) – đây là mục tiêu môn học. Mỗi tri thức, kỉ năng, kỉ xảo bộ phận được chủ thểtiếp thu và làm chủ lại trở thành phương tiện đi lại cho việc hình thành mục tiêu bộ phận tiếp theo, cứ như vậy, mục tiêu học sẽ được hình thành trong quy trình thực thi một mạng lưới hệ thống những hànhđộng học trong một thiên nhiên và môi trường nhất định. Động cơ của hoạt động học không có sẵn mà hiện thân ở đối tượng người tiêu dùng của hoạt động học ( đólà những tri thức, kỉ năng, kỉ xảo … ) mà người học cần sở hữu để hình thành và phát triểnnhân cách. Có hai loại động cơ học là : động cơ triển khai xong tri thức và động cơ quan hệ xã hội. – Động cơ triển khai xong tri thúc : Trong quy trình học tập, học để lan rộng ra tri thức, lan rộng ra vốn hiểu biết là động cơthúc đẩy người học tích cực học tập nhằm mục đích lĩnh hội tri thúc, kỉ năng, kĩ xảo. Trong trườnghợp này, nguyện vọng hoàn thành xong tri thức hiện thân ở đối tượng người dùng của hoạt động học. Đây làđộng cơ bên trong của hoạt động học vì những yếu tố kích thích người học xuất phát từ mụcđích học, từ nhu yếu, hứng thú nhận thức của người học. Người học mong ước hiểu biếtnhững điều mới lạ, lan rộng ra tri thúc và họ thấy tự do, không căng thẳng mệt mỏi, căng thẳng mệt mỏi khihọc. – Động cơ quan hệ xã hội : Trong quá trinh học lập, người học say sưa học ngoài sụ mê hoặc, hấp dẫn của tri thúc cònvì những quan hệ xã hội ( học để Giao hàng xã hội, học để hài lòng cha mẹ ). Trong trường hợp này, những mổi quan hệ xã hội của cá thể đuợc hiện thân ở đối tượng người dùng của hoạt động học. Khi hoạtđộng học được thôi thúc bởi động cơ quan hệ xã hội thì ở một mức độ nào đấy nó mang tínhchất cưỡng bức, có lúc Open như là vật cản trên con đường đạt mục tiêu, vì thế người họccảm thấy căng thẳng mệt mỏi, căng thẳng mệt mỏi và có khi Open xung đột găy gắtHai loại động cơ nói trên cùng diễn ra trong quy trình học tập, nó làm thành một hệ thốngđộng cơ thôi thúc người học học tập. Trong thục tế, có những HS học tập với sự nổ lực nhưnhau, tác dụng đạt được như nhau nhưng động cơ hoàn toàn có thể rất khác nhau : có người học là domuốn nâng cao trình độ hiểu biết, muốn có sự tăng trưởng ngày càng cao ; có người học là do đểđuợc khen, để bố me sung sướng hoặc đó là con đường tiến thân. Động cơ của hoạt động học không có sẵn, nó đuợc hình thành trong chính quy trình họctập dưới sự ảnh hưởng tác động của nhiều yếu tố : yếu tố chủ quan ( nhu yếu, hứng thú, tình cảm, tháiđộ … của người học ) và yếu tố khách quan ( cha me, thầy cô giáo, bè bạn … ). 2. Ảnh hưởng của môi trường tự nhiên đến phương pháp học tậpViệc học tập ở trường THCS là một bước ngoặt quan trọng trong đời sống của trẻ. Ở cáclớp dưới, trẻ học tập những mạng lưới hệ thống những sự kiện và hiện tượng kỳ lạ, hiểu những mối quan hệ đơn cử vàđơn giản giữa những sụ kiện và hiện tượng kỳ lạ đó. Ở trường THCS, việc học tập của những em phúc tạphơn. Các em chuyển sang nghiên cứu và điều tra có mạng lưới hệ thống những cơ sở của những khoa học, những em họcnhìều môn học hơn … Mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thànhmột mạng lưới hệ thống tương đối thâm thúy. Điều đó yên cầu những em phải tự giác và độc lập cao. Ở đa sốthiếu niên, nội dung khái niệm “ học tập ” đã đuợc lan rộng ra ; ở nhiều em đã có yếu tố tự học, cóhứng thú vững chắc đổi với môn học, mê hồn học tập. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biếtnhiều hoàn toàn có thể khiến hứng thú của những em bị phân tán và không vững chắc, hoàn toàn có thể hình thành tháiđộ dễ dãi, không nghiêm túc đổi với những lĩnh vục khác trong đời sống, vì thế, thiên nhiên và môi trường vàphuơng pháp học tập có mối quan hệ tác động ảnh hưởng qua lại với nhau. Môi trường là điều kiện kèm theo đểngười học sử dụng những phương pháp học tập thích hợp. Môi trường nhóm lớp, phương phápgiảng dạy của GV, quan hệ ứng xử của GV so với HS là yếu tố tác động ảnh hưởng trục tiếp tớiphương pháp học tập của HS THCS. Quá trình dạy học yên cầu GV và HS cần nổ lực tìm ra cácgiải pháp để dạy và học đạt hiệu suất cao ngày càng cao, trong đó, việc GV vận dụng phương phápdạy học tương thích với nhu yếu, trình độ và những đặc thù tâm lí khác của lứa tuổi HS THCS đuợccoi là một giải pháp tốt nhất. Các giải pháp dạy học khác nhau tăng trưởng những kĩ năng vànhững phẩm chất khác nhau của HS. Phương pháp dạy học phong phú làm cho bài giảng của GVtrở nên mê hoặc và HS cảm thấy hứng khởi hơn trong giờ học. Để xây dụng một thiên nhiên và môi trường họctập thân thiện nhằm mục đích khai thác mặt giá trị và xúc cảm của HS trong quy trình học tập thì những moiquan hệ trong dạy học có vai trò quyết định hành động. Quan hệ giữa GV với HS, giữa cá thể HS vớinhau, giữa cá thể với nhóm, giữa nhóm và cả lớp được tăng trưởng theo xu thế tăng cườngsự tương tác, hợp tác và cạnh tranh đối đầu, tham gia và san sẻ. Đây là môi trường học tập giúp HSTHCS không ngừng tự hoàn thành xong nhân cách và cải tổ hiệu quả học tập cá thể. Quan hệ thầy trò tốt đẹp đuợc dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. HS tôn trọng GV bởi kỉnăng giảng dạy, phẩm chất cá thể, kiến thúc và trình độ trình độ ; GV tôn trọng HS vì mỗiHS là một nhân cách với những nổ lực học tập. . Mối quan hệ tốt đẹp giữa GV với HS được bộc lộ đơn cử trải qua thái độ, cử chỉ, điệu bộ, ngôn từ cửa GV trong quy trình dạy học. HS sẽ cảm thấy tự tin hơn khi GV tươicười hay có lời khen để động viên HS học tập ; nó hoàn toàn có thể biến hóa một trường hợp được coi làtiêu cực trở thành tích cực. GV cần tỏ ra hài lòng khi HS thành công xuất sắc trong học tập ; nhiệt tìnhhướng dẫn và giải đáp vướng mắc cho HS ; động viên những em bày tỏ nhu yếu, nguyện vọng họctập và biết trợ giúp, chia sẽ kinh nghiệm tay nghề học tập với bạn ; nhận xét và nhìn nhận hiệu quả học lậpđảm bảo sự công minh … tạo cho HS có động lực để phấn đấu dành hiệu quả cao trong học tập, tìm tòi phương pháp học tập hiệu suất cao. Như vậy, GV là nguời dữ thế chủ động tạo ra và điểu khiển mổi quan hệ giữa thầy và trò, dùng ảnhhuớng của mối quan hệ đó để xây dụng những mối quan hệ tốt đẹp giữa cá thể với cá thể HS, giữa cá thể với nhóm và giữa những nhóm với cả lớp .. 3. Ảnh hường của môi trường tự nhiên đến hiệu quả học tậpMôi trường học tập của HS THCS có sự tham gia của nhiều tác nhân : GV, người học, giađình, cơ sở vật chất, yếu tố quản lí của nhà trường. GV là người quyết định hành động sự hợp tác gắn bógiữa thầy và trò, giữa trò và trò, là tác nhân quyết định hành động chẩt lượng giáo dục học lập ở HS. Hìnhthức bên ngoài, đời sống nội tâm, chiêu thức dạy học, kỉ năng tiếp xúc, phong thái sống … của GV có ảnh hưởng tác động can đảm và mạnh mẽ đến tâm lí HS. Khi bài giảng của GV được HS hưởng ứng, ủnghộ có nghĩa là GV đang tác động ảnh hưởng tích cực đến môi trường học tập của HS. Năng lực sưphạm, trình độ trình độ của GV, quan hệ ứng xử của GV so với HS là yếu tố quyết địnhchất lượng dạy học, là tác nhân tạo nên hiệu quả học tập ở người học. – HS và tính tích cực học tập trong thiên nhiên và môi trường nhóm lớp : Tất cả mọi hoạt động giải trí trong cácnhà trường đều nhằm mục đích mục tiêu tăng trưởng nguời học, người học đuợc coi là yếu tố TT. Việc kiến thiết xây dựng môi trường học tập cho HS THCS cũng dựa vào HS và hoạt động giải trí của HS đểkhai thác mặt giá trị và cảm xức trong học tập và tiếp xúc. Vì vậy, thiết yếu phải tạo ra môitrường học tập tự giác, tích cực, dữ thế chủ động của HS trong hoạt động giải trí nhóm lớp nhằm mục đích góp phầnnâng cao tác dụng học tập. Chính thành tích học tập của lớp, của nhóm sẽ góp thêm phần thúc đẩythành tích học tập của mọi cá thể HS trong nhóm, lớp. – Cán bộ quản lí : Nhận thức và hành vi của cán bộ quản lí là “ cốt lõi ” để tạo nên sự thânthiện giữa những thành viên trong nhà trường. Trong mọi quan hệ, người cán bộ quản lí phải dânchủ, minh bạch, công khai minh bạch. Giữa cán bộ quản lí, GV, HS phải thực sự tôn trọng lẫn nhau, quanhệ san sẻ, hội đồng nghĩa vụ và trách nhiệm. Không thể có môi trường học tập tốt nếu trong nhà trườngcác mối quan hệ thiếu dân chú, bất bình đẳng. Hình ảnh những thầy là hình ảnh lí tường mà cácthế hệ học trò học tập và làm theo. Chính tấm gương lao động của những thầy, cô là bài học kinh nghiệm cholớp lớp thế hệ HS, góp thêm phần tạo nên thành tích của nhà trườmg. Cơ sở vật chất : Môi trường học tập của HS số lượng giới hạn trong một khoảng trống nhất định, đólà trường học. Mọi hoạt động giải trí của HS diễn ra trong khoanh vùng phạm vi khoảng trống lớp học với những yếu tố : bàn và ghế, ánh sáng, âm thanh cùng với những phương tiện đi lại Giao hàng dạy và học, những thiết bị thựchành … Mỗi trường THCS đều có sự khác nhau nhất định về Cơ sờ vật chất tuy vào nguồn lụckinh tế của nhà trường và địa phương. Nhìn chung, những nhà trường THCS lúc bấy giờ đều phảihướng tới tiêu chuẩn tổi thiểu về điểu kiện cơ sở, vật chất, đó là điều kiện kèm theo cần và đủ để nângcao chất lượng và bảo vệ chất lượng. Một môi trường học tập tốt trước hết phải bảo vệ cácđiều kiện cơ sở vật chất tối thiểu. Ngược lai, cơ sở vật chất thiếu thốn sẽ gây ra khó khăn vất vả vềmọi mặt cho hoạt động giải trí học tập của HS, làm giảm sút hiệu quả học tập của HS.Môi trường giáo dục là tập hợp khoảng trống với những hoạt động giải trí xã hội của cá thể, cácphương tiện và giao lưu được phối hợp với nhau tạo điều kiện kèm theo thuận tiện để giáo dục đạt kết quảcao nhất. Do thực chất nhân văn của giáo dục, cùng với đạo lí và lẽ sống tình người đang thôithúc tất cả chúng ta phải góp một viên gạch vào việc xây dụng một môi trường học tập lành mạnh, tích cực. Đồng thời, cũng thiết yếu phải phân biệt rõ những khái niệm thiên nhiên và môi trường và môi trườnggiáo dục là hai phạm trù khác nhau về đối tượng người tiêu dùng tiếp cận và nội dung nghiên cứu và điều tra. Tuy nhiên, có điểm chung là đều điều tra và nghiên cứu sự ảnh hưởng tác động của con người với thiên nhiên và môi trường xung quanh vàngược lại. Ở khoanh vùng phạm vi môi trường tự nhiên giáo dục, hầu hết đề cập đến quan hệ giữa con người với conngười trong một khoanh vùng phạm vi hẹp hơn. MỘT SỐ BIỆN PHÁP XÂY DỤNG MÔI TRUỜNG GIÁO DỤC *. Phối hợp giữa mái ấm gia đình, nhà trường và xã hội để giáo dục HS • Nội dung phối hợp : Việc link, phối hợp giữa môi trường tự nhiên giáo dục mái ấm gia đình, nhà trường và những tổ chức triển khai xãhội nhằm mục đích triển khai mục tiêu tăng trưởng nhân cách công dân được coi là một nguyên tắc quantrọng. Việc link, phối hợp ngặt nghèo giữa ba thiên nhiên và môi trường giáo dục nhằm mục đích bảo vệ sự thốngnhất về nhận thức cũng như phương pháp hành vi để hiện thực hóa tiềm năng quy trình phát triểnnhân cách ; tránh sự tách rời, xích míc, vô hiệu hoá lẫn nhau gây nên tâm trạng hoài nghi, hoang mang lo lắng, xê dịch so với cá thể trong việc lựa chọn, tiếp thu những giá trị tốt đẹp. Gia đình, nhà trường và những tổ chức triển khai xã hội link, phối hợp thống nhất mục tiêu, mụctiêu giáo dục biểu lộ ở những nội dung cơ bản nhằm mục đích tăng trưởng tổng lực những mặt đức, trí, thể, mĩ, lao động … Mọi môi trường tự nhiên đều có một lợi thế trong việc triển khai những nội dung giáo dục. Gia đình có lợi thế đổi với việc giáo dục xu thế nghề nghiệp, rèn luyện kỉ năng, kĩ xảo, thói quen lao động chân tay, quan hệ ứng xử … Nhà trường có lợi thế trong việc giáo dục toàndiện, đặc biệt quan trọng là tri thức văn hoá ; những chuẩn mực đạo đúc, ý thức công dân … bằng những phươngpháp, phương tiện đi lại tân tiến nhằm mục đích thôi thúc nhanh quy trình tăng trưởng nhân cách. Các đoàn thểxã hội bằng những hình thức tổ chức triển khai hoạt động giải trí xã hội ngoài giờ lên lớp giúp những em lan rộng ra kiếnthức, gắn tri thúc với thực tiễn, chủ trương, chủ trương chung của Nhà nước, của địa phương vềcác nghành nghề dịch vụ trong đời sống xã hội. Việc link, phối hợp những môi trường tự nhiên giáo dục mái ấm gia đình, nhà trường và những tổ chức triển khai xãhội diễn ra dưới nhiều hình thức, yếu tố cơ bản, quan trọng số 1 là những lực lượng giáo dụcđó phải phát huy ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm, dữ thế chủ động tìm ra những hình thức, giải pháp, tạo ra mốiliên kết, phối hợp vì mục tiêu giáo dục, đào tạo và giảng dạy thế hệ trẻ thành những công dân có ích củađất nước. Do đó, không hề coi đây là nghĩa vụ và trách nhiệm riêng cửa lực lượng nào. Tuy nhiên, gia đìnhvà nhà trường có trách nhiệm lớn hơn, do tại trẻ nhỏ là con cháu của mái ấm gia đình, là HS của nhàtrường trước khi trở thành công dân xã hội. Liên kết, phối hợp giáo dục giữa mái ấm gia đình, nhà trường và xã hội nhằm mục đích triển khai nhữngnội dung chú yếu sau : – Thống nhất mục tiêu, kế hoạch chăm nom, giáo dục HS của tập thể sư phạm nhà trường vớiphụ huynh, với những đoàn thể, cơ sở sản xuất, những cơ quan văn hoá, giáo dục ngoài nhà trường. – Theo dõi, nhìn nhận hiệu quả quy trình giáo dục HS trong nhà trường và ở địa phương nhằmkhông ngừng nâng cao hiệu suất cao giáo dục. Gia đình phải tạo thiên nhiên và môi trường thuận tiện cho việc tăng trưởng tổng lực về đạo đức, trí tuệ, sức khỏe thể chất, thẩm mĩ cho trẻ nhỏ ; người lớn cỏ nghĩa vụ và trách nhiệm giáo dục, làm gương cho con trẻ, cùngnhà trường nâng cao chất lượng, hiệu suất cao giáo dục. – Đẩy mạnh sự nghiệp xã hội hóa giáo dục nhằm mục đích tạo ra động lực can đảm và mạnh mẽ cũng như điều kiệnthuận lợi cho mạng lưới hệ thống nhà trường thực thi tổt tiềm năng giáo dục giảng dạy ở toàn bộ những cấp học. Những nhu yếu để thực thi tốt việc phối hợp : – Đối với gia đìnhHoạt động tích cực trong tổ chúc hội cha mẹ nhà trường nhằm mục đích góp thêm phần thiết kế xây dựng cơsở vật chất, ý thức, thực thi sự nghiệp xã hội hoá giáo dục, tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho nhàtrường nâng cao chất lượng giáo dưỡng và giáo dục. Những cuộc họp cha mẹ HS đuợc tổchức theo khối, theo lớp do GV chủ nhiệm hoặc ban liên lạc cha mẹ tổ chức triển khai đầu năm họchoặc từng học kì … nhu yếu những bậc cha mẹ cần đi không thiếu để nắm vững mục tiêu, nhu yếu, nộidung, giải pháp giáo dục HS, tạo sự thống nhất giữa nhà trường với mái ấm gia đình trong quá trìnhgiáo dục HS.Duy trì liên tục, đều đận mổi quan hệ giữa nhà trường, mái ấm gia đình bằng sổ liên lạc, phiếu nhìn nhận, điện thoại cảm ứng để mái ấm gia đình biết được tác dụng học tập, rèn luyện và những ưu điểm yếu kém của con em của mình mình. Ngược lai, nhà trường cũng chớp lấy được tình hình học tập, hoạt động và sinh hoạt của HS ngoài giờ lên lớp. Tất cả những nhận xét, nhìn nhận về phía nhà trường cũngnhư mái ấm gia đình cần đúng mực, thận trọng, nhấn mạnh vấn đề đến ưu điểm, văn minh là chú yếu, không nênchỉ tập trung chuyên sâu nhấn mạnh vấn đề vào những điểm yếu kém, yếu kém. Nếu trẻ có những sai phạm nghiêmtrọng thì những bậc cha mẹ và nhà trường cần gặp nhau trực tiếp nhằm mục đích tìm đúng nguyên do vàcác giải pháp giáo dục tương thích. cha mẹ không nên che giấu những điểm yếu kém của con cáitrong học tập, hoạt động và sinh hoạt ở mái ấm gia đình, địa phuơng so với nhà trường, dẫn đến những hiện tươngmột số em ở trường được khen thửơng là Hs giỏi, tiên tiến và phát triển nhưng ở địa phương và gia đinh cònyếu kém về nhiều mặt. Gia đình cũng phát huy truyền thống lịch sử “ tôn sư trọng đạo “, bảo vệ uy tín, danh dự cho thầy cô giáo, tránh những lời nói, thái độ, hành vi coi thường thầy cô giáo trướcmặt những em. Vì mục tiêu giáo dục nên những bậc cha mẹ cần mạnh dạn thẳng thắn liên lạc, phối hợp vớicác cơ quan, đoàn thể, tổ chức triển khai ở mọi địa phương, kể cả những cơ quan bảo vệ pháp lý nhưcông an, chính quyền sở tại địa phương nếu thấy thiết yếu để uốn nắn, ngăn ngừa kịp thời những biểuhiện xấu, xô lệch hoàn toàn có thể tăng trưởng so với con em của mình mình. – Đối với nhà trườngCần phát huy vai trò TT trong việc liên lạc, phối hợp giáo dục. Nhà trường chủđộng thông dụng nội dung, mục tiêu giáo dục đến những tổ chúc xã hội của địa phương như ĐoànThanh niên, Hội Phụ nữ … nhằm mục đích xu thế tác động ảnh hưởng thống nhất so với quy trình hình thànhvà tăng trưởng nhân cách của trẻ. Thực hiện vai trò là TT văn hoá, giáo dục của địa phương, nhà trường cần tổ chứctuyên truyền thông dụng những tri thức khoa học kĩ thuật, công nghệ tiên tiến, văn hoá, , … những kiến thúcvề phuơng pháp, giải pháp giáo dục có hiệu suất cao tránh đuợc những sai lầm đáng tiếc, xô lệch so với quátrình tăng trưởng nhân cách của trẻ, đặc biệt quan trọng trong cơ chế thị trường có không ít những tác độngxấu ảnh hướng đến thế hệ trẻ. Nhà trường cần phối hợp với chính quyền sở tại phương tổ chức triển khai cho những em tham gia tích cựcvào những hoạt động giải trí văn hoá, xã hội như : bảo vệ môi trường tự nhiên, đền ơn đáp nghĩa, tiêu diệt ma túy, dân số – kế hoạch hóa mái ấm gia đình … nhằm mục đích góp thêm phần tái tạo môi trường tự nhiên ngày càng tốt đẹp, lànhmạnh so với quy trình hình thành, tăng trưởng nhân cách của trẻ. Giúp địa phương theo dõi, nhìn nhận hiệu quả của quy trình giáo dục thanh thiếu niên, phântích nguyên do, đề xuất kiến nghị những giải pháp nhằm mục đích nâng cao hiệu suất cao của sự link, phối hợp chặtchẽ giữa những môi trường tự nhiên và khai thác vai trò, lợi thế đặc biệt quan trọng của giáo dục mái ấm gia đình. Xây dựng, củng cố Hội Phụ huynh HS, ban giáo dục địa phuơng tạo nên sức mạnh tổnghợp, đồng điệu, hướng vào tiềm năng giáo dục thế hệ trẻ một cách liên tục, cótổ chức, có kếhoạch. – Với những tổ chức triển khai xã hộiTiềm năng giáo dục của lực lượng xã hội như những cơ quan đoàn thể, những hội quần chúng, những cơ sở sản xuất, những đơn vị chức năng quân đội … là vô cùng to lớn, được biểu lộ trong tổng thể những lĩnhvực tư tưởng chính trị – đạo đức, khoa học – kĩ thuật văn hoá – thẩm mỹ và nghệ thuật thể dục – thể thao, nghềnghiệp … dưới hình thức kết nghĩa với nhà trường hoặc đỡ đầu nhà trường kiến thiết xây dựng cơ sở vậtchất – kỉ thuật hoặc giúp những lớp HS thăm quan, học tập, giao lưu, tiếp xúc với việc thật, ngườithật nổi bật, gương mẫu trong xã hội để hoàn thành xong cá thể, quản trị Hồ chí Minh đã khẳngđịnh “ Nếu nhà trường dạy tốt mà mái ấm gia đình ngược lại, sẽ có tác động ảnh hưởng không tốt đến trẻ và kếtquả cũng không tốt. Cho nên muốn giáo dục những cháu thành người tốt, nhà trường, mái ấm gia đình, đoàn thể xã hội đều phải phối hợp ngặt nghèo với nhau “. Chính quyền những cấp động viên tổng thể mọi lực lượng, mọi những tầng lớp kiến thiết xây dựng thực hiệnnếp sống văn minh, thực thi những trào lưu “ ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo “, “ Gia đình văn hoá “, kiến thiết xây dựng “ Thôn xóm không có người nghiện hút ” …, nhất quyết đẩy lùi, xóa bỏ những tàn dư lỗi thời, những nguyên do gây ra những tệ nạn xã hội. Người lớn cần gươngmẫu trong mọi nghành của đời sống để thế hệ trẻ noi theo. Xây dựng cơ sở vật chất, cảnh sắc nhà trường : Cơ sở vật chất và cảnh sắc nhà trường có tác động ảnh hưởng mạnh đến xúc cảm, hình thành ấntượng và niềm tự hào so với HS. Một môi trường tự nhiên xanh, sạch, đẹp với điều kiện kèm theo cơ sở vật chấtđuợc bảo vệ tạo cho HS cảm xúc tự tin, vui vẻ khi đến trường, hình thành nên hưng phấntích cực đổi với mọi hoạt động giải trí. Cơ sở vật chất và cảnh sắc nhà trường gồm có những điều kiệntự nhiên nơi trường đóng và những phương tiện đi lại kỉ thuật ship hàng cho mọi hoạt động giải trí của nhàtrường. Các trường THCS cần phải đảm báo những điều kiện kèm theo tối thiểu cơ sở vật chất như : không giantrong lớp học da dạng và đa dạng và phong phú ; bàn và ghế cơ động ; những phương tiện đi lại dạy học như bảng, tranh vẽ, sách giáo khoa, Internet và những phuơng tiện máy tính, máy chiếu … hoạt động giải trí tốt vàan toàn. Các tài liệu học tập đuợc cung ứng theo yéu cầu học tập ở trường trung học. Cấu trúc phòng học, ánh sáng, âm thanh đạt nhu yếu về chất lượng, mạng lưới hệ thống nhà được xâydung đứng tiêu chuẩn. Bài trí tranh vẽ, lô gô khẩu hiệu phải mang tính thẩm mĩ và tính giáodục tạo nên những nét đẹp văn hoá nhà trường. Về cảnh sắc nhà trường phải bảo vệ những điều kiện kèm theo cơ bản như : Phòng học cần đượcquét dọn tiếp tục, mạng lưới hệ thống cây xanh, thảm cỏ, hoa lá cây cảnh được phổi hợp hài hoà tạo nênsự thân thiện, dể chịu cho HS trong mọi hoạt động giải trí. Không khí trong lành, khoảng trống dành chocác hoạt động giải trí được lan rộng ra và thật sạch. Việc thiết kế xây dựng cơ sở vật chất và cảnh sắc nhà trường là một nội dung cơ bản để có mộtmôi trường học tập thân thiện ở trường THCS. Nếu những yếu tố trên không được bảo vệ thìkhông thể tạo ra được những ảnh hưởng tác động tích cực đến nhận thức, tình cảm của HS, làm hạn chếchất lượng dạy học trong nhà trường. Nhà trường phải có sân chơi, có Tolet, có đủ nước uống hợp vệ sinh cho HS, cónhà tập thể thao, có đủ vật dụng học tập, sách và tài liệu tìm hiểu thêm cho HS. Đây là những điềukiện giúp HS hoàn toàn có thể học tập thành công xuất sắc và hiệu suất cao. Nhà trường phải có vườn trường, có thưviện thân thiện lôi cuốn HS tham gia và tạo sự tham gia tự giác tích cực ở HS.Lựa chọn, vận dụng phối hợp những chiêu thức dạy học có hiệu quảQuá trình dạy học yên cầu GV và HS cần nổ lực tìm ra những giải pháp để dạy và học đạt hiệuquả ngày càng cao, trong đó, việc GV vận dụng giải pháp dạy học phù họp với nhu yếu, trình độ và những đặc thù tâm lí khác của lứa tuổi HS THCS nhằm mục đích phát huy tính tự giác, tínhtích cực dữ thế chủ động học tập của HS đuợc coi là một giải pháp tốt nhất. Mỗi giải pháp dạy họccó ưu điểm, điểm yếu kém khác nhau và sự tương thích với nội dung khác nhau, do đó GV cần phốihợp những chiêu thức dạy học nhằm mục đích kêu gọi tới cả cao nhất tính tích cực học tập của HS, tạo quan hệ học tập hợp tác, san sẻ trong môi trường tự nhiên nhóm lớp của HS.Khi lựa chọn, vận dụng, phối hợp giải pháp dạy học, GV cần quan tâm : Nội dung cơ bản của bài học kinh nghiệm, đặc thù trình độ nhận thức của HS, điều kiện kèm theo Giao hàng chodạy học, năng lượng của bản thân để phong cách thiết kế và tổ chức triển khai bài học kinh nghiệm trong môi trường học tập thânthiện, hiệu suất cao. Xây dựng quan hệ sư phạm mang tính chuẩn mựcĐể thiết kế xây dựng một môi trường học tập thân thiện nhằm mục đích khai thác mặt giá trị và cảm hứng củaHS trong qua trình học tập thì những mối quan hệ trong dạy học có vai trò quyết định hành động. Quan hệgiữa GV với HS, giữa cá thể HS với nhau, giữa cá thể với nhóm, giữa nhóm và cả lớp đượcphát triển theo khuynh hướng tăng cường sự tương tác, hợp tác và cạnh tranh đối đầu, tham gia và san sẻ. Nhà trường cần tăng cường kiến thiết xây dựng những mối quan hệ sư phạm chuẩn mực giữa GV với đồngnghiệp, giữa GV với HS, giữa HS với GV và HS với HS. .. Tính chuẩn mực trong quan hệ sưphạm phải trở thành nét văn hoá truyền thống cuội nguồn của nhà trường, có công dụng tạo động lực chohoạt động dạy và học tăng trưởng. MODULE THCS 6 : ( 15 tiết ) XÂY DỰNG MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞMỤC TIÊU1. Mục tiêu chungGiúp giáo viên THCS nắm vững những kỹ năng và kiến thức lí thuyết và có những kĩ năng thành thạotrong việc thiết kế xây dựng môi trường học tập tốt đẹp, hiệu suất cao cho học viên. 2. Mục tiêu đơn cử * Kiến thức : – Trình bày được những giải pháp thiết kế xây dựng môi trường học tập cho học viên THCS. – Nắm vững phương pháp update, xử lí và sử dụng thông tin về môi trường tự nhiên giáo dục vào quá trìnhdạy học và giáo dục học viên THCS. * Kĩ năng : – Sử dụng tri thức của module này để nghiên cứu và điều tra những module tiếp theo và xử lý tốt những vấnđề trong thực tiển giáo dục ở cấp THCS lúc bấy giờ. – Có kĩ năng sử dụng những giải pháp và kĩ thuật để tạo dựng môi trường học tập cho học sinhTHCS, đặc biệt quan trọng là môi trường học tập tân tiến tương thích với đặc thù hoạt động giải trí dạy học củacác nhà trường THCS lúc bấy giờ. – Kĩ năng update và sử dụng thông tin về môi trường tự nhiên giáo dục vào quy trình giáo dục và dạyhọc học viên THCS để đạt được hiệu suất cao tối ưu. * Thái độ : – Có thái độ học tập theo nội dung và quy trình tiến độ triển khai module một cách khoa học, độc lập, tích cực và phát minh sáng tạo. – Có nhận thức và nhìn nhận đúng về tầm quan trọng của việc kiến thiết xây dựng môi trường học tập choTHCS. – Có nguyện vọng và quyết tâm vận dụng những tri thức đã học vào thực tiển hoạt động giải trí dạy học, giáodục của bản thân ở hiện tại và tương lai. Môi trường học tập là những yếu tố có tác động ảnh hưởng đến quy trình học tập của HS gồm có : – Môi trường vật chất : Là khoảng trống dìễn ra quy trình dạy học gồm có vật dụng dạy học nhưbảng, bàn và ghế, sách vở, nhiệt độ ánh sáng, âm thanh, không khí … – Môi trường niềm tin : Là mối quan hệ giữa GV với HS, HS với HS, giữa nhà trường – mái ấm gia đình – xã hội … Các yếu tố tâm lí như động cơ, nhu yếu, hứng thú, tính tích cực học tập của HS vàphong cách, chiêu thức giảng dạy của GV trong thiên nhiên và môi trường nhóm, lớp. Môi trường học tập rất phong phú, cần được tạo ra ở nhà trường, mái ấm gia đình, xã hội. Môi trường sưphạm là tập hợp những con người, phương tiện đi lại bảo vệ cho việc học tập đạt hiệu quả tốt. Môitrường sư phạm là nội dung cơ bản của thiên nhiên và môi trường nhà trường. Như vậy, môi trường học tập là hàng loạt những yếu tố vật chất, khoảng trống và thời hạn, tình cảm và tinhthần – nơi HS đang sinh sống, lao động và học tập, có ảnh hưởng tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự hình nhâncách của HS tương thích với mục tiêu giáo dục. – Môi trường học tập theo truyền thống cuội nguồn : Nhà trường là môi trường tự nhiên đơn độc yên bình và trật tự. Bầukhông khí này là tác dụng của áp lực đè nén theo định nghĩa hẹp của nền giáo dục chính quy, cửa vào giới hạncho 1 số ít người và theo phong thái giáo huấn, mô phạm ( nói, nghe ) so với việc học tập. – Trường học thay đổi có cơ cấu tổ chức tổ chức triển khai trọn vẹn trái ngược với phong thái truyền thống lịch sử. chúng thường được lan rộng ra hơn, ồn ào hơn và đôi lúc như những TT với những hoạt động giải trí. Các trường học như thế thường là hiệu quả của cả hai sự biến hóa : Định nghĩa trường học vàcách hiểu mới về điều kiện kèm theo thiên nhiên và môi trường để củng cố việc học. Có ba tiêu chuẩn để nhìn nhận môi trường học tập của nhà trường : Mối liên hệ giữa nhà trườngvới công đồng xung quanh, cấu trúc và cách sử dụng những tòa nhà và sân bãi, cách tổ chứckhông gian học lập trong tòa nhà. Dạy học có tính thụ độngDạy học có tính tích cực1. GV truyền đạt kiến thúc. 1. GV tổ chúc hướng dẫn HS lĩnh hội. 2. GV độc thoại và phát vấn. 2. Đối thoại GV – HS, HS – HS. 3. GV áp đặt kiến thúc cỏ sẵn. 3. HS hợp tác với GV khẳng định chắc chắn kiến thức và kỹ năng HS tìm ra. 4. Hs thụ động nhận thúc. 4. HS tự tìm ra kiến thức và kỹ năng bằng hành động của chính mình. 5. HS học thuộc lòng. 5. HS học cách học, cách xử lý yếu tố, cách sống và trưởngthành. 6. GV độc quyền nhìn nhận cho điểm cố 6. HS tự nhìn nhận, tự kiểm soát và điều chỉnh làm cơ sở để giáo viên chođịnh. điểm cơ động. – Nhà trường mong ước lan rộng ra những phản hồi của HS về quy trình học tập thường khuyếnkhích sự tham gia của hội đồng vào những hoạt động giải trí của nhà trường, khoảng trống mê hoặc vuivẽ, đầy sắc tố, sân trường được sử dụng thoáng đãng trong nhiều hoạt động giải trí … – Cuộc cách mạng trong thiết kế xây dựng trường học : Một tòa nhà sinh động, năng nổ biểu lộ mộttrung tâm học tập dữ thế chủ động, phát minh sáng tạo. – Không gian lớp học : Cách truyền thổng là sắp xếp phòng học sao cho tổng thể mọi cái nhìn và sựchú ý tập trung chuyên sâu vào người thầy, những hoạt động giải trí trùng khớp với cách sắp xếp đồ vật. Toàn bộ mạng lưới hệ thống môi trường học tập, thiên nhiên và môi trường dạy học, môi trường tự nhiên giáo dục trong trườngphải được tiếp cận mạng lưới hệ thống, đó là những quan hệ thầy – trò, quan hệ trò – trò, quan hệ nhóm lớpcủa HS, quan hệ của HS với nhà quản lí, mà thực chất của những mối quan hệ là dựa trên quan hệpháp luật, nhân văn, đạo đức, hội đồng hợp tác. Học tập là hoạt động giải trí quan trọng của lứa tuổi học viên THCS. Hiệu quả học tập của học sinhphụ thuộc khá lớn vào MTHT. Bởi vậy, việc kiến thiết xây dựng MTHT cho học viên là một việc làmquan trọng để hoàn thành xong những tiềm năng đặt ra cho cấp học. Đặt nền móng vững chãi cho việchình thành và tăng trưởng nhân cách học viên THCS. * Các giải pháp kiến thiết xây dựng MTHT mang tính truyền thống lịch sử cho học viên THCS : Biện pháp 1 : Kết hợp ngặt nghèo giữa giáo dục nhà trường, mái ấm gia đình, xã hội. – Giáo dục đào tạo có nhiều lực lượng tham gia trong đó có 3 lực lượng quan trọng nhất : Gia đình – nhà trường – xã hội. – Gia đình là nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ nhỏ. Giáo dục đào tạo mái ấm gia đình dựa trên tình cảmhuyết thống, những thành viên gắn bó với nhau trong suốt cuộc sống. – Giáo dục đào tạo xã hội là giáo dục trong môi trường tự nhiên nơi trẻ sinh sống. Mỗi địa phương có trình đọphát triển, đặc trưng có truyền thống cuội nguồn và truyền thống văn hóa truyền thống riêng. – Tuy nhiên quy trình giáo dục phải lấy nhà trường làm TT. Giáo dục đào tạo nhà trường có mụcđích và nội dung giáo dục tổng lực. Biện pháp 2 : Tạo thiên nhiên và môi trường tương tác giữa người dạy – người học ; người học – người họcqua việc sử dụng PP dạy học tích cực. Dạy học phát huy tính tích cực nhận thức của người học dựa trên quan điểm : “ Dạy học lấyhoạt động của người học làm TT ”. Dạy học cần khai thác tối đa tiềm năng của ngườihọc ; Dạy học tạo ra cho người học một môi trường tự nhiên để họ hoàn toàn có thể tự mày mò. Môi trường đógồm những thành tố : – Các hình thức học tập phong phú. – Nội dung học tập tương thích với năng lực, thiên hướng của người học. – Quan hệ thày trò, bạn hữu với niềm tin hợp tác dân chủ. Giáo viên đóng vai trò chủ đạ, là người tổ chức triển khai hướng dẫn, học viên tự tìm hiểu và khám phá, tự phát hiệnvà xử lý yếu tố. Người học là chủ thể của hoạt động học, tự tìm ra kiến thức và kỹ năng bằng hànhđộng của chính mình. Biện pháp 3 : Sử dụng tích hợp những hình thức tổ chức triển khai dạy học trong quy trình dạy học. + Hình thức dạy học trên lớp. + Hình thức dạy học ngoài lớp. + Hình thức dạy học theo nhóm. + Hình thức dạy học cá thể. * Các giải pháp kiến thiết xây dựng môi trường học tập tân tiến cho học viên THCS có ứng dụng CNTT : Công nghệ thông tin tạo ra một cuộc cách mạng mở : + Yếu tố thời hạn không còn là một ràng buộc. Việc học cá thể hóa tùy thuộc vào mục đíchcủa từng người. + Người học hoàn toàn có thể tham gia vào giờ giảng ngoài khoảng trống của trường. + Người học không chỉ thu nhận thông tin mà còn học cách sở hữu thông tin tùy theo nhucầu và biến nó thành kiến thức và kỹ năng của mình trải qua việc khai thác, giải quyết và xử lý, sử dụng những nguồnthông tin đa chiều. + Tăng cường năng lực năng lực trao đổi giữa người dạy và người học ; Người học – ngườihọc : Việc sử dụng forum hay E-Mail được cho phép Giáo viên và học viên trao đổi ngoài thời giangiảng dạy, những học viên cũng thuận tiện trao đổi với nhau. Như vậy bất kể ai chăm sóc đến vấn đềnày cũng có hoàn toàn có thể tìm hiểu thêm, khai thác những kỹ năng và kiến thức của những thành viên tham gia vào quátrình học tập. + Có tính mê hoặc cao vì trong những bài giảng tích hợp văn bản, đồ họa, âm thanh. Bởi thế ngườihọc hoàn toàn có thể thu nhận thông tin qua nhiều giác quan tạo sự hưng phấn. Tất cả hình thức tổ chức triển khai dạy học được sử dụng ở trường THCS đã nêu trên có liên hệ mật thiết vớinhau, tương hỗ lẫn nhau. Mọi hình thức tổ chức triển khai dạy học có tính năng và vai trò nhất định trong quá trìnhdạy học ở trường đại trà phổ thông, tuy nhiên hình thức dạy học trên lớp là hình thức tổ chức triển khai dạy học cơ bản. Chính thế cho nên muốn kiến thiết xây dựng môi trường học tập mang tính truyền thống cuội nguồn cho học viên trung học cơ sởthì cần phải nắm rõ và thay đổi PPDH. – Đổi mới PPDH là sự nâng cấp cải tiến hoàn thành xong những giải pháp dạy học đang sử dụng để góp thêm phần nâng caochất lượng và hiệu suất cao dạy học ; là việc bổ trợ phối hợp nhiều chiêu thức để khắc phục mặt hạn chếcủa những chiêu thức dạy học đang sử dụng nhằm mục đích đạt được tiềm năng dạy học đã đề ra, đồng thời là sựthay thế chiêu thức đang sử dụng bằng chiêu thức dạy học mới tối ưu, phối hợp với việc sử dụngcác phương tiện đi lại, trang thiết bị dạy học tân tiến từ đó hình thành nên những ‘ ‘ kiểu ” dạy – học mới vớimong muốn đem lại hiệu suất cao cao hơn. Cho dù thay đổi ở mức độ nào thì việc dạy học cũng phải hướngđến “ lấy người học làm TT ”. Thực hiện có hiệu suất cao mục tiêu ‘ ‘ học song song với hành ”, ‘ ‘ lýluận gắn với thực tiễn ” phải khai thác tối đa kinh nghiệm tay nghề của người học. Đổi mới PPDH là sự sử dụnghợp lý, phát minh sáng tạo cách dạy, cách truyền thụ để học viên dễ hiểu, dễ tiếp thu nhất từ đó giúp người họcvừa nắm chắc kỹ năng và kiến thức, vừa có kiến thức và kỹ năng thực hành thực tế. – Chỉ có thay đổi PPDH mới là động lực làm đổi khác cơ bản chất lượng giảng dạy nguồn nhân lực toàndiện cung ứng được nhu yếu CNH, HĐH đặt ra. Sử dụng hài hòa và hợp lý những phương tiện đi lại dạy học truyền thống cuội nguồn, đa phương tiện nhằm mục đích góp thêm phần kêu gọi tối đa những giác quan của người học, tham gia vào quá trìnhdạy học. – Cần phải không cho chu đáo, tạo chuyển biến trong nhận thức của gv, phải xem thay đổi PPDH là mộtyêu cầu cấp thiết và cũng là một hoạt động giải trí khoa học phát minh sáng tạo để nâng cao chất lượng hiệu suất cao dạy họccủa người giáo viên. Đây là nhu yếu của sự nghiệp thay đổi giáo dục, huấn luyện và đào tạo nói chung và sự nghiệpgiáo dục ở nhà trường nói riêng nhằm mục đích nâng cao chất lượng giảng dạy. Mặt khác, cần coi đây là thách thứcmà đội ngũ giáo viên cần phải cung ứng nhưng cũng là thời cơ tăng trưởng của mỗi giáo viên và của mỗinhà trường. * Các giải pháp dạy học truyền thống cuội nguồn luôn là những giải pháp quan trọng trongdạy học. Đổi mới không có nghĩa là vô hiệu những giải pháp truyền thống cuội nguồn mà cần bắtđầu bằng việc nâng cấp cải tiến để nâng cao hiệu suất cao và hạn chế điểm yếu kém của chúng. 1. Cải tiến những chiêu thức dạy học truyền thống cuội nguồn. Để nâng cao hiệu suất cao của những giải pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắmvững những nhu yếu và sử dụng thành thạo những kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị sẵn sàng cũngnhư thực thi bài lên lớp, ví dụ điển hình như kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình diễn, lý giải trongkhi thuyết trình, kỹ thuật đặt những câu hỏi và giải quyết và xử lý những câu vấn đáp trong đàm thoại, hay kỹ thuậtlàm mẫu trong rèn luyện. 2. Kết hợp phong phú những giải pháp dạy học. Không có một chiêu thức dạy học toàn năng tương thích với mọi tiềm năng và nội dung dạy học. Mỗi chiêu thức và hình thức dạy học có những ưu, điểm yếu kém và số lượng giới hạn sử dụng riêng. Vìvậy việc phối hợp phong phú những chiêu thức và hình thức dạy học trong hàng loạt quy trình dạyhọc là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học thành viên là những hình thức xã hội củadạy học cần tích hợp với nhau, mỗi một hình thức có những tính năng riêng. Tình trạng độc tôncủa dạy học toàn lớp và sự lạm dụng giải pháp thuyết trình cần được khắc phục, đặc biệtthông qua thao tác nhóm. 3. Vận dụng dạy học xử lý yếu tố. Dạy học xử lý yếu tố ( dạy học nêu yếu tố, dạy học phân biệt và xử lý yếu tố ) là quanđiểm dạy học nhằm mục đích tăng trưởng năng lượng tư duy, năng lực nhận ra và xử lý yếu tố. Họcđược đặt trong một trường hợp có yếu tố, đó là trường hợp tiềm ẩn xích míc nhận thức, trải qua việc xử lý yếu tố, giúp học viên lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kiến thức và giải pháp nhậnthức. Dạy học xử lý yếu tố là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của họcsinh, hoàn toàn có thể vận dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của họcsinh. 4. Vận dụng dạy học theo trường hợp. Dạy học theo trường hợp là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức triển khai theomột chủ đề phức tạp gắn với những trường hợp thực tiễn đời sống và nghề nghiệp. Quá trình họctập được tổ chức triển khai trong một môi trường học tập tạo điều kiện kèm theo cho học viên thiết kế tri thức theocá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập. Các chủ đề dạy học phức tạp là những chủ đề có nội dung tương quan đến nhiều môn học hoặclĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, những môn học được phân theocác môn khoa học trình độ, còn đời sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phứchợp. Vì vậy sử dụng những chủ đề dạy học phức tạp góp thêm phần khắc phục thực trạng xa rời thực tiễncủa những môn khoa học trình độ, rèn luyện cho học viên năng lượng xử lý những yếu tố phứchợp, liên môn. Phương pháp điều tra và nghiên cứu trường hợp là một chiêu thức dạy học nổi bật của dạy học theotình huống, trong đó học viên tự lực xử lý một trường hợp nổi bật, gắn với thực tiễnthông qua thao tác nhóm. 5. Vận dụng dạy học khuynh hướng hành vi. Dạy học xu thế hành vi là quan điểm dạy học nhằm mục đích làm cho hoạt động giải trí trí óc và hoạtđộng chân tay tích hợp ngặt nghèo với nhau. Trong quy trình học tập, học viên thực thi những nhiệmvụ học tập và triển khai xong những loại sản phẩm hành vi, có sự tích hợp linh động giữa hoạt động giải trí trítuệ và hoạt động giải trí tay chân. Đây là một quan điểm dạy học tích cực hóa và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướnghành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực thi nguyên tắc giáo dục kết hợp lý thuyết vớithực tiễn, tư duy và hành vi, nhà trường và xã hội. 6. Tăng cường sử dụng phương tiện đi lại dạy học và công nghệ thông tin hài hòa và hợp lý tương hỗ dạy học. Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc thay đổi giải pháp dạy học, nhằm mục đích tăngcường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành thực tế trong dạy học. Việc sử dụng những phương tiệndạy học cần tương thích với mối quan hệ giữa phương tiện đi lại dạy học và chiêu thức dạy học. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện đi lại dạy họctrong dạy học văn minh. Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiều năng lực ứng dụngtrong dạy học. Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như một phương tiện đi lại trình diễn, cần tăngcường sử dụng những ứng dụng dạy học cũng như những giải pháp dạy học sử dụng mạng điệntử ( E-Learning ). 7. Sử dụng những kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạoKỹ thuật dạy học là những phương pháp hành vi của của giáo viên và học viên trong những tìnhhuống hành vi nhỏ nhằm mục đích thực thi và điều khiển và tinh chỉnh quy trình dạy học. Các kỹ thuật dạy học lànhững đơn vị chức năng nhỏ nhất của chiêu thức dạy học. Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc trưng của từng chiêu thức dạy học, vídụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng tăng trưởng và sử dụng cáckỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, phát minh sáng tạo của người học như “ động não ”, “ tia chớp ”, “ bể cá ”, XYZ, Bản đồ tư duy … 8. Chú trọng những chiêu thức dạy học đặc trưng bộ môn. Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học. Vì vậy bên cạnhnhững giải pháp chung hoàn toàn có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thì việc sử dụng cácphương pháp dạy học đặc trưng có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các phương phápdạy học đặc trưng bộ môn được thiết kế xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn. Ví dụ : Thí nghiệm là một giải pháp dạy học đặc trưng quan trọng của những môn khoa học tựnhiên ; những giải pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tíchsản phẩm kỹ thuật, phong cách thiết kế kỹ thuật, lắp ráp quy mô, những dự án Bất Động Sản là những phương pháp chủ lựctrong dạy học kỹ thuật ; chiêu thức “ Bàn tay nặn bột ” đem lại hiệu suất cao cao trong việc dạyhọc những môn khoa học ; … 9. Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học viên. Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa, phát huytính phát minh sáng tạo của học viên. Có những giải pháp nhận thức chung như chiêu thức tích lũy, giải quyết và xử lý, nhìn nhận thông tin, giải pháp tổ chức triển khai thao tác, chiêu thức thao tác nhóm, cónhững phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần rèn luyện cho học viên những phương pháp học tập chung vàcác phương pháp học tập trong bộ môn. Tóm lại có rất nhiều phương hướng thay đổi chiêu thức dạy học với những cách tiếp cậnkhác nhau, trên đây chỉ là 1 số ít phương hướng chung. Việc thay đổi chiêu thức dạy học đòihỏi những điều kiện kèm theo thích hợp về phương tiện đi lại, cơ sở vật chất và tổ chức triển khai dạy học, điều kiện kèm theo vềtổ chức, quản trị. Môi trường học tập thụ độngMôi trường học tập văn minh tích cựcTruyền thụ lấy người dạy làm trung – Học lấy hoạt động giải trí của người học làm TT. tâm. – Kích thích đơn giác quan. – Kích thích đa giác quan. – Hướng tăng trưởng một chiều. – Hướng tăng trưởng đa chiều. – Đơn phuơng tiện, đơn năng. – Đa phuơng tiện, đa năng. – Lam việc riêng không liên quan gì đến nhau, thành viên. – Làm việc hợp tác, tương tác. – Truyền tải thông tin. – Trao đổi thông tin. – Học tập thụ động. – Học tập tích cực, tìm tòi, mày mò. – Học sụ kiện, học dựa trên những tri – Học dựa trên tư duy phê phán, phát minh sáng tạo bằng việc đưathức có sẵn. ra quyết định hành động. – Dạy học dựa trên những phản ứng – Dạy học thích ứng dựa trên những hoạt động giải trí có chủđáp lại, tái tạo theo mẫu. định. – Tình huống tách biệt, không th tế. – Tình huống thực tiễn, xác nhận. * Các giải pháp dạy học văn minh : 1. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC : Phương pháp tích cực để chỉ những giải pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ độngsáng tạo của người học. Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động giải trí hóa, tích cực hóa hoạtđộng nhận thức của người học nghĩa là tập trung chuyên sâu vào phát huy tính tích cực của người học chứkhơng phải là tâp trung vào người dạy. + Những tín hiệu đặc trưng của những giải pháp tích cực, có bốn tín hiệu cơ bản : – Dạy học thơng qua những hoạt động giải trí của học viên – Dạy học chú trọng rèn luyện chiêu thức tự học – Tăng cường học tập thành viên phối hợp với học nhóm – Kết hợp nhìn nhận của thầy với tự nhìn nhận của trò + Các chiêu thức dạy học tích cực : Có rất nhiều giải pháp dạy học trong đó có một sốnhóm giải pháp thường được sử dụng lúc bấy giờ đó là : – Phân nhóm những chiêu thức dùng lời : gồm có chiêu thức thuyết trình và phương phápvấn đáp ( đàm thoại ). – Phân nhóm những chiêu thức dạy học trực quan : Phân nhóm này gồm có giải pháp trìnhbày trực quan và chiêu thức quan sát. – Phân nhóm giải pháp dạy học thực hành thực tế : Phân nhóm PPDH thực hành thực tế gồm có phươngpháp rèn luyện, chiêu thức ơn tập, giải pháp cơng tác độc lập. – Ngồi ra, còn có một số ít giải pháp như : chương trình hóa, Algorit hóa … MỘT SỐ MƠ HÌNH THẢO LUẬN NHĨM NHỎMƠ HÌNH 1 : PHÁT BIỂU LẦN LƯỢTMỗi người được phát biểu trong mộtkhoảngthời gian nhất đònhMƠ HÌNH 2 : HIỆP Ý TAY ĐƠIHiệp ý theo từng đơi, sau đóđại diện từng đơi phát biểuMƠ HÌNH 3 : HỒN THIỆN TỪNG BƯỚCCá nhân sẵn sàng chuẩn bị  hiệp ý tay đơi  Hai cặp rà sốt  Cả nhóm hồn thiệnMƠ HÌNH 4 : CHIA SẺ GIỮA CÁC NHĨMDi : những người có cùng ký hiệu xây dựng nhóm riêngTái cấu trúc để có những nhóm mớII. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRỰC QUAN : Có thể chia giải pháp trực quan thành giải pháp trình diễn trực quan và phương phápquan sát. 1. Phương pháp trình diễn trực quan : – Đây là giải pháp sử dụng những phương tiện đi lại trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy họctrước, trong và sau khi nắm tài liệu mới trong khi ơn tập, củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra trithức, kiến thức và kỹ năng, kỹ xảo. – Có hai hình thức biểu lộ giải pháp trình diễn trực quan đó là : hình thức minh họa và hìnhthức trình diễn. Trong đó, hình thức minh họa thường tọa lạc những vật dụng trực quan cótính chất minh họa như bản mẫu, biểu đồ, bức tranh, tranh chân dung những nhà khoa học, hình vẽtrên bảng … Hình thức trình diễn thường gắn với việc trình diễn những thí nghiệm, những thiếtbị kỹ thuật, chiếu phim đèn chiếu, phim điện ảnh, băng video. Trình bày thí nghiệm là trình bàymơ hình đại diện thay mặt cho hiện thực khách quan được lựa chọn cẩn trọng về mặt sư phạm. – Thơng qua sự trình diễn thí nghiệm của gv mà hs khơng chỉ lĩnh hội dễ tri thức còn giúp họ họctập được những động tác mẫu mực của gv, nhờ vậy thuận tiện hình thành kỹ năng và kiến thức, kỹ xảo biểudiễn thí nghiệm. Ở trường phổ thơng, thí nghiệm hoàn toàn có thể do giáo viên hướng dẫn và do hs tiếnhành trong khi học bài mới hoặc rèn luyện trong phòng thí nghiệm. 2. Phương pháp quan sát : – Quan sát là sự tri giác có chủ định, có kế hoạch tạo năng lực theo dõi triển khai và sự biến đổidiễn ra trong đối tượng người tiêu dùng quan sát. Quan sát là hình thức cảm tính tích cực nhằm mục đích tích lũy nhữngsự kiện, hình thành những hình tượng khởi đầu về đối tượng người tiêu dùng của quốc tế xung quanh, quan sátgắn liền với tư duy. Quan Sát được học viên sử dụng khi giáo viên trình diễn phương tiện đi lại trựcquan, phương tiện đi lại dạy học hoặc khi học viên triển khai thao tác trong phòng thí nghiệm. Căn cứ vào phương pháp quan sát hoàn toàn có thể chia thành quan sát trực tiếp và quan sát gián tiếp. Căn cứ và thời hạn quan sát hoàn toàn có thể phân loại thành quan sát thời gian ngắn, quan sát dài hạn. Căn cứ vào khoanh vùng phạm vi quan sát hoàn toàn có thể phân ra quan sát tổng lực và quan sát góc nhìn. Căn cứ vào mức độ tổ chức triển khai quan sát hoàn toàn có thể phân loại thành quan sát tự nhiên và quan sát có bốtrí, sắp xếp. III. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ALGORIT HÓA : Algorit thường được hiểu là bản ghi đúng mực, tường minh tập hợp những thao tác sơ đẳng, đơn vị chức năng theo một trình tự nhất định ( tùy mỗi trường hợp đơn cử ) để xử lý bất kể yếu tố nàothuộc cùng một loại hay kiểu. – Các kiểu algorit dạy học : Có hai kiểu : Algorit nhận ra và Algorit biến đổiTrong algorit biến hóa hoàn toàn có thể tiềm ẩn những thao tác ( thậm chí còn cả algorit ) phân biệt. Ngượclại, một algorit nhận biết hoàn toàn có thể gồm có những thao tác ( hoặc algorit ) đổi khác. + Ba khái niệm cơ bản của phép tiếp cận algorit + Sự miêu tả dưới dạng algorit cấu trúc của hoạt động giải trí. + Bản ghi algorit của hoạt động giải trí. + Quá trình algorit của hoạt động giải trí. – Dạy học algorit là giải pháp dạy học tích cực. Với ý thức “ lấy học viên là TT củaquá trình dạy học. Phương pháp algorit có 3 đặc trưng cơ bản : + Tính xác lập : Những mệnh lệnh triển khai, những thao tác ghi trong algorit phải đơn trị, nghĩa là trọn vẹn xác lập ( có hay không, đúng hay sai, … ) phải loại trừ mọi ngẫu nhiên, tùytiện mơ hồ. Nội dung càng ngắn gọn càng tốt, nhưng nhất thiết phải dễ hiểu, ai cũng rõ nghĩacủa mệnh lệnh. Ngoài ra mệnh lệnh phải tương ứng với thao tác dạy học sơ đẳng, ai cũng thựchiện đúng, thuận tiện và như nhau. + Tính đại trà phổ thông : Người ta chỉ algorit hóa những hoạt động giải trí lặp đi lặp lại nhiều lần, mang tính đạitrà, phổ cập, thuộc cùng một thể loại nào đó như giải bài toán, thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ hóahọc … Không ai hoài công lập algorit cho một hoạt động giải trí riêng không liên quan gì đến nhau, chỉ diễn ra một vài lần. + Tính hiệu suất cao : Tính chất algorit là đối cực với đặc thù ơrixtic. Nếu sử dụng phương phápalgorit chắc như đinh sẽ hướng dẫn tới thành công xuất sắc, nghĩa là Tỷ Lệ đạt tác dụng của nó về kim chỉ nan, p = 12. Điều này trọn vẹn dễ hiểu, đó là vì algorit là quy mô cấu trúc đã biết của hoạt động giải trí, làbản ghi những mệnh lệnh thao tác để triển khai, là quy trình tiến hành đúng mực những mệnh lệnhđó. IV. PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC CHƯƠNG TRÌNH HÓA : – Quá trình học trong đó học viên tiến tới theo nhịp độ riêng của họ bằng cách dùng sách bàitập, sách giáo khoa hoặc những công cụ điện tử khác trong đó thông tin được phân phối theo từngbước rời rạc, kiểm tra việc học sau mỗi bước và cung ứng ngay thông tin phản hồi về tác dụng. – Các hình thức trình diễn bài học kinh nghiệm chương trình hóa : + Sử dụng văn bản tĩnh : Bài học được biên soạn thành file văn bản, học viên dùng phần mềmthích hợp để xem bài học kinh nghiệm trên máy tính. + Sử dụng dạng chương trình : Bài học được soạn thành dạng chương trình, học viên chạychương trình để học. + Dạng trình diễn đơn giản ( ví dụ trên PowerPoint ) : Bài giảng được đánh máy và phong cách thiết kế, chiếuđơn giản trên powerpoint + Dạng trình diễn cấp cao ( ví dụ trên Flash ) : lập trình trên flash, hể hiện rất tốt những dạng dữ liệutĩnh và động, năng lực lập trình để phản hồi thông tin khá mạnh. + Dạng website : Bài giảng được biên soạn ở dạng những website ( HTML, DHTML, JSP, ASP, Servlet … ) người học dùng máy tính với trình duyệt web bất kể để xem. – Phương pháp dạy học chương trình hóa hoàn toàn có thể giúp học viên tự học qua web, cạnh bên đó giáoviên hoàn toàn có thể hướng dẫn học viên sau đó đưa bài giảng cho học viên với nhiều hình thức trình bàykhác nhau ( trình diễn trên giấy, dạng powerpoint, … ) và trên cơ sở được giáo viên hướng dẫn vàbài giảng học viên hoàn toàn có thể tự học ở nhà. Lúc này người giáo viên chỉ đóng vai trò phụ và việc tựhọc của học viên là rất quan trọng và thiết yếu. Tóm lại, thay đổi PPDH gắn liền với sự tăng trưởng trình độ của đội ngũ GV. Khuyếnkhích động viên mỗi sự phát minh sáng tạo của GV, tạo ra chính sách hoạt động giải trí để GV hoàn toàn có thể vận dụng sángkiến vào thực tiễn. GV cần nâng cao trình độ, tu dưỡng nhiệm vụ trình độ về đổi mớiPPDH, về sử dụng phương tiện đi lại công nghệ tiên tiến vào dạy học. GV là yếu tố TT của quá trìnhđổi mới PPDH. /. MODULE THCS 7 ( 15 tiết ) : HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH. 1. Quan niệm về hướng dẫn tư vấn cho học viên. a / Hướng dẫn : – Là quy trình tác động ảnh hưởng có chủ định của chủ thể đến quy trình tăng trưởng tự nhiên của đối tượngđược hướng dẫn / trợ giúp nhằm mục đích làm cho người đó hiểu, chấm nhận và sử dụng được nhữngnăng lực, năng lực và những mối chăm sóc của mình trong việc đạt đến những tiềm năng phảithực hiện. – Là chỉ bảo, dẫn dắt, cho biết phương hướng, phương pháp triển khai một hoạt động giải trí nào đó. b / Tư vấn : – Là quy trình tác động ảnh hưởng có khuynh hướng của người tư vấn đến người được tư vấn nhằm mục đích đươa ranhững gợi mở, xu thế, những giải pháp xử lý khác nhau. Trên cơ sở đó, người được tưvấn hoàn toàn có thể tự tin lựa chọn giải pháp, cách xử lý trường hợp tương thích với bản thân, nhằmgiải quyết những khó khăn vất vả của trách nhiệm đặt ra. – Tư vấn là tiến trình tương tác giữa người tư vấn và người được tư vấn, trong đó người tư vấnsử dụng những kỹ năng và kiến thức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của mình giúp người được tư vấn thấu hiểuhoàn cảnh của mình và tự giải quyến yếu tố của mình. – Có thể nói ý niệm tư vấn bằng 4 chữ T : Tiến trình, tương tác, đồng cảm, tự xử lý. + Tiến trình : tư vấn cần một khoảng chừng thời hạn, hoàn toàn có thể không phải chỉ gặp gỡ 1 lần mà có khi rấtnhiều lần mới có tác dụng rỏ rệt. Tư vấn là triến trình bởi nó là một hoạt động giải trí có mỡ đầu, diếnbiến và có kết thúc. + Tương tác : Tư vấn không phải là người tư vấn khuyên bảo người được tư vấn phải làm gì màđó là cuộc trao đổi hai chiều. + Thấu hiểu : Tư vấn không phải là người được tư vấn nhận ra mình là ai, đang trong hoàn cảnhnào, có thế mạnh, điểm yếu nào, đã sử dụng những giải pháp nào cho trường hợp của mình, tạisao chưa có tác dụng, những cái được và cái mất khi sử dụng một giải pháp nào đó. + Tự xử lý : Tư vấn không quyết định hành động thay. Trên cơ sở đồng cảm thực trạng của mình, người được tư vấn xem xét, lựa chọn giải pháp nào tương thích nhất cho bản thân mình. 2. Các nghành nghề dịch vụ cần hướng dẫn, tư vấn cho học viên THCS.a / Hướng dẫn / tư vấn về giáo dục : – Giúp HS yếu, kém nhằm mục đích khắc phục hiện tượng kỳ lạ lưu ban, bỏ học. – Giúp HS trung bình duy trì và cải tổ lực học của bản thân. – Giúp HS khá nâng cao sự văn minh của họ. b / Hướng dẫn / Tư vấn về ứng xử xã hội : – Giúp HS tháo gở những vướng mắc riêng tư có quan hệ tới nhu yếu cá thể, quan hệ vớingười khác. – Giúp HS hiểu được bản thân mình – Có kĩ năng sống chung với người khác. – Tình yêu, giới tính và quan hệ với bạn khác giới. – Quan hệ, tiếp xúc, ứng xử với mái ấm gia đình, giáo viên và bạn hữu. c / Hướng dẫn / tư vấn về phương pháp học tập. d / Hướng dẫn / tư vấn về tham gia những hoạt động giải trí xã hội. e / Hướng dẫn / tư vấn về thẩm mĩ. f / Hướng dẫn / tư vấn về tai hại của game trực tuyến. g / Hướng dẫn / tư vấn về quyền lợi cũng như mối đe dọa của những trang mạng xã hội. h / Hướng dẫn / tư vấn về nghề nghiệp. MODULE THCS 8 ( 15 tiết ) : PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT HƯỚNG DẪN, TƯ VẤN CHO HỌC SINH THCS1. Phương pháp hướng dẫn, tư vấn. a / Quy trình : Ngườ được tư vaánPhân tích sự kiệnHiểu bản chấtXđ vđề khó giải quyeátKhoù ra quyeát ñònhXđ rỏ vđề cần hỏiMô ta hoàn cảnhNêu y / c tư vaánĐặt câu hỏiChưa rỏPtích tình huốngNgười tư vấnĐã rỏChuẩn bị nd trả lờiTrả lời-Với người được tư vấn : để hoàn toàn có thể đưa ra được câu hỏi rỏ ràng, đúng thực chất cần thực hiệntheo những bước sau đây : + Bước1 : Phân tích sự kiện : Bước này đóng vai trò quan trọng nhằm mục đích hiểu rỏ thực chất của tìnhhuống, sự kiện mà người được tư vấn đang đương đầu. Sự kiện, trường hợp được xem xét, phântích kĩ lưỡng dưới nhiều góc nhìn khác nhau trong mối liên hệ đa chiều. + Bước 2 : Xác định yếu tố chăm sóc, khó xử lý, ra quyết định hành động : Đây là quá trình tìm kiếmvấn đề cần hỏi trong sự kiện, tính huống đã nghiên cứu và phân tích ở bước 1. trong một tình huông, sự kiệncó thể xác lập nhiều hơn 1 yếu tố cần hỏi. + Bước 3 : Nêu nhu yếu cần được tu vấn : Kết quả của bước này là nội dung cần được tư vấn gửitới người tư vấn. Yêu cầu tư vấn hoàn toàn có thể được cấu trúc thành hai phần đó là mô ta thực trạng vàcâu hỏi. – Với người tư vấn : Để vấn đáp đúng chuẩn câu hỏi, cung ứng mục tiêu của người được tư vấn, người tư vấn cần triển khai vấn đáp thắc mắc theo những bước sau đây : + Bước 1 : Phân tích trường hợp, câu hỏi cần tư vấn. Mục tiêu của bước này là làm rỏ điều người được tư vấn muốn hỏi, hiểu rỏ toàn cảnh, Open câu hỏi cần tư vấn, có 2 năng lực xảy ra : * Nêu người tư vấn đã hiểu rỏ câu hỏi, đã rỏ thực trạng, đủ thông tin để đưa ra câu trảlời thì chuyển sang bước 2. * Nếu nguồi tư vấn chưa hiểu thắc mắc, chưa rỏ tính huống tiềm ẩn câu hỏi. Người tưvấn cần trao đổi thêm với người được tư vấn để làm rỏ hoặc biết thêm thông tin làm địa thế căn cứ đểđưa ra câu vấn đáp tốt nhất. + Bước 2 : Chuẩn bị câu vấn đáp : Nội dung câu vấn đáp phải được sẵn sàng chuẩn bị trước. Trong trườnghợp người tư vấn vẫn chưa vững tin khi vấn đáp, hoàn toàn có thể tìm hiểu thêm thêm quan điểm của đồng nghiệphay nhà tư vấn khác. + Bước 3 : Trả lời : đưa ra hướng dẫn hoặc giải pháp để người được tư vấn vận dụng / tham khảođể xử lý yếu tố. b / Tiến trình của một ca tư vấn : – 6G – G1 : Gặp gở, niềm nở đón rước, tạo ra rự tin cậy, cởi mở thân thiện ngay từ bắt đầu. – G2 : Gợi hỏi thông tin, điều gì làm người tư vấn lo ngại, yếu tố của họ là gì ? Tại sao họ lại cầnđến tư vấn ? Đã có những giải pháp nào cho thực trạng bản thân, hiệu quả thế nào ? Họ mongmuốn nhất điều gì khi đến với người tư vấn. – G4 : Giúp đở để người được tư vấn hiểu rỏ hơn thực trạng của bản thân, từ đó cung nhau thảoluận và lựa chọn những giải pháp tương thích. – G5 : Giải thích cho người được tư vấn hiểu rỏ hơn giải pháp mà họ đã lựa chọn, cũng nhưnhững điều cần lường trước khi lựa chọn giải pháp này. – G6 : Gặp lại : Tư vấn không bó hẹp trong một lần gặp gỡ, thế cho nên sau mỗi buổi gặp gỡ người tưvấn cần tóm tắt nội dung cơ bản đã trao đổi, nhắc nhỡ người được tư vấn tâm lý, hành độngvà nếu thiết yếu phải gặp lại thì cần dặn dò, hẹn với họ để họ yên tâm hơn. c / Các hình thức hướng dẫn tư vấn : – Hướng dẫn / tư vấn trực tiếp : mặt đối mặt. – Hướng dẫn / tư vấn gián tiếp : qua điện thoải, thư từ, mạng … – Hướng dẫn / tư vấn cá thể : giữa hai người với nhau. – Hướng dẫn tư vấn hội đồng : Nói truyện về truyền thống lịch sử, Học nội quy nhà trường, phươngpháp học tập bộ môn, giao lưu giữa những lớp, khối. 2. Những kĩ thuật cơ bản trong hướng dẫn, tư vấn cho học viên. – K1 : Lắng nghe – K2 : Khai thaoc1 thông tin từ người được tư vấn bằng mạng lưới hệ thống những thắc mắc ( gồm có câu hỏiđóng, câu hỏi mở, câu hỏi dẫn dắt ). – K3 : Kĩ năng phản hồi. + Phản hồi là việc nhắc lại, tóm tắt, diễn đạt những gì mình nghe, cảm nhận từ người được tưvấn. + Có 2 loại phản hồi là phản hồi thông tin và phản hồi tâm trạng, xúc cảm. – K4 : Kĩ năng cung ứng thông tin. Cung cấp thông tin dười nhiều hình thức, thông tin phải cậpnhât, tương quan đến câu truyện của người được tư vấn. Không phân phối những thông tin tuyđúng nhưng lại mang lại lo ngại hoang mang lo lắng có hại cho người được tư vấn – K5 : Kĩ năng thông thường hóa yếu tố ( không phải tầm thường hóa ) khi người được tư vấn lolắng thái quá, hay nhìn nhận yếu tố của mình quá nặng nề. Người tư vấn cần biến bình thườnghóa yếu tố để họ yên tâm. – K6 : Kĩ năng chia nhỏ yếu tố : Khi người được tư vấn đến với nhà tư vấn thường mang tronglòng quá nhiều nỗi lo, trong câu truyện của họ có quá nhiều yếu tố cần xử lý. Nhưngkhông ai hoàn toàn có thể cùng lúc xử lý mọi yếu tố, thế cho nên nhà tư vấn cần giúp họ xác lập vấn đềnào quan trọng, ưu tiên xử lý số 1. – K7 : Kĩ năng tóm tắt yếu tố. Cuộc tư vấn hoàn toàn có thể lê dài nhiều giờ, người tư vấn và ngườiđược tư vấn hoàn toàn có thể trao đổi nhiều việc. Vì vậy cuối buổi tư vấn, người tư vấn cần tóm tắt lạinhững nét chính của bổi tư vấn hôm ấy để họ nắm bắt được tốt hơn. – K8 : Kĩ năng kể chuyện. Đôi khi trải qua một câu truyện của người khác, hay do người tưvấn “ sáng tác ”, ngừoi được tư vấn rút ra được những bài học kinh nghiệm cho bản thân một cách tự nhiên, không cần gò bó, miển cưởng. Nhưng lựa chọn chuyện và cáh kể cần rất là khôn khéo, tránh đểhọ nghĩ người tư vấn là một người “ hay đưa chuyện ”. 3. Yêu cầu so với giáo viên THCS trong vai trò người hướng dẫn, tư vấn cho học viên. – Nắm vững về nghành nghề dịch vụ tư vấn. – Tin tưởng, tôn trọng sở trường thích nghi và năng lực của học viên. – Biết lắng nghe, chi sẽ, thân thiện yêu quý con người. – Kiên trì, khách quan. – Chân thật, tế nhị, khôn khéo. – Công bằng, không vụ lợi. – Khoan dung, độ lượng. … … … … … … … … … …., ngày … … .. tháng …. năm 20NG ƯỜI LÀM … … … … … … … … … … … .

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập