MODULE 5 BDTX MN THEO THÔNG tư 12 – Tài liệu text

MODULE 5 BDTX MN THEO THÔNG tư 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (434.44 KB, 33 trang )

module GVMN 5: Hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ của GVMN
I. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ GVMN.
II. Yêu cầu, nội dung, phương pháp tự bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ của người GVMN.
III. Hướng dẫn thực hiện các hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ của người GVMN đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp.
………………….OOOOOOOOOOOOOOOO…………………
I. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghi ệp v ụ
GVMN.
1. Ý nghĩa của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ GVMN
Thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh và trí tuệ, giáo dục mầm non cũng cần
có chuyển biến mới về chất lượng. Việc đổi mới về nội dung, ph ương pháp
dạy học được đặt ra không chỉ đối với bậc học mầm non mà là trong toàn bộ
hệ thống giáo dục. Trong đó nhân tố quyết định chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ là đội ngũ giáo viên. Bởi lẽ để trẻ có thể phát triển tồn diện, có nhân
cách tốt hay khơng đều phụ thuộc vào việc chăm sóc trẻ ngay t ừ l ứa tu ổi
mầm non. Giáo dục trẻ không chỉ thông qua lời nói, c ử ch ỉ hay m ột hành đ ộng
đơn thuần nào đó của con người mà vấn đề là ở ch ất lượng c ủa m ột quá
trình chăm sóc giáo dục trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non trong các nhà
trường. Trước tình hình đó, việc bồi dưỡng chuyên môn cho đ ội ngũ giáo viên
là một yêu cầu cấp bách, là điều kiện tiên quyết nhằm khẳng định sự tồn tại
và xây dựng “thương hiệu” của nhà trường. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nói
chung và giáo viên mầm non nói riêng được xem nh ư là m ột “nút bấm” tạo
sự chuyển biến cho cả hệ thống giáo dục quốc dân.

Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trị quyết định trong vi ệc chăm sóc giáo d ục
trẻ ở các trường mầm non vì vậy bất kỳ người quản lý nào đ ều suy nghĩ “làm
thế nào để trường mầm non trở thành một nhà trường phát triển tốt?”. Muốn

thế trước hết phải có đội ngũ mạnh, vững về chun mơn và điều đó khơng
thể bỏ qua việc bồi dưỡng chuyên môn cho lực lượng cán bộ giáo viên. M ục
tiêu của công tác bồi dưỡng là nhằm hồn thiện q trình đào tạo, khắc ph ục
những thiếu sót lệch lạc trong cơng tác giảng dạy, về quan đi ểm, n ội dung
phương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu của xã h ội.
Trên thực tế hiện nay, đội ngũ giáo viên mầm non đều được đào tạo theo
đúng chuyên môn của ngành học. Song do trình độ tiếp thu, năng l ực, năng
khiếu, điều kiện của mỗi giáo viên một khác: một số giáo viên giáo viên tr ẻ
mới ra trường lại có con nhỏ nên việc thích ứng với ch ương trình m ới còn
chậm chạp, qua loa, chưa đồng bộ; một số giáo viên theo học các lớp đào t ạo
của hệ liên kết, tại chức nên phương pháp dạy trẻ còn nhiều h ạn chế, ngh ệ
thuật và kinh nghiệm giảng dạy chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi m ới,
dẫn đến chất lượng giáo dục chưa đồng đều. Bên cạnh đó ph ụ huynh thi ếu
quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ do điều kiện kinh tế khó khăn
hoặc khơng có nhiều thời gian để chăm sóc giáo dục con. Mặt khác c ơ s ở v ật
chất của nhà trường còn hạn chế do diện tích tồn trường q hẹp, ch ưa đáp
ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục. Vì vậy việc nâng cao ch ất l ượng giáo d ục
trẻ nhằm thực hiện tốt chất lượng giáo dục, tiếp cận đổi mới giáo d ục mầm
non, giúp trẻ phát triển một cách tồn diện là hết sức c ần thiết.
2. Vai trị của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ GVMN
– Bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường là công việc mang tính chiến l ược,
phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài để xây d ựng đ ội ngũ giáo viên đ ủ
về số lượng, phù hợp về cơ cấu và có chất lượng cao. Mặt khác, cơng tác b ồi
dưỡng giáo viên mang tính cấp bách bởi nhà tr ường phải th ực hi ện ngay
những yêu cầu của năm học, những chỉ đạo của ngành nh ằm nâng cao ch ất
lượng giáo dục như đổi mới chương trình, phương pháp dạy h ọc…

– Công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ đẩy mạnh sự phát tri ển v ề chuyên môn
nghiệp vụ của tất cả giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà

trường. Tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng sẽ giúp cho giáo viên thu ận
lợi khi tiếp cận với chương trình mới, có thái độ tích cực v ới nh ững thay đ ổi
nhanh chóng của thời đại.
– Bồi dưỡng dưới nhiều hình thức phong phú đặc biệt là hình th ức bồi dưỡng
tại trường sẽ góp phần xây dựng tinh thần cộng tác, làm việc theo t ổ, nhóm
chun mơn trong nhà trường. Đẩy mạnh cơng tác đào tạo, bồi d ưỡng sẽ
khuyến khích giáo viên làm việc chăm chỉ, tích c ực đ ể th ực hi ện t ốt nhi ệm v ụ
của mình.
– Khi tham gia bồi dưỡng một cách thường xuyên, bài bản sẽ góp ph ần nâng
cao ý thức, tính sáng tạo trong phương pháp dạy, nh ững kỹ năng và thói quen
tự học của giáo viên. Qua bồi dưỡng giúp cho giáo viên đánh giá đ ược kh ả
năng hoàn thành công việc và sự tiến bộ trong công tác của bản thân.
Để đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay, người giáo viên cần ph ải luôn luôn rèn
luyện đạo đức, tự học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao kh ả
năng sư phạm, đáp ứng nguyện vọng của phụ huynh, nhu c ầu h ọc t ập c ủa
trẻ và yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay. Điều đó kh ẳng đ ịnh r ằng:
công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong trường m ầm non là h ết
sức quan trọng, người cán bộ quản lý phải có trách nhiệm bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường.
II. Yêu cầu, nội dung, phương pháp tự bồi dưỡng chuyên môn, nghi ệp
vụ của người GVMN.
1. Yêu cầu tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của người GVMN.
Trước hết, mỗi giáo viên cần nhận ra một cách đầy đủ, sâu sắc các v ấn
đề liên quan đến phát triển chun mơn của mình
Hiện nay, nhiều giáo viên chưa hiểu đúng về năng lực bản thân và ch ưa ch ấp
nhận bản thân và đồng nghiệp. Mỗi khi có đánh giá, nhận xét hay xếp lo ại
chuyên môn trong các kỳ đánh giá xếp loại theo quy đ ịnh c ủa Phòng, S ở Giáo

dục và Đào tạo, giáo viên thường có xu hướng t ự nâng m ức b ản thân b ằng

hoặc cao hơn người khác. Giáo viên thường tự đánh giá mình đạt m ức tốt,
khá (hiếm khi tự đánh giá trung bình, yếu). Thực tế, c ơ bản h ọ không mu ốn
đánh giá bản thân thấp hơn người khác kể cả khi họ hiểu rằng trên th ực t ế
mình chưa đạt được mức tự đánh giá. Mặt khác, giáo viên có xu h ướng b ằng
lịng với năng lực bản thân. Đặc biệt, với những giáo viên đ ược coi là giáo
viên giỏi ln bằng lịng với kết quả đánh giá hiện tại và không ti ếp t ục ph ấn
đấu, học hỏi chuyên môn. Họ không phấn đấu đạt được nh ững tiêu chuẩn
cao hơn của người giáo viên trong thời kỳ mới. Thậm chí, ngay c ả khi nhu c ầu
học tập hiện tại của học sinh chưa được đáp ứng họ cũng ch ưa nh ận ra ho ặc
chưa quan tâm đến.
Giúp giáo viên có khả năng nhận ra, biết chấp nhận mỗi cá nhân h ọc
sinh
Khi biết chấp nhận học sinh như một cá thể độc lập, họ sẽ biết ch ấp nh ận
bản thân và ngược lại. Chấp nhận học sinh là điều kiện cần để tiến hành
giáo dục theo quan điểm giáo dục lấy học sinh làm trung tâm. Ng ười giáo
viên có biết chấp nhận học sinh thì mới có thể tạo ra môi tr ường học t ập
thoải mái và tiến hành bài học có ý nghĩa. Họ có thể thể hiện tình yêu
thương, trân trọng với tất cả học sinh như con em của chính mình, nếu một
lớp học có 30 em học sinh thì cả 30 em đều được yêu quý nh ư nhau.
Hiện nay, các cấp quản lý giáo dục luôn yêu cầu và mong muốn giáo viên
quan tâm đến mọi đối tượng học sinh (đặc biệt những h ọc sinh có khó khăn
trong học tập) trong quá trình dạy học nhưng nhận ra lúc nào cần ph ải quan
tâm như thế nào, làm thế nào để học có thói quen tự giác, thường xuyên quan
tâm đến học sinh thì khơng dễ dàng.
Giáo viên cần hiểu đúng và áp dụng được phương pháp giáo dục mới
vào thực tế giảng dạy hàng ngày
Thực tế hiện nay đội ngũ giáo viên tiểu học được đào tạo và bồi dưỡng hàng
năm về phương pháp dạy học mới. Nhưng giữa lý thuy ết và th ực tế, gi ữa

nhận thức và hành động ln có khoảng cách lớn. Trong những ch ương trình
bồi dưỡng vẫn cịn nhiều giáo viên chưa hiểu đúng và đủ bản ch ất v ấn đ ề.
Chỉ khi bắt đầu vào vận dụng th ực tế dạy học trên lớp, họ m ới th ực s ự g ặp
phải khó khăn.
Nhiều giáo viên có thể biết và hiểu lý thuyết nh ưng trong th ực hành tác
nghiệp, trước những tình huống đa dạng, ph ức tạp nảy sinh trong vi ệc h ọc
của học sinh, việc vận dụng lý thuyết để giải quyết các vấn đề th ực tế cịn
nhiều khó khăn. Thậm chí, do có nhiều giáo viên hiểu chưa đúng, nên số đơng
trong số họ cịn e ngại và thiếu quyết tâm vận dụng cái mới.
Khi thực hiện Chương trình Giáo dục, nhiều giáo viên vẫn tin r ằng ch ỉ cần c ố
gắng dạy học theo đúng, đủ những gì theo SGK, SGV là tốt r ồi. T ừ đó có ý th ức
thực hiện dạy học theo khuôn mẫu một cách thụ động. Khi họ muốn thay đ ổi
cho phù hợp thực tế nhưng lại gặp khó khăn khi khơng bi ết ph ải thay đ ổi
như thế nào và làm cách nào để thay đổi.
Giáo viên cần được khuyến khích và hỗ trợ tự học nâng cao năng lực và
đổi mới phương pháp dạy học
Chủ trương của ngành Giáo dục – Đào tạo khuyến khích giáo viên t ự h ọc nâng
cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học, song trên th ực tế
thì việc khuyến khích và hỗ trợ giáo viên thực hiện việc tự học còn h ạn chế.
Giáo viên sẽ tự học những gì, như thế nào, lúc nào và ở đâu để đảm bảo hiệu
quả thiết thực cho công việc dạy học hàng ngày, đáp ứng tốt việc h ọc c ủa h ọc
sinh là những câu hỏi lớn mỗi giáo viên khơng thể tự mình gi ải quy ết. M ặc dù
hầu hết giáo viên đều được khuyến khích học để nâng cao trình đ ộ đào t ạo
(đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo) nhưng năng lực chuyên môn đáp
ứng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm
còn nhiều hạn chế. Điều này thể hiện ở th ực trạng hiện nay, tr ước đ ịnh
hướng của các cấp quản lý giáo dục cho phép và khuy ến khích giáo viên v ận
dụng, điều chỉnh nội dung các bài học trong SGK cho phù h ợp v ới các đ ối
tượng học sinh nhưng do chưa có hiểu biết sâu rộng về nội dung bài h ọc đó

nên nhiều giáo viên chưa dám hoặc khơng có khả năng th ực hiện, h ọ vẫn ch ỉ
dạy những gì có sẵn trong SGK. Mặc dù tỉ lệ giáo viên đạt trình đ ộ đào t ạo
trên chuẩn (đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng) khá cao nh ưng năng l ực chuyên
môn vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. Điều đó ch ứng t ỏ c ơ h ội
học tập thực sự có ý nghĩa để nâng cao năng l ực chuyên môn c ủa giáo viên
vẫn chưa đảm bảo.
Trong khi cơ hội tự học chỉ có thể được tạo ra và phát huy trên c ơ s ở t ạo ra
các “tình huống học tập cộng tác” giữa các giáo viên. “Tình huống h ọc t ập
cộng tác” đó chỉ có thể xuất hiện khi các nhà trường tổ chức cho giáo viên các
buổi để họ “chia sẻ chuyên môn” trong sinh hoạt chuyên mơn theo cách tiếp
cận mới. Trong đó, họ có cơ hội được học hỏi bằng quá trình t ự tr ải nghiệm,
học hỏi từ đồng nghiệp nhờ thiết kế giáo án, tiến hành, dự giờ nhiều bài h ọc
ở các lớp học khác nhau. Đó là con đường học tập thiết th ực, hiệu quả và phù
hợp nhất hiện nay đối với tất cả các giáo viên.
Đổi mới cách tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện sinh hoạt
chuyên môn ở nhà trường
Hiện nay, ở tất cả các nhà trường, hàng tuần và tháng vẫn duy trì truy ền
thống và nền nếp tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên. Tuy
nhiên, cách tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện vẫn chưa thực sự đổi
mới, chưa mang tính chất chia sẻ chun mơn vì vẫn còn thiên v ề đánh giá,
đối chiếu so với tiêu chuẩn hoặc có tính “làm mẫu” của giáo viên gi ỏi. Trong
khi thực tế năng lực mỗi cá nhân giáo viên khác nhau, hoàn c ảnh và đi ều ki ện
dạy học khác nhau, việc học của học sinh ở các gi ờ học lại luôn luôn biến đ ổi.
Do đó, tất cả các giáo viên cần được tham gia vào quá trình h ọc t ập b ằng th ực
tế theo phương thức chia sẻ chuyên môn.
Người giáo viên luôn luôn cần được trau dồi, bổ sung, và nâng cao kh ả năng
chuyên môn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học, s ự bi ến đ ổi
của các yếu tố trong quá trình giáo dục (nội dung ch ương trình, ph ương
pháp, người học,…).

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, cần có một cách tiếp cận m ới, quan
trọng và có ý nghĩa để phát triển các năng lực chuyên môn giáo viên đó là t ạo
cơ hội cho giáo viên được thường xuyên tham gia sinh hoạt chuyên môn. Đây
là cách tiếp cận mới giúp giáo viên học tập lẫn nhau trong th ực tế và qua
thực tế thông qua trải nghiệm thực sự vào quá trình dự giờ-quan sát-suy
ngẫm và chia sẻ thực tế việc học của học sinh để phát triển các năng l ực m ới
và cần thiết, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. H ơn
thế nữa, thực tế đã chứng minh, sinh hoạt chuyên môn không ch ỉ giúp nâng
cao năng lực chun mơn cho mỗi giáo viên mà cịn xây d ựng đ ược “tính đ ồng
nghiệp” tốt đẹp trong một “cộng đồng học tập”; giúp h ọ tìm th ấy ý nghĩa và
những giá trị mới và sự thú vị của nghề nghiệp, qua đó khích lệ sự say mê
chun mơn, tích cực và chủ động xây dựng lại và đổi m ới nhà tr ường.
2. Nội dung tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của người GVMN.
Nội dung bồi dưỡng gồm có 03 chương trình: ch ương trình bồi d ưỡng c ập
nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ năm h ọc giáo d ục
mầm non áp dụng trong cả nước; chương trình bồi dưỡng c ập nh ật ki ến
thức, kỹ năng nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo d ục m ầm non
theo từng thời kỳ của mỗi địa phương; chương trình bồi dưỡng phát triển
năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm, kiến th ức, kỹ năng
chuyên ngành.
Nội dung chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp đáp ứng
yêu cầu vị trí việc làm, kiến thức, kỹ năng chuyên ngành phải bồi d ưỡng 5
tiêu chuẩn gồm: Phẩm chất nhà giáo; chuyên môn nghiệp vụ sư phạm; xây
dựng môi trường giáo dục; phối hợp với gia đình và cộng đ ồng; s ử d ụng
ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc và công nghệ thông tin; th ể hiện kh ả năng
nghệ thuật trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Trong đó yêu cầu cần đạt
được đối với chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cụ thể như sau:
– Phát triển Chương trình GDMN phù hợp với sự phát triển c ủa tr ẻ em và b ối

cảnh địa phương: Phân tích được sự cần thiết và yêu cầu của phát tri ển

Chương trình giáo dục ở các cơ sở GDMN trong bối cảnh hiện nay; v ận d ụng
kiến thức được trang bị để phát triển Chương trình GDMN phù h ợp v ới s ự
phát triển của trẻ em và bối cảnh địa phương; hỗ tr ợ đồng nghiệp trong phát
triển Chương trình giáo dục tại cơ sở GDMN
– Lập kế hoạch giáo dục trẻ em trong nhóm, lớp trong các cơ s ở GDMN: Phân
tích được yêu cầu của các loại kế hoạch giáo dục; Vận dụng kiến th ức đã
được trang bị vào lập được các loại kế hoạch giáo dục trẻ em trong nhóm,
lớp đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và điều kiện th ực tiễn; Hỗ tr ợ
đồng nghiệp trong lập kế hoạch giáo dục
– Tổ chức hoạt động ni dưỡng, chăm sóc trẻ em trong nhóm, lớp: Phân tích
được u cầu đối với các hoạt động ni dưỡng, chăm sóc tr ẻ em trong
nhóm, lớp; vận dụng kiến thức được trang bị vào tổ chức các hoạt động ni
dưỡng, chăm sóc trẻ em trong nhóm, lớp đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ
em và điều kiện thực tiễn; Hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ chức, thực hiện ni
dưỡng, chăm sóc trẻ em trong nhóm, lớp.
– Đảm bảo an tồn cho trẻ trong các cơ sở GGMN: Phân tích được các yêu cầu,
quy định về đảm bảo an toàn cho trẻ em trong c ơ s ở GDMN; v ận d ụng các
kiến thức được trang bị vào đánh giá mức độ đảm bảo an toàn cho trẻ em
của cơ sở GDMN mình đang cơng tác xác định được hạn ch ế và nguyên nhân
của những hạn chế; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả phịng tránh và x ử
lí một số tình huống mất an tồn cho trẻ em trong cơ sở GDMN
– Kĩ năng sơ cứu – phòng tránh và xử lí một số tình huống nguy hi ểm, b ệnh
thường gặp ở trẻ em: Phân tích được các tình huống nguy hiểm, nh ận diện
được các biểu hiện về bệnh thường gặp ở trẻ em trong cơ sở GDMN; vận
dụng kiến thức được trang bị vào đánh giá mức độ thực hiện kĩ năng s ơ c ứu,
xử lý một số tình huống nguy hiểm, bệnh thường gặp cho trẻ em trong cơ sở
GDMN; đề xuất được một số biện pháp nâng cao hiệu quả th ực hiện s ơ c ứu

và phịng tránh, xử lí được một số tình huống nguy hiểm, bệnh th ường g ặp ở
trẻ em trong cơ sở GDMN.

– Tổ chức các hoạt động phát triển nhận th ức cho trẻ em theo quan đi ểm
giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích được cơ sở lý luận của phát
triển nhận thức cho trẻ em theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung
tâm; vận dụng kiến thức được trang bị vào đánh giá thực trạng và phát hiện
các hạn chế trong tổ chức hoạt động phát triển nh ận th ức theo quan đi ểm
giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu qu ả t ổ
chức hoạt động phát triển nhận thức theo quan điểm giáo dục l ấy trẻ em
làm trung tâm trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN.
– Tổ chức các hoạt động phát triển vận động cho trẻ em theo quan điểm giáo
dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích được cơ sở lý luận của phát tri ển
vận động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; vận dụng ki ến
thức được trang bị vào đánh giá thực trạng và phát hiện các hạn chế trong t ổ
chức hoạt động phát triển vận động theo quan điểm giáo d ục l ấy tr ẻ em làm
trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ ch ức hoạt động phát
triển vận động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm trong
nhóm, lớp tại cơ sở GDMN.
– Tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt cho tr ẻ
em theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích đ ược c ơ s ở
lý luận của giáo dục phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt theo quan
điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; vận dụng kiến th ức đ ược trang b ị
vào đánh giá thực trạng và phát hiện các hạn ch ế trong tổ ch ức ho ạt đ ộng
giáo dục phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt theo quan điểm giáo d ục
lấy trẻ em làm trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ ch ức hoạt
động giáo dục phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt theo quan đi ểm
giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN; nâng cao
kỹ năng cho giáo viên trong việc sử dụng các bộ công cụ h ỗ tr ợ trong ho ạt

động giảng dạy hàng ngày lấy trẻ em làm trung tâm, đ ặc biệt v ới các nhóm
trẻ học hịa nhập.

– Tổ chức các hoạt động phát triển tình cảm, kĩ năng xã h ội cho tr ẻ em theo
quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích đ ược c ơ s ở lý lu ận
của phát triển tình cảm, kĩ năng xã hội theo quan đi ểm giáo d ục l ấy tr ẻ em
làm trung tâm; vận dụng kiến thức được trang bị vào đánh giá th ực tr ạng và
phát hiện các hạn chế trong tổ chức hoạt động phát triển tình cảm và kĩ năng
xã hội theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; đề xuất biện pháp
nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động phát triển tình cảm và kĩ năng xã h ội
theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm trong nhóm, lớp tại c ơ s ở
GDMN.
– Tổ chức các hoạt động phát triển thẩm mỹ cho trẻ em theo quan đi ểm giáo
dục lấy trẻ làm trung tâm: Phân tích được cơ sở lý luận của giáo d ục phát
triển thẩm mỹ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; vận dụng
kiến thức được trang bị vào đánh giá thực trạng và phát hiện các hạn ch ế
trong tổ chức hoạt động phát triển thẩm mỹ theo quan điểm giáo d ục lấy tr ẻ
em làm trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ ch ức hoạt đ ộng
phát triển thẩm mỹ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong
nhóm, lớp tại cơ sở GDMN.
– Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ em lứa tuổi mầm non: Phân tích c ơ s ở
lý luận của việc giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ em; vận dụng kiến th ức
được trang bị vào thực hiện các hoạt động giáo dục bảo vệ mơi trường trong
nhóm, lớp; hỗ trợ đồng nghiệp trong thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ
môi trường tại cơ sở GDMN
– Tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhóm, l ớp ghép nhi ều
độ tuổi tại cơ sở GDMN: Phân tích được căn cứ pháp lý, cơ s ở lý luận c ủa vi ệc
tổ chức hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhóm l ớp ghép nhi ều đ ộ
tuổi; vận dụng các kiến thức được trang bị vào tổ chức hoạt đ ộng chăm sóc,

giáo dục trong nhóm, lớp ghép nhiều độ tuổi; hỗ tr ợ đồng nghiệp trong t ổ
chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ em trong nhóm, lớp ghép độ tu ổi.

– Tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em lứa tuổi mầm non:
Phân tích được cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em; vận d ụng
các kiến thức được trang bị vào tổ chức các hoạt động giáo dục kỹ năng s ống
cho trẻ em ở cơ sở GDMN; hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ ch ức hoạt đ ộng giáo
dục kỹ năng sống cho trẻ em.
– Tổ chức quan sát và đánh giá sự phát triển của trẻ em l ứa tu ổi m ầm non:
Phân tích được cơ sở khoa học của đánh giá sự phát triển của trẻ em; vận
dụng kiến thức được trang bị vào tổ chức quan sát và đánh giá s ự phát tri ển
của trẻ em; hỗ trợ đồng nghiệp trong thực hiện hoạt động quan sát, đánh giá
sự phát triển của trẻ em tại nhóm, lớp.
– Phát hiện, sàng lọc và tổchức các hoạt động chăm sóc, giáo dục đáp ứng tr ẻ
em có nhu cầu đặc biệt: Phân tích được cách thức phát hiện, sàng lọc và yêu
cầu tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục đáp ứng trẻ em có nhu c ầu đặc
biệt; vận dụng kiến thức đã được trang bị vào phát hiện, sàng l ọc tr ẻ em có
nhu cầu đặc biệt tại nhóm, lớp mình phụ trách; đề xuất đ ược các biện pháp
nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo d ục trẻ em có nhu
cầu đặc biệt trong nhóm, lớp.
– Làm đồ dùng dạy học, đồ chơi từ nguyên liệu địa ph ương: Phân tích đ ược
những yêu cầu sư phạm của các đồ dùng, đồ chơi tự tạo từ nguyên li ệu địa
phương; vận dụng kiến thức được trang bị vào thiết kế, th ực hiện một số đồ
dùng đồ chơi từ nguyên liệu địa phương; hỗ trợ đồng nghiệp làm m ột số đ ồ
dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu địa phương tại cơ sở GDMN.
– Quản lí nhóm, lớp học ở cơ sở GDMN: Phân tích được cơ sở lý luận của qu ản
lý nhóm, lớp ở cơ sở GDMN; vận dụng kiến th ức được trang bị vào qu ản lý
nhóm, lớp tại cơ sở GDMN; hỗ trợ đồng nghiệp trong quản lý nhóm, lớp ở cơ
sở GDMN.

3. Phương pháp tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của người GVMN.

Để quá trình tự học, tự bồi dưỡng đạt chất lượng, hiệu quả bản thân người
giáo viên cần có những phương pháp tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ
sau:
Một là, mỗi giáo viên trước hết phải nhận th ức được vị trí,vai trị, trách
nhiệm về tự học, tự bồi dưỡng. Chỉ khi nhận thức đúng thì bản thân m ỗi giáo
viên mới chuyển hóa được nhu cầu, địi hỏi của xã hội thành động c ơ m ục
đích của cá nhân, từ đó mới chủ động, tích cực, tự giác ph ấn đấu t ự h ọc, t ự
bồi dưỡng.
Hai là, ngay từ đầu năm học, bản thân mỗi giáo viên cần xây d ựng cho mình
kế hoạch tự học, tự bồi dưỡng khoa học.Trong kế hoạch này cần xác đ ịnh rõ
mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, th ời gian t ự h ọc, t ự b ồi d ưỡng.
Khi xây dựng kế hoạch giáo viên phải thể hiện rõ những nét ph ẩm ch ất, nhân
cách, đạo đức nghề nghiệp cần hoàn thiện. Những kiến th ức, kĩ năng s ư
phạm, phương pháp dạy học, …cần bổ sung. Để xây d ựng m ột kế hoạch khoa
học, giáo viên cần dựa trên kế hoạch của trường.
Ngoài ra cần tham khảo thêm Căn cứ Thông tư số 12/2019/TT-BGDĐT ngày
26/8/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình bồi dưỡng
thường xuyên giáo viên mầm non. Thông tư số 19/2019/TT-BGDĐT ngày 12/11/2019
của Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc Ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo
viên, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và giáo viên trung tâm giáo
dục thường xuyên.

Từ đó giáo viên lựa chọn, thống kê các phần công việc c ần làm, nh ững yêu
cầu cụ thể cần đạt được, mốc thời gian và mức độ hoàn thành phù h ợp v ới
điều kiện và năng lực bản thân. Sau khi lập được kế hoạch m ỗi giáo viên
phải có quyết tâm, có ý thức trách nhiệm, có tinh thần ch ủ động, kiên trì v ượt
qua mọi khó khăn để hồn thành mục tiêu đặt ra.

Ba là, người giáo viên cần sắp xếp thời gian tự học, tự bồi dưỡng cho phù
hợp với đặc trưng cơng việc của mình. Th ời gian t ự h ọc, t ự b ồi d ưỡng c ủa
giáo viên Tiểu học rất hạn chế do vậy mỗi giáo viên cần sắp xếp th ời gian t ự
học qua sinh hoạt chun mơn ở tổ, nhóm, qua dự giờ thăm lớp, qua tham d ự

các buổi chuyên đề, tập huấn, hội thảo do trường, Phịng giáo dục – đào t ạo,
các tổ chức chính trị, xã hội tổ chức…vào hè hoặc trong năm học. Ngoài ra
người giáo viên cần tham gia tự học, tự bồi dưỡng vào ngày ngh ỉ, gi ờ ngh ỉ.
Bốn là, giáo viên mầm non cần xác định được nội dung tự học, tự bồi d ưỡng
phù hợp. Tự học, tự bồi dưỡng ở đây không chỉ bồi dưỡng về chun mơn
nghiệp vụ mà cịn bồi dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư ph ạm. Trong
quá trình bồi dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư ph ạm người giáo viên
cần học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống cũng như trong công việc.
Học tập, bồi dưỡng thông qua các mối quan hệ với đồng nghiệp, v ới ph ụ
huynh, với học sinh, với xã hội. Từ đó hồn thiện nhân cách ng ười giáo viên.
Khi bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ giáo viên mầm non cần biết l ựa
chọn tài liệu, nghiên cứu thu thập thơng tin một cách có ch ọn l ọc phù h ợp v ới
yêu cầu thực tiễn.
Giáo viên có thể tìm tài liệu bồi dưỡng qua sách báo, qua các ph ương ti ện
thông tin đại chúng, qua mạng internet, qua sinh hoạt chuyên môn…Giáo viên
cần bổ sung kịp thời những kiến thức về tin học, ngoại ngữ, đổi m ới v ề
phương pháp, trang bị cho mình những kiến th ức về văn hóa, xã h ội, nh ững
hiểu biết pháp luật.
Năm là, để quá trình tự học, tự bồi dưỡng có hiệu quả người giáo viên m ầm
non phải biết lựa chọn các hình thức bồi dưỡng phù hợp v ới kh ả năng, s ở
trường của mình. Hình thức tự học, tự bồi dưỡng thơng qua ho ạt đ ộng cá
nhân giảng dạy, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các công văn, ch ỉ th ị, thơng
tư…Hình thức tự học, tự bồi dưỡng qua hoạt động tập th ể nh ư tham gia các
hoạt động sinh hoạt chun mơn, qua các hoạt động chính trị, xã hội, qua đào

tạo nâng chuẩn.
Sáu là, trong quá trình tự học, tự bồi dưỡng người giáo viên ph ải bi ết t ự
kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng. Hoạt động này giúp giáo viên nhìn
nhận lại những việc đã làm và chưa làm được trong quá trình t ự h ọc, t ự b ồi

dưỡng, từ đó kịp thời điều chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm đ ạt mục tiêu b ồi
dưỡng.
Tự học, tự bồi dưỡng được hình thành trong quá trình luy ện t ập kiên trì có
hệ thống, trên cơ sở ý thức trách nhiệm, tính tự giác cao. Qua đó giáo viên sẽ
say sưa với nội dung học tập, biến chúng thành hi ểu bi ết và chuy ển thành
niềm tin, thế giới quan khoa học, luôn tạo ra được trạng thái phấn kh ởi,
hứng thú; biết tranh thủ tận dụng có hiệu quả mọi khoảng th ời gian có th ể
để tự học, tự nghiên cứu; ln tìm cách hiểu sâu nh ững nội dung đã bi ết và
khám phá những điều chưa biết; hình thành thái độ động c ơ phấn đ ấu đúng
đắn, để hoàn thiện phẩm chất nhân cách, nâng cao năng l ực, ph ương pháp,
tác phong cơng tác và uy tín nghề nghiệp, đáp ứng yêu c ầu đ ổi m ới giáo d ục
hiện nay.
III. Hướng dẫn thực hiện các hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ của người GVMN đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp
Biện pháp 1: Nâng cao trình độ trên chuẩn của giáo viên
Để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đ ội ngũ giáo viên c ần
phải xây dựng kế hoạch cụ thể xuất phát từ nhu cầu đào tạo c ủa t ừng giáo
viên (những giáo viên nào cần được nâng cao trình độ? V ề vấn đ ề gì?). Đ ồng
thời, lập kế hoạch bồi dưỡng dài hạn nhằm xác định mục tiêu và định h ướng
đào tạo nhân lực ( Số lượng khóa đào tạo, thời gian di ễn ra, k ết qu ả d ự tính
đạt được,…). Tham mưu với hiệu trưởng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
giáo viên đi học nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ ở các tr ường s ư
phạm.
Ngoài việc được tham gia các lớp tập huấn, khóa đào tạo nghiệp v ụ, trong

q trình làm việc giáo viên đều phải có ý th ức tự học: tham gia các bu ổi d ự
giờ, sinh hoạt chuyên môn cùng đồng nghiệp, tham quan các tr ường b ạn v ề
cách sắp xếp, tổ chức môi trường hoạt động cho trẻ,… chủ đ ộng h ọc và tìm
hiểu thêm một số kỹ năng cần thiết trong cơng tác gi ảng dạy nh ư: các kĩ

năng phịng – xử trí các bệnh và tai nạn th ường gặp ở trẻ, kĩ năng ứng x ử s ư
phạm,…
Biện pháp 2: Bồi dưỡng giáo viên chủ động xây dựng h ồ sơ
Để công tác bồi dưỡng chuyên môn giáo viên đạt hiệu quả cao, ng ười qu ản lí
cần phải hiểu rõ giáo viên của mình: trình độ chun mơn, cá tính, năng l ực
sư phạm, sở trường trong từng hoạt động, những hạn chế và y ếu kém trong
công tác giảng dạy,… Bồi dưỡng giáo viên xây dựng bộ hồ s ơ, giáo án là m ột
trong những phương pháp hữu hiệu giúp đánh giá năng lực, trình đ ộ của giáo
viên để từ đó đưa ra điều chỉnh phù hợp nhằm cải thiện và nâng cao năng l ực
cho họ.
Vd: Một số giáo viên còn yếu về năng lực soạn bài, cần tìm hiểu nguyên nhân
cụ thể:
+ Giáo viên chưa biết phương pháp soạn
+ Chưa xác định được mục đích yêu cầu bài
+ Phương pháp biện pháp để ra trong bài soạn ch ưa chính xác, ch ưa h ợp lí.
Biện pháp 3: Bồi dưỡng kiến thức tổ chức các hoạt động
Bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ giáo viên qua tiết dạy (d ự giờ, thao gi ảng,
kiến tập) giúp nhà quản lí đánh giá đúng năng lực, trình đ ộ c ủa t ừng giáo
viên, phân loại theo nhóm để áp dụng kế hoạch bồi dưỡng phù h ợp v ới t ừng
nhóm giáo viên.
Vd: Cô B dạy lớp trẻ 4-5 tuổi chưa biết cách gây h ứng thú đ ể tr ẻ t ập trung
vào bài học. Sau tiết dự giờ, cán bộ quản lí sẽ đưa ra nhận xét và phân tích
cho cơ B hiểu về tầm quan tọng của việc gây hứng thú cho trẻ tr ước khi b ước
vào bài học và đưa ra gợi ý hướng giải quyết vấn đề cô B đang gặp ph ải.

Biện pháp 4: Đẩy mạnh sinh hoạt tổ chuyên môn
Một biện pháp không thể thiếu trong công tác bồi d ưỡng, nâng cao năng l ực
cho đội ngũ giáo viên là đẩy mạnh sinh hoạt tổ chuyên môn. Ngay t ừ khi b ắt
đầu năm học, người quản lí cần phân cơng giáo viên phù h ợp v ới các t ổ d ựa
theo năng lực và trình độ. Khi chọn tổ trưởng cho mỗi tổ chuyên môn cần

chọn lựa những giáo viên có năng lực chun mơn, nhiệt tình năng đ ộng, có
khả năng lãnh đạo để dẫn dắt và điều hành tổ.
Biện pháp 5: Bồi dưỡng thông qua các phong trào thi đua
+ Thi giáo viên dạy giỏi: Thông qua các hội thi giáo viên sẽ đ ược th ể hiện
năng lực của bản thân, đánh giá điểm mạnh điểm yếu, rút kinh nghiệm và t ự
điều chỉnh để nâng cao trình độ, chun mơn trong công tác gi ảng dạy.
+ Làm đồ dùng sáng tạo: Tổ chức cuộc thi làm đ ồ dùng m ầm non không ch ỉ
giúp giáo viên nắm được phương pháp và u cầu bài dạy mà cịn tăng tính
sáng tạo, chủ động tích cực trong việc tự nâng cao năng lực, trình độ của bản
thân
Biện pháp 6: Thực hiện kiểm tra, thanh tra nội bộ
Kiểm tra, thanh tra nội bộ là chức năng, nhiệm vụ của các cấp quản lí nhà
trường và xun suốt q tình quản lí. Cơng tác kiểm tra, giám sát giúp đánh
giá mặt mạnh, yếu của từng cá nhân trong đội ngũ để hoàn thi ện t ập th ể.
Kiểm tra định kỳ hay đột xuất nhằm nâng cao tính tự giác, ch ủ động của giáo
viên và đảm bảo tính cơng bằng, khách quan.
Biện pháp 7: Phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà tr ường
Kết hợp với đoàn thể ngoài trường thực hiện tốt cơng tác giáo dục, chăm sóc
nói chung và bồi dưỡng năng lực đội ngũ giáo viên nói riêng nh ư: Tham m ưu
kịp thời với hiệu trưởng đề nghị với các cấp chính quyền địa ph ương, Phịng
giáo dục và dào tạo hỗ trợ trang thiết bị dạy học như máy tính, máy chiếu đa
năng,…; Huy động phụ huynh học sinh mang đồ phế thải sẵn có để giúp giáo
viên sáng tạo đồ dùng, đồ chơi mầm non…

Mỗi tháng tổ chức chuyên đề, kỹ năng phương pháp giảng dạy cho tổ chun
mơn thảo luận. Sau đó tổ chức dạy mẫu để thực hiện các chủ đ ề, ch ủ đi ểm
nói trên. Bên cạnh đó, khảo sát lại năng l ực chuyên môn c ủa t ừng giáo viên
thông qua dự giờ, thăm lớp. Đối với những giáo viên m ới vào tr ường và giáo
viên lớn tuổi cần có kế hoạch bồi dưỡng phù hợp.

module GVMN 5: Hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ của GVMN
I. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ GVMN.
II. Yêu cầu, nội dung, phương pháp tự bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ của người GVMN.
III. Hướng dẫn thực hiện các hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ của người GVMN đáp ứng Chuẩn nghề nghiệp.
………………….OOOOOOOOOOOOOOOO…………………
I. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghi ệp v ụ
GVMN.
1. Ý nghĩa của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ GVMN
Thế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh và trí tuệ, giáo dục mầm non cũng cần
có chuyển biến mới về chất lượng. Việc đổi mới về nội dung, ph ương pháp
dạy học được đặt ra không chỉ đối với bậc học mầm non mà là trong toàn bộ
hệ thống giáo dục. Trong đó nhân tố quyết định chất lượng chăm sóc giáo
dục trẻ là đội ngũ giáo viên. Bởi lẽ để trẻ có thể phát triển tồn diện, có nhân
cách tốt hay khơng đều phụ thuộc vào việc chăm sóc trẻ ngay t ừ l ứa tu ổi
mầm non. Giáo dục trẻ không chỉ thông qua lời nói, c ử ch ỉ hay m ột hành đ ộng
đơn thuần nào đó của con người mà vấn đề là ở ch ất lượng c ủa m ột quá
trình chăm sóc giáo dục trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non trong các nhà
trường. Trước tình hình đó, việc bồi dưỡng chuyên môn cho đ ội ngũ giáo viên
là một yêu cầu cấp bách, là điều kiện tiên quyết nhằm khẳng định sự tồn tại

và xây dựng “thương hiệu” của nhà trường. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nói
chung và giáo viên mầm non nói riêng được xem nh ư là m ột “nút bấm” tạo
sự chuyển biến cho cả hệ thống giáo dục quốc dân.

Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trị quyết định trong vi ệc chăm sóc giáo d ục
trẻ ở các trường mầm non vì vậy bất kỳ người quản lý nào đ ều suy nghĩ “làm
thế nào để trường mầm non trở thành một nhà trường phát triển tốt?”. Muốn
thế trước hết phải có đội ngũ mạnh, vững về chun mơn và điều đó khơng
thể bỏ qua việc bồi dưỡng chuyên môn cho lực lượng cán bộ giáo viên. M ục
tiêu của công tác bồi dưỡng là nhằm hồn thiện q trình đào tạo, khắc ph ục
những thiếu sót lệch lạc trong cơng tác giảng dạy, về quan đi ểm, n ội dung
phương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những yêu cầu của xã h ội.
Trên thực tế hiện nay, đội ngũ giáo viên mầm non đều được đào tạo theo
đúng chuyên môn của ngành học. Song do trình độ tiếp thu, năng l ực, năng
khiếu, điều kiện của mỗi giáo viên một khác: một số giáo viên giáo viên tr ẻ
mới ra trường lại có con nhỏ nên việc thích ứng với ch ương trình m ới còn
chậm chạp, qua loa, chưa đồng bộ; một số giáo viên theo học các lớp đào t ạo
của hệ liên kết, tại chức nên phương pháp dạy trẻ còn nhiều h ạn chế, ngh ệ
thuật và kinh nghiệm giảng dạy chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi m ới,
dẫn đến chất lượng giáo dục chưa đồng đều. Bên cạnh đó ph ụ huynh thi ếu
quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ do điều kiện kinh tế khó khăn
hoặc khơng có nhiều thời gian để chăm sóc giáo dục con. Mặt khác c ơ s ở v ật
chất của nhà trường còn hạn chế do diện tích tồn trường q hẹp, ch ưa đáp
ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục. Vì vậy việc nâng cao ch ất l ượng giáo d ục
trẻ nhằm thực hiện tốt chất lượng giáo dục, tiếp cận đổi mới giáo d ục mầm
non, giúp trẻ phát triển một cách tồn diện là hết sức c ần thiết.
2. Vai trị của hoạt động tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ GVMN
– Bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường là công việc mang tính chiến l ược,
phải làm thường xuyên, liên tục và lâu dài để xây d ựng đ ội ngũ giáo viên đ ủ

về số lượng, phù hợp về cơ cấu và có chất lượng cao. Mặt khác, cơng tác b ồi
dưỡng giáo viên mang tính cấp bách bởi nhà tr ường phải th ực hi ện ngay
những yêu cầu của năm học, những chỉ đạo của ngành nh ằm nâng cao ch ất
lượng giáo dục như đổi mới chương trình, phương pháp dạy h ọc…

– Công tác đào tạo, bồi dưỡng sẽ đẩy mạnh sự phát tri ển v ề chuyên môn
nghiệp vụ của tất cả giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà
trường. Tham gia vào các hoạt động bồi dưỡng sẽ giúp cho giáo viên thu ận
lợi khi tiếp cận với chương trình mới, có thái độ tích cực v ới nh ững thay đ ổi
nhanh chóng của thời đại.
– Bồi dưỡng dưới nhiều hình thức phong phú đặc biệt là hình th ức bồi dưỡng
tại trường sẽ góp phần xây dựng tinh thần cộng tác, làm việc theo t ổ, nhóm
chun mơn trong nhà trường. Đẩy mạnh cơng tác đào tạo, bồi d ưỡng sẽ
khuyến khích giáo viên làm việc chăm chỉ, tích c ực đ ể th ực hi ện t ốt nhi ệm v ụ
của mình.
– Khi tham gia bồi dưỡng một cách thường xuyên, bài bản sẽ góp ph ần nâng
cao ý thức, tính sáng tạo trong phương pháp dạy, nh ững kỹ năng và thói quen
tự học của giáo viên. Qua bồi dưỡng giúp cho giáo viên đánh giá đ ược kh ả
năng hoàn thành công việc và sự tiến bộ trong công tác của bản thân.
Để đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay, người giáo viên cần ph ải luôn luôn rèn
luyện đạo đức, tự học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao kh ả
năng sư phạm, đáp ứng nguyện vọng của phụ huynh, nhu c ầu h ọc t ập c ủa
trẻ và yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo hiện nay. Điều đó kh ẳng đ ịnh r ằng:
công tác bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong trường m ầm non là h ết
sức quan trọng, người cán bộ quản lý phải có trách nhiệm bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường.
II. Yêu cầu, nội dung, phương pháp tự bồi dưỡng chuyên môn, nghi ệp
vụ của người GVMN.
1. Yêu cầu tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của người GVMN.

Trước hết, mỗi giáo viên cần nhận ra một cách đầy đủ, sâu sắc các v ấn
đề liên quan đến phát triển chun mơn của mình
Hiện nay, nhiều giáo viên chưa hiểu đúng về năng lực bản thân và ch ưa ch ấp
nhận bản thân và đồng nghiệp. Mỗi khi có đánh giá, nhận xét hay xếp lo ại
chuyên môn trong các kỳ đánh giá xếp loại theo quy đ ịnh c ủa Phòng, S ở Giáo

dục và Đào tạo, giáo viên thường có xu hướng t ự nâng m ức b ản thân b ằng
hoặc cao hơn người khác. Giáo viên thường tự đánh giá mình đạt m ức tốt,
khá (hiếm khi tự đánh giá trung bình, yếu). Thực tế, c ơ bản h ọ không mu ốn
đánh giá bản thân thấp hơn người khác kể cả khi họ hiểu rằng trên th ực t ế
mình chưa đạt được mức tự đánh giá. Mặt khác, giáo viên có xu h ướng b ằng
lịng với năng lực bản thân. Đặc biệt, với những giáo viên đ ược coi là giáo
viên giỏi ln bằng lịng với kết quả đánh giá hiện tại và không ti ếp t ục ph ấn
đấu, học hỏi chuyên môn. Họ không phấn đấu đạt được nh ững tiêu chuẩn
cao hơn của người giáo viên trong thời kỳ mới. Thậm chí, ngay c ả khi nhu c ầu
học tập hiện tại của học sinh chưa được đáp ứng họ cũng ch ưa nh ận ra ho ặc
chưa quan tâm đến.
Giúp giáo viên có khả năng nhận ra, biết chấp nhận mỗi cá nhân h ọc
sinh
Khi biết chấp nhận học sinh như một cá thể độc lập, họ sẽ biết ch ấp nh ận
bản thân và ngược lại. Chấp nhận học sinh là điều kiện cần để tiến hành
giáo dục theo quan điểm giáo dục lấy học sinh làm trung tâm. Ng ười giáo
viên có biết chấp nhận học sinh thì mới có thể tạo ra môi tr ường học t ập
thoải mái và tiến hành bài học có ý nghĩa. Họ có thể thể hiện tình yêu
thương, trân trọng với tất cả học sinh như con em của chính mình, nếu một
lớp học có 30 em học sinh thì cả 30 em đều được yêu quý nh ư nhau.
Hiện nay, các cấp quản lý giáo dục luôn yêu cầu và mong muốn giáo viên
quan tâm đến mọi đối tượng học sinh (đặc biệt những h ọc sinh có khó khăn
trong học tập) trong quá trình dạy học nhưng nhận ra lúc nào cần ph ải quan

tâm như thế nào, làm thế nào để học có thói quen tự giác, thường xuyên quan
tâm đến học sinh thì khơng dễ dàng.
Giáo viên cần hiểu đúng và áp dụng được phương pháp giáo dục mới
vào thực tế giảng dạy hàng ngày
Thực tế hiện nay đội ngũ giáo viên tiểu học được đào tạo và bồi dưỡng hàng
năm về phương pháp dạy học mới. Nhưng giữa lý thuy ết và th ực tế, gi ữa

nhận thức và hành động ln có khoảng cách lớn. Trong những ch ương trình
bồi dưỡng vẫn cịn nhiều giáo viên chưa hiểu đúng và đủ bản ch ất v ấn đ ề.
Chỉ khi bắt đầu vào vận dụng th ực tế dạy học trên lớp, họ m ới th ực s ự g ặp
phải khó khăn.
Nhiều giáo viên có thể biết và hiểu lý thuyết nh ưng trong th ực hành tác
nghiệp, trước những tình huống đa dạng, ph ức tạp nảy sinh trong vi ệc h ọc
của học sinh, việc vận dụng lý thuyết để giải quyết các vấn đề th ực tế cịn
nhiều khó khăn. Thậm chí, do có nhiều giáo viên hiểu chưa đúng, nên số đơng
trong số họ cịn e ngại và thiếu quyết tâm vận dụng cái mới.
Khi thực hiện Chương trình Giáo dục, nhiều giáo viên vẫn tin r ằng ch ỉ cần c ố
gắng dạy học theo đúng, đủ những gì theo SGK, SGV là tốt r ồi. T ừ đó có ý th ức
thực hiện dạy học theo khuôn mẫu một cách thụ động. Khi họ muốn thay đ ổi
cho phù hợp thực tế nhưng lại gặp khó khăn khi khơng bi ết ph ải thay đ ổi
như thế nào và làm cách nào để thay đổi.
Giáo viên cần được khuyến khích và hỗ trợ tự học nâng cao năng lực và
đổi mới phương pháp dạy học
Chủ trương của ngành Giáo dục – Đào tạo khuyến khích giáo viên t ự h ọc nâng
cao năng lực chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học, song trên th ực tế
thì việc khuyến khích và hỗ trợ giáo viên thực hiện việc tự học còn h ạn chế.
Giáo viên sẽ tự học những gì, như thế nào, lúc nào và ở đâu để đảm bảo hiệu
quả thiết thực cho công việc dạy học hàng ngày, đáp ứng tốt việc h ọc c ủa h ọc
sinh là những câu hỏi lớn mỗi giáo viên khơng thể tự mình gi ải quy ết. M ặc dù

hầu hết giáo viên đều được khuyến khích học để nâng cao trình đ ộ đào t ạo
(đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo) nhưng năng lực chuyên môn đáp
ứng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm
còn nhiều hạn chế. Điều này thể hiện ở th ực trạng hiện nay, tr ước đ ịnh
hướng của các cấp quản lý giáo dục cho phép và khuy ến khích giáo viên v ận
dụng, điều chỉnh nội dung các bài học trong SGK cho phù h ợp v ới các đ ối
tượng học sinh nhưng do chưa có hiểu biết sâu rộng về nội dung bài h ọc đó

nên nhiều giáo viên chưa dám hoặc khơng có khả năng th ực hiện, h ọ vẫn ch ỉ
dạy những gì có sẵn trong SGK. Mặc dù tỉ lệ giáo viên đạt trình đ ộ đào t ạo
trên chuẩn (đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng) khá cao nh ưng năng l ực chuyên
môn vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay. Điều đó ch ứng t ỏ c ơ h ội
học tập thực sự có ý nghĩa để nâng cao năng l ực chuyên môn c ủa giáo viên
vẫn chưa đảm bảo.
Trong khi cơ hội tự học chỉ có thể được tạo ra và phát huy trên c ơ s ở t ạo ra
các “tình huống học tập cộng tác” giữa các giáo viên. “Tình huống h ọc t ập
cộng tác” đó chỉ có thể xuất hiện khi các nhà trường tổ chức cho giáo viên các
buổi để họ “chia sẻ chuyên môn” trong sinh hoạt chuyên mơn theo cách tiếp
cận mới. Trong đó, họ có cơ hội được học hỏi bằng quá trình t ự tr ải nghiệm,
học hỏi từ đồng nghiệp nhờ thiết kế giáo án, tiến hành, dự giờ nhiều bài h ọc
ở các lớp học khác nhau. Đó là con đường học tập thiết th ực, hiệu quả và phù
hợp nhất hiện nay đối với tất cả các giáo viên.
Đổi mới cách tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện sinh hoạt
chuyên môn ở nhà trường
Hiện nay, ở tất cả các nhà trường, hàng tuần và tháng vẫn duy trì truy ền
thống và nền nếp tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên. Tuy
nhiên, cách tiếp cận và phương thức tổ chức thực hiện vẫn chưa thực sự đổi
mới, chưa mang tính chất chia sẻ chun mơn vì vẫn còn thiên v ề đánh giá,
đối chiếu so với tiêu chuẩn hoặc có tính “làm mẫu” của giáo viên gi ỏi. Trong

khi thực tế năng lực mỗi cá nhân giáo viên khác nhau, hoàn c ảnh và đi ều ki ện
dạy học khác nhau, việc học của học sinh ở các gi ờ học lại luôn luôn biến đ ổi.
Do đó, tất cả các giáo viên cần được tham gia vào quá trình h ọc t ập b ằng th ực
tế theo phương thức chia sẻ chuyên môn.
Người giáo viên luôn luôn cần được trau dồi, bổ sung, và nâng cao kh ả năng
chuyên môn để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người học, s ự bi ến đ ổi
của các yếu tố trong quá trình giáo dục (nội dung ch ương trình, ph ương
pháp, người học,…).

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, cần có một cách tiếp cận m ới, quan
trọng và có ý nghĩa để phát triển các năng lực chuyên môn giáo viên đó là t ạo
cơ hội cho giáo viên được thường xuyên tham gia sinh hoạt chuyên môn. Đây
là cách tiếp cận mới giúp giáo viên học tập lẫn nhau trong th ực tế và qua
thực tế thông qua trải nghiệm thực sự vào quá trình dự giờ-quan sát-suy
ngẫm và chia sẻ thực tế việc học của học sinh để phát triển các năng l ực m ới
và cần thiết, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. H ơn
thế nữa, thực tế đã chứng minh, sinh hoạt chuyên môn không ch ỉ giúp nâng
cao năng lực chun mơn cho mỗi giáo viên mà cịn xây d ựng đ ược “tính đ ồng
nghiệp” tốt đẹp trong một “cộng đồng học tập”; giúp h ọ tìm th ấy ý nghĩa và
những giá trị mới và sự thú vị của nghề nghiệp, qua đó khích lệ sự say mê
chun mơn, tích cực và chủ động xây dựng lại và đổi m ới nhà tr ường.
2. Nội dung tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của người GVMN.
Nội dung bồi dưỡng gồm có 03 chương trình: ch ương trình bồi d ưỡng c ập
nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ năm h ọc giáo d ục
mầm non áp dụng trong cả nước; chương trình bồi dưỡng c ập nh ật ki ến
thức, kỹ năng nghiệp vụ thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo d ục m ầm non
theo từng thời kỳ của mỗi địa phương; chương trình bồi dưỡng phát triển
năng lực nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm, kiến th ức, kỹ năng
chuyên ngành.

Nội dung chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp đáp ứng
yêu cầu vị trí việc làm, kiến thức, kỹ năng chuyên ngành phải bồi d ưỡng 5
tiêu chuẩn gồm: Phẩm chất nhà giáo; chuyên môn nghiệp vụ sư phạm; xây
dựng môi trường giáo dục; phối hợp với gia đình và cộng đ ồng; s ử d ụng
ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc và công nghệ thông tin; th ể hiện kh ả năng
nghệ thuật trong chăm sóc, giáo dục trẻ mầm non. Trong đó yêu cầu cần đạt
được đối với chuyên môn nghiệp vụ sư phạm cụ thể như sau:
– Phát triển Chương trình GDMN phù hợp với sự phát triển c ủa tr ẻ em và b ối
cảnh địa phương: Phân tích được sự cần thiết và yêu cầu của phát tri ển

Chương trình giáo dục ở các cơ sở GDMN trong bối cảnh hiện nay; v ận d ụng
kiến thức được trang bị để phát triển Chương trình GDMN phù h ợp v ới s ự
phát triển của trẻ em và bối cảnh địa phương; hỗ tr ợ đồng nghiệp trong phát
triển Chương trình giáo dục tại cơ sở GDMN
– Lập kế hoạch giáo dục trẻ em trong nhóm, lớp trong các cơ s ở GDMN: Phân
tích được yêu cầu của các loại kế hoạch giáo dục; Vận dụng kiến th ức đã
được trang bị vào lập được các loại kế hoạch giáo dục trẻ em trong nhóm,
lớp đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và điều kiện th ực tiễn; Hỗ tr ợ
đồng nghiệp trong lập kế hoạch giáo dục
– Tổ chức hoạt động ni dưỡng, chăm sóc trẻ em trong nhóm, lớp: Phân tích
được u cầu đối với các hoạt động ni dưỡng, chăm sóc tr ẻ em trong
nhóm, lớp; vận dụng kiến thức được trang bị vào tổ chức các hoạt động ni
dưỡng, chăm sóc trẻ em trong nhóm, lớp đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ
em và điều kiện thực tiễn; Hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ chức, thực hiện ni
dưỡng, chăm sóc trẻ em trong nhóm, lớp.
– Đảm bảo an tồn cho trẻ trong các cơ sở GGMN: Phân tích được các yêu cầu,
quy định về đảm bảo an toàn cho trẻ em trong c ơ s ở GDMN; v ận d ụng các
kiến thức được trang bị vào đánh giá mức độ đảm bảo an toàn cho trẻ em
của cơ sở GDMN mình đang cơng tác xác định được hạn ch ế và nguyên nhân

của những hạn chế; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả phịng tránh và x ử
lí một số tình huống mất an tồn cho trẻ em trong cơ sở GDMN
– Kĩ năng sơ cứu – phòng tránh và xử lí một số tình huống nguy hi ểm, b ệnh
thường gặp ở trẻ em: Phân tích được các tình huống nguy hiểm, nh ận diện
được các biểu hiện về bệnh thường gặp ở trẻ em trong cơ sở GDMN; vận
dụng kiến thức được trang bị vào đánh giá mức độ thực hiện kĩ năng s ơ c ứu,
xử lý một số tình huống nguy hiểm, bệnh thường gặp cho trẻ em trong cơ sở
GDMN; đề xuất được một số biện pháp nâng cao hiệu quả th ực hiện s ơ c ứu
và phịng tránh, xử lí được một số tình huống nguy hiểm, bệnh th ường g ặp ở
trẻ em trong cơ sở GDMN.

– Tổ chức các hoạt động phát triển nhận th ức cho trẻ em theo quan đi ểm
giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích được cơ sở lý luận của phát
triển nhận thức cho trẻ em theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung
tâm; vận dụng kiến thức được trang bị vào đánh giá thực trạng và phát hiện
các hạn chế trong tổ chức hoạt động phát triển nh ận th ức theo quan đi ểm
giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu qu ả t ổ
chức hoạt động phát triển nhận thức theo quan điểm giáo dục l ấy trẻ em
làm trung tâm trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN.
– Tổ chức các hoạt động phát triển vận động cho trẻ em theo quan điểm giáo
dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích được cơ sở lý luận của phát tri ển
vận động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; vận dụng ki ến
thức được trang bị vào đánh giá thực trạng và phát hiện các hạn chế trong t ổ
chức hoạt động phát triển vận động theo quan điểm giáo d ục l ấy tr ẻ em làm
trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ ch ức hoạt động phát
triển vận động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm trong
nhóm, lớp tại cơ sở GDMN.
– Tổ chức các hoạt động phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt cho tr ẻ
em theo quan điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm: Phân tích đ ược c ơ s ở

lý luận của giáo dục phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt theo quan
điểm giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm; vận dụng kiến th ức đ ược trang b ị
vào đánh giá thực trạng và phát hiện các hạn ch ế trong tổ ch ức ho ạt đ ộng
giáo dục phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt theo quan điểm giáo d ục
lấy trẻ em làm trung tâm; đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả tổ ch ức hoạt
động giáo dục phát triển ngôn ngữ/tăng cường tiếng Việt theo quan đi ểm
giáo dục lấy trẻ em làm trung tâm trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN; nâng cao
kỹ năng cho giáo viên trong việc sử dụng các bộ công cụ h ỗ tr ợ trong ho ạt
động giảng dạy hàng ngày lấy trẻ em làm trung tâm, đ ặc biệt v ới các nhóm
trẻ học hịa nhập.

thế trước hết phải có đội ngũ mạnh, vững về chun mơn và điều đó khơngthể bỏ lỡ việc tu dưỡng trình độ cho lực lượng cán bộ giáo viên. M ụctiêu của công tác làm việc tu dưỡng là nhằm mục đích hồn thiện q trình giảng dạy, khắc ph ụcnhững thiếu sót rơi lệch trong cơng tác giảng dạy, về quan đi ểm, n ội dungphương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những nhu yếu của xã h ội. Trên thực tiễn lúc bấy giờ, đội ngũ giáo viên mầm non đều được giảng dạy theođúng trình độ của ngành học. Song do trình độ tiếp thu, năng l ực, năngkhiếu, điều kiện kèm theo của mỗi giáo viên một khác : 1 số ít giáo viên giáo viên tr ẻmới ra trường lại có con nhỏ nên việc thích ứng với ch ương trình m ới cònchậm chạp, qua loa, chưa đồng nhất ; 1 số ít giáo viên theo học những lớp đào t ạocủa hệ link, tại chức nên chiêu thức dạy trẻ còn nhiều h ạn chế, ngh ệthuật và kinh nghiệm tay nghề giảng dạy chưa thực sự cung ứng được nhu yếu đổi m ới, dẫn đến chất lượng giáo dục chưa đồng đều. Bên cạnh đó ph ụ huynh thi ếuquan tâm đến sự tăng trưởng tổng lực của trẻ do điều kiện kèm theo kinh tế tài chính khó khănhoặc khơng có nhiều thời hạn để chăm nom giáo dục con. Mặt khác c ơ s ở v ậtchất của nhà trường còn hạn chế do diện tích quy hoạnh tồn trường q hẹp, ch ưa đápứng với nhu yếu thay đổi giáo dục. Vì vậy việc nâng cao ch ất l ượng giáo d ụctrẻ nhằm mục đích triển khai tốt chất lượng giáo dục, tiếp cận thay đổi giáo d ục mầmnon, giúp trẻ tăng trưởng một cách tồn diện là rất là c ần thiết. 2. Vai trị của hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ GVMN – Bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường là việc làm mang tính chiến l ược, phải làm liên tục, liên tục và vĩnh viễn để xây d ựng đ ội ngũ giáo viên đ ủvề số lượng, tương thích về cơ cấu tổ chức và có chất lượng cao. Mặt khác, cơng tác b ồidưỡng giáo viên mang tính cấp bách bởi nhà tr ường phải th ực hi ện ngaynhững nhu yếu của năm học, những chỉ huy của ngành nh ằm nâng cao ch ấtlượng giáo dục như thay đổi chương trình, chiêu thức dạy h ọc … – Công tác giảng dạy, tu dưỡng sẽ tăng cường sự phát tri ển v ề chuyên mônnghiệp vụ của tổng thể giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhàtrường. Tham gia vào những hoạt động giải trí tu dưỡng sẽ giúp cho giáo viên thu ậnlợi khi tiếp cận với chương trình mới, có thái độ tích cực v ới nh ững thay đ ổinhanh chóng của thời đại. – Bồi dưỡng dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú đặc biệt quan trọng là hình th ức bồi dưỡngtại trường sẽ góp thêm phần thiết kế xây dựng ý thức cộng tác, thao tác theo t ổ, nhómchun mơn trong nhà trường. Đẩy mạnh cơng tác đào tạo và giảng dạy, bồi d ưỡng sẽkhuyến khích giáo viên thao tác siêng năng, tích c ực đ ể th ực hi ện t ốt nhi ệm v ụcủa mình. – Khi tham gia tu dưỡng một cách tiếp tục, chuyên nghiệp sẽ góp ph ần nângcao ý thức, tính phát minh sáng tạo trong giải pháp dạy, nh ững kiến thức và kỹ năng và thói quentự học của giáo viên. Qua tu dưỡng giúp cho giáo viên nhìn nhận đ ược kh ảnăng triển khai xong việc làm và sự văn minh trong công tác làm việc của bản thân. Để cung ứng nhu yếu xã hội lúc bấy giờ, người giáo viên cần ph ải luôn luôn rènluyện đạo đức, tự học tập, tu dưỡng trình độ nhiệm vụ, nâng cao kh ảnăng sư phạm, cung ứng nguyện vọng của cha mẹ, nhu c ầu h ọc t ập c ủatrẻ và nhu yếu thay đổi giáo dục giảng dạy lúc bấy giờ. Điều đó kh ẳng đ ịnh r ằng : công tác làm việc tu dưỡng trình độ cho giáo viên trong trường m ầm non là h ếtsức quan trọng, người cán bộ quản trị phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tu dưỡng chuyênmôn, nhiệm vụ cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường. II. Yêu cầu, nội dung, giải pháp tự tu dưỡng trình độ, nghi ệpvụ của người GVMN. 1. Yêu cầu tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN.Trước hết, mỗi giáo viên cần nhận ra một cách khá đầy đủ, thâm thúy những v ấnđề tương quan đến tăng trưởng chun mơn của mìnhHiện nay, nhiều giáo viên chưa hiểu đúng về năng lượng bản thân và ch ưa ch ấpnhận bản thân và đồng nghiệp. Mỗi khi có nhìn nhận, nhận xét hay xếp lo ạichuyên môn trong những kỳ nhìn nhận xếp loại theo quy đ ịnh c ủa Phòng, S ở Giáodục và Đào tạo, giáo viên thường có khuynh hướng t ự nâng m ức b ản thân b ằnghoặc cao hơn người khác. Giáo viên thường tự nhìn nhận mình đạt m ức tốt, khá ( hiếm khi tự nhìn nhận trung bình, yếu ). Thực tế, c ơ bản h ọ không mu ốnđánh giá bản thân thấp hơn người khác kể cả khi họ hiểu rằng trên th ực t ếmình chưa đạt được mức tự nhìn nhận. Mặt khác, giáo viên có xu h ướng b ằnglịng với năng lượng bản thân. Đặc biệt, với những giáo viên đ ược coi là giáoviên giỏi ln bằng lịng với tác dụng nhìn nhận hiện tại và không ti ếp t ục ph ấnđấu, học hỏi trình độ. Họ không phấn đấu đạt được nh ững tiêu chuẩncao hơn của người giáo viên trong thời kỳ mới. Thậm chí, ngay c ả khi nhu c ầuhọc tập hiện tại của học viên chưa được phân phối họ cũng ch ưa nh ận ra ho ặcchưa chăm sóc đến. Giúp giáo viên có năng lực nhận ra, biết đồng ý mỗi cá thể h ọcsinhKhi biết đồng ý học viên như một thành viên độc lập, họ sẽ biết ch ấp nh ậnbản thân và ngược lại. Chấp nhận học viên là điều kiện kèm theo cần để tiến hànhgiáo dục theo quan điểm giáo dục lấy học viên làm TT. Ng ười giáoviên có biết đồng ý học viên thì mới hoàn toàn có thể tạo ra môi tr ường học t ậpthoải mái và triển khai bài học kinh nghiệm có ý nghĩa. Họ hoàn toàn có thể thể hiện tình yêuthương, trân trọng với tổng thể học viên như con em của mình của chính mình, nếu mộtlớp học có 30 em học viên thì cả 30 em đều được yêu quý nh ư nhau. Hiện nay, những cấp quản trị giáo dục luôn nhu yếu và mong ước giáo viênquan tâm đến mọi đối tượng người dùng học viên ( đặc biệt quan trọng những h ọc sinh có khó khăntrong học tập ) trong quy trình dạy học nhưng nhận ra khi nào cần ph ải quantâm như thế nào, làm thế nào để học có thói quen tự giác, liên tục quantâm đến học viên thì khơng thuận tiện. Giáo viên cần hiểu đúng và vận dụng được chiêu thức giáo dục mớivào thực tiễn giảng dạy hàng ngàyThực tế lúc bấy giờ đội ngũ giáo viên tiểu học được huấn luyện và đào tạo và tu dưỡng hàngnăm về chiêu thức dạy học mới. Nhưng giữa lý thuy ết và th ực tế, gi ữanhận thức và hành vi ln có khoảng cách lớn. Trong những ch ương trìnhbồi dưỡng vẫn cịn nhiều giáo viên chưa hiểu đúng và đủ bản ch ất v ấn đ ề. Chỉ khi mở màn vào vận dụng th ực tế dạy học trên lớp, họ m ới th ực s ự g ặpphải khó khăn vất vả. Nhiều giáo viên hoàn toàn có thể biết và hiểu kim chỉ nan nh ưng trong th ực hành tácnghiệp, trước những trường hợp phong phú, ph ức tạp phát sinh trong vi ệc h ọccủa học viên, việc vận dụng triết lý để xử lý những yếu tố th ực tế cịnnhiều khó khăn vất vả. Thậm chí, do có nhiều giáo viên hiểu chưa đúng, nên số đơngtrong số họ cịn quan ngại và thiếu quyết tâm vận dụng cái mới. Khi thực thi Chương trình Giáo dục đào tạo, nhiều giáo viên vẫn tin r ằng ch ỉ cần c ốgắng dạy học theo đúng, đủ những gì theo SGK, SGV là tốt r ồi. T ừ đó có ý th ứcthực hiện dạy học theo khuôn mẫu một cách thụ động. Khi họ muốn thay đ ổicho tương thích thực tiễn nhưng lại gặp khó khăn vất vả khi khơng bi ết ph ải thay đ ổinhư thế nào và làm cách nào để biến hóa. Giáo viên cần được khuyến khích và tương hỗ tự học nâng cao năng lượng vàđổi mới giải pháp dạy họcChủ trương của ngành Giáo dục đào tạo – Đào tạo khuyến khích giáo viên t ự h ọc nângcao năng lượng trình độ và thay đổi giải pháp dạy học, tuy nhiên trên th ực tếthì việc khuyến khích và hỗ trợ giáo viên thực thi việc tự học còn h ạn chế. Giáo viên sẽ tự học những gì, như thế nào, khi nào và ở đâu để bảo vệ hiệuquả thiết thực cho việc làm dạy học hàng ngày, phân phối tốt việc h ọc c ủa h ọcsinh là những câu hỏi lớn mỗi giáo viên khơng thể tự mình gi ải quy ết. M ặc dùhầu hết giáo viên đều được khuyến khích học để nâng cao trình đ ộ đào t ạo ( đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ huấn luyện và đào tạo ) nhưng năng lượng trình độ đápứng thay đổi chiêu thức dạy học theo hướng lấy học viên làm trung tâmcòn nhiều hạn chế. Điều này bộc lộ ở th ực trạng lúc bấy giờ, tr ước đ ịnhhướng của những cấp quản trị giáo dục được cho phép và khuy ến khích giáo viên v ậndụng, kiểm soát và điều chỉnh nội dung những bài học kinh nghiệm trong SGK cho phù h ợp v ới những đ ốitượng học viên nhưng do chưa có hiểu biết sâu rộng về nội dung bài h ọc đónên nhiều giáo viên chưa dám hoặc khơng có năng lực th ực hiện, h ọ vẫn ch ỉdạy những gì có sẵn trong SGK. Mặc dù tỉ lệ giáo viên đạt trình đ ộ đào t ạotrên chuẩn ( đã tốt nghiệp ĐH, cao đẳng ) khá cao nh ưng năng l ực chuyênmôn vẫn chưa cung ứng nhu yếu thay đổi lúc bấy giờ. Điều đó ch ứng t ỏ c ơ h ộihọc tập thực sự có ý nghĩa để nâng cao năng l ực trình độ c ủa giáo viênvẫn chưa bảo vệ. Trong khi thời cơ tự học chỉ hoàn toàn có thể được tạo ra và phát huy trên c ơ s ở t ạo racác ” trường hợp học tập cộng tác ” giữa những giáo viên. ” Tình huống h ọc t ậpcộng tác ” đó chỉ hoàn toàn có thể Open khi những nhà trường tổ chức triển khai cho giáo viên cácbuổi để họ ” san sẻ trình độ ” trong hoạt động và sinh hoạt chuyên mơn theo cách tiếpcận mới. Trong đó, họ có thời cơ được học hỏi bằng quy trình t ự tr ải nghiệm, học hỏi từ đồng nghiệp nhờ phong cách thiết kế giáo án, thực thi, dự giờ nhiều bài h ọcở những lớp học khác nhau. Đó là con đường học tập thiết th ực, hiệu suất cao và phùhợp nhất lúc bấy giờ so với toàn bộ những giáo viên. Đổi mới cách tiếp cận và phương pháp tổ chức triển khai thực hiện sinh hoạtchuyên môn ở nhà trườngHiện nay, ở tổng thể những nhà trường, hàng tuần và tháng vẫn duy trì truy ềnthống và nền nếp tổ chức triển khai những buổi hoạt động và sinh hoạt trình độ cho giáo viên. Tuynhiên, cách tiếp cận và phương pháp tổ chức triển khai thực thi vẫn chưa thực sự đổimới, chưa mang đặc thù san sẻ chun mơn vì vẫn còn thiên v ề nhìn nhận, so sánh so với tiêu chuẩn hoặc có tính ” làm mẫu ” của giáo viên gi ỏi. Trongkhi trong thực tiễn năng lượng mỗi cá thể giáo viên khác nhau, hoàn c ảnh và đi ều ki ệndạy học khác nhau, việc học của học viên ở những gi ờ học lại luôn luôn biến đ ổi. Do đó, toàn bộ những giáo viên cần được tham gia vào quy trình h ọc t ập b ằng th ựctế theo phương pháp san sẻ trình độ. Người giáo viên luôn luôn cần được trau dồi, bổ trợ, và nâng cao kh ả năngchuyên môn để phân phối nhu yếu ngày càng cao của người học, s ự bi ến đ ổicủa những yếu tố trong quy trình giáo dục ( nội dung ch ương trình, ph ươngpháp, người học, … ). Xuất phát từ những yếu tố nêu trên, cần có một cách tiếp cận m ới, quantrọng và có ý nghĩa để tăng trưởng những năng lượng trình độ giáo viên đó là t ạocơ hội cho giáo viên được tiếp tục tham gia hoạt động và sinh hoạt trình độ. Đâylà cách tiếp cận mới giúp giáo viên học tập lẫn nhau trong th ực tế và quathực tế trải qua thưởng thức thực sự vào quy trình dự giờ-quan sát-suyngẫm và san sẻ trong thực tiễn việc học của học viên để tăng trưởng những năng l ực m ớivà thiết yếu, phân phối nhu yếu nâng cao chất lượng học tập cho học viên. H ơnthế nữa, trong thực tiễn đã chứng tỏ, hoạt động và sinh hoạt trình độ không ch ỉ giúp nângcao năng lượng chun mơn cho mỗi giáo viên mà cịn xây d ựng đ ược ” tính đ ồngnghiệp ” tốt đẹp trong một ” hội đồng học tập ” ; giúp h ọ tìm th ấy ý nghĩa vànhững giá trị mới và sự mê hoặc của nghề nghiệp, qua đó khuyến khích sự say mêchun mơn, tích cực và dữ thế chủ động kiến thiết xây dựng lại và đổi m ới nhà tr ường. 2. Nội dung tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN.Nội dung tu dưỡng gồm có 03 chương trình : ch ương trình bồi d ưỡng c ậpnhật kiến thức và kỹ năng, kiến thức và kỹ năng nhiệm vụ thực thi trách nhiệm năm h ọc giáo d ụcmầm non vận dụng trong cả nước ; chương trình tu dưỡng c ập nh ật ki ếnthức, kiến thức và kỹ năng nhiệm vụ triển khai trách nhiệm tăng trưởng giáo d ục m ầm nontheo từng thời kỳ của mỗi địa phương ; chương trình tu dưỡng phát triểnnăng lực nghề nghiệp phân phối nhu yếu vị trí việc làm, kiến th ức, kỹ năngchuyên ngành. Nội dung chương trình tu dưỡng tăng trưởng năng lượng nghề nghiệp đáp ứngyêu cầu vị trí việc làm, kiến thức và kỹ năng, kiến thức và kỹ năng chuyên ngành phải bồi d ưỡng 5 tiêu chuẩn gồm : Phẩm chất nhà giáo ; trình độ nhiệm vụ sư phạm ; xâydựng thiên nhiên và môi trường giáo dục ; phối hợp với mái ấm gia đình và cộng đ ồng ; s ử d ụngngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc bản địa và công nghệ thông tin ; th ể hiện kh ả năngnghệ thuật trong chăm nom, giáo dục trẻ mầm non. Trong đó nhu yếu cần đạtđược so với trình độ nhiệm vụ sư phạm đơn cử như sau : – Phát triển Chương trình GDMN tương thích với sự tăng trưởng c ủa tr ẻ em và b ốicảnh địa phương : Phân tích được sự thiết yếu và nhu yếu của phát tri ểnChương trình giáo dục ở những cơ sở GDMN trong toàn cảnh lúc bấy giờ ; v ận d ụngkiến thức được trang bị để tăng trưởng Chương trình GDMN phù h ợp v ới s ựphát triển của trẻ nhỏ và bối cảnh địa phương ; hỗ tr ợ đồng nghiệp trong pháttriển Chương trình giáo dục tại cơ sở GDMN – Lập kế hoạch giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm, lớp trong những cơ s ở GDMN : Phântích được nhu yếu của những loại kế hoạch giáo dục ; Vận dụng kiến th ức đãđược trang bị vào lập được những loại kế hoạch giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm, lớp cung ứng nhu yếu tăng trưởng của trẻ nhỏ và điều kiện kèm theo th ực tiễn ; Hỗ tr ợđồng nghiệp trong lập kế hoạch giáo dục – Tổ chức hoạt động giải trí ni dưỡng, chăm nom trẻ nhỏ trong nhóm, lớp : Phân tíchđược u cầu so với những hoạt động giải trí ni dưỡng, chăm nom tr ẻ em trongnhóm, lớp ; vận dụng kỹ năng và kiến thức được trang bị vào tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nidưỡng, chăm nom trẻ nhỏ trong nhóm, lớp phân phối nhu yếu tăng trưởng của trẻem và điều kiện kèm theo thực tiễn ; Hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ chức triển khai, triển khai nidưỡng, chăm nom trẻ nhỏ trong nhóm, lớp. – Đảm bảo an tồn cho trẻ trong những cơ sở GGMN : Phân tích được những nhu yếu, lao lý về bảo vệ bảo đảm an toàn cho trẻ nhỏ trong c ơ s ở GDMN ; v ận d ụng cáckiến thức được trang bị vào nhìn nhận mức độ bảo vệ bảo đảm an toàn cho trẻ emcủa cơ sở GDMN mình đang cơng tác xác lập được hạn ch ế và nguyên nhâncủa những hạn chế ; yêu cầu giải pháp nâng cao hiệu suất cao phịng tránh và x ửlí 1 số ít trường hợp mất an tồn cho trẻ nhỏ trong cơ sở GDMN – Kĩ năng sơ cứu – phòng tránh và xử lí một số ít trường hợp nguy hi ểm, b ệnhthường gặp ở trẻ nhỏ : Phân tích được những trường hợp nguy khốn, nh ận diệnđược những biểu lộ về bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ trong cơ sở GDMN ; vậndụng kỹ năng và kiến thức được trang bị vào nhìn nhận mức độ thực thi kĩ năng s ơ c ứu, giải quyết và xử lý 1 số ít trường hợp nguy khốn, bệnh thường gặp cho trẻ nhỏ trong cơ sởGDMN ; đề xuất kiến nghị được một số ít giải pháp nâng cao hiệu suất cao th ực hiện s ơ c ứuvà phịng tránh, xử lí được 1 số ít trường hợp nguy hại, bệnh th ường g ặp ởtrẻ em trong cơ sở GDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng nhận th ức cho trẻ nhỏ theo quan đi ểmgiáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích được cơ sở lý luận của pháttriển nhận thức cho trẻ nhỏ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm trungtâm ; vận dụng kiến thức và kỹ năng được trang bị vào nhìn nhận tình hình và phát hiệncác hạn chế trong tổ chức triển khai hoạt động giải trí tăng trưởng nh ận th ức theo quan đi ểmgiáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; đề xuất kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu qu ả t ổchức hoạt động giải trí tăng trưởng nhận thức theo quan điểm giáo dục l ấy trẻ emlàm TT trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng hoạt động cho trẻ nhỏ theo quan điểm giáodục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích được cơ sở lý luận của phát tri ểnvận động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; vận dụng ki ếnthức được trang bị vào nhìn nhận tình hình và phát hiện những hạn chế trong t ổchức hoạt động giải trí tăng trưởng hoạt động theo quan điểm giáo d ục l ấy tr ẻ em làmtrung tâm ; yêu cầu giải pháp nâng cao hiệu suất cao tổ ch ức hoạt động giải trí pháttriển hoạt động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT trongnhóm, lớp tại cơ sở GDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt cho tr ẻem theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích đ ược c ơ s ởlý luận của giáo dục tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt theo quanđiểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; vận dụng kiến th ức đ ược trang b ịvào nhìn nhận tình hình và phát hiện những hạn ch ế trong tổ ch ức ho ạt đ ộnggiáo dục tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt theo quan điểm giáo d ụclấy trẻ nhỏ làm TT ; đề xuất kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu suất cao tổ ch ức hoạtđộng giáo dục tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt theo quan đi ểmgiáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN ; nâng caokỹ năng cho giáo viên trong việc sử dụng những bộ công cụ h ỗ tr ợ trong ho ạtđộng giảng dạy hàng ngày lấy trẻ nhỏ làm TT, đ ặc biệt v ới những nhómtrẻ học hịa nhập. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng tình cảm, kĩ năng xã h ội cho tr ẻ em theoquan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích đ ược c ơ s ở lý lu ậncủa tăng trưởng tình cảm, kĩ năng xã hội theo quan đi ểm giáo d ục l ấy tr ẻ emlàm TT ; vận dụng kỹ năng và kiến thức được trang bị vào nhìn nhận th ực tr ạng vàphát hiện những hạn chế trong tổ chức triển khai hoạt động giải trí tăng trưởng tình cảm và kĩ năngxã hội theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; yêu cầu biện phápnâng cao hiệu suất cao tổ chức triển khai hoạt động giải trí tăng trưởng tình cảm và kĩ năng xã h ộitheo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT trong nhóm, lớp tại c ơ s ởGDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng thẩm mỹ và nghệ thuật cho trẻ nhỏ theo quan đi ểm giáodục lấy trẻ làm TT : Phân tích được cơ sở lý luận của giáo d ục pháttriển thẩm mỹ và nghệ thuật theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; vận dụngkiến thức được trang bị vào nhìn nhận tình hình và phát hiện những hạn ch ếtrong tổ chức triển khai hoạt động giải trí tăng trưởng thẩm mỹ và nghệ thuật theo quan điểm giáo d ục lấy tr ẻem làm TT ; đề xuất kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu suất cao tổ ch ức hoạt đ ộngphát triển nghệ thuật và thẩm mỹ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm TT trongnhóm, lớp tại cơ sở GDMN. – Giáo dục đào tạo bảo vệ thiên nhiên và môi trường cho trẻ nhỏ lứa tuổi mầm non : Phân tích c ơ s ởlý luận của việc giáo dục bảo vệ thiên nhiên và môi trường cho trẻ nhỏ ; vận dụng kiến th ứcđược trang bị vào thực thi những hoạt động giải trí giáo dục bảo vệ mơi trường trongnhóm, lớp ; tương hỗ đồng nghiệp trong triển khai hoạt động giải trí giáo dục bảo vệmôi trường tại cơ sở GDMN – Tổ chức hoạt động giải trí chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm, l ớp ghép nhi ềuđộ tuổi tại cơ sở GDMN : Phân tích được địa thế căn cứ pháp lý, cơ s ở lý luận c ủa vi ệctổ chức hoạt động giải trí chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm l ớp ghép nhi ều đ ộtuổi ; vận dụng những kỹ năng và kiến thức được trang bị vào tổ chức triển khai hoạt đ ộng chăm nom, giáo dục trong nhóm, lớp ghép nhiều độ tuổi ; hỗ tr ợ đồng nghiệp trong t ổchức những hoạt động giải trí chăm nom, giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm, lớp ghép độ tu ổi. – Tổ chức hoạt động giải trí giáo dục kỹ năng và kiến thức sống cho trẻ nhỏ lứa tuổi mầm non : Phân tích được cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng và kiến thức sống cho trẻ nhỏ ; vận d ụngcác kỹ năng và kiến thức được trang bị vào tổ chức triển khai những hoạt động giải trí giáo dục kiến thức và kỹ năng s ốngcho trẻ nhỏ ở cơ sở GDMN ; tương hỗ đồng nghiệp trong tổ ch ức hoạt đ ộng giáodục kiến thức và kỹ năng sống cho trẻ nhỏ. – Tổ chức quan sát và nhìn nhận sự tăng trưởng của trẻ nhỏ l ứa tu ổi m ầm non : Phân tích được cơ sở khoa học của nhìn nhận sự tăng trưởng của trẻ nhỏ ; vậndụng kỹ năng và kiến thức được trang bị vào tổ chức triển khai quan sát và nhìn nhận s ự phát tri ểncủa trẻ nhỏ ; tương hỗ đồng nghiệp trong thực thi hoạt động giải trí quan sát, đánh giásự tăng trưởng của trẻ nhỏ tại nhóm, lớp. – Phát hiện, sàng lọc và tổchức những hoạt động giải trí chăm nom, giáo dục cung ứng tr ẻem có nhu yếu đặc biệt quan trọng : Phân tích được phương pháp phát hiện, sàng lọc và yêucầu tổ chức triển khai những hoạt động giải trí chăm nom, giáo dục phân phối trẻ nhỏ có nhu c ầu đặcbiệt ; vận dụng kiến thức và kỹ năng đã được trang bị vào phát hiện, sàng l ọc tr ẻ em cónhu cầu đặc biệt quan trọng tại nhóm, lớp mình đảm nhiệm ; đề xuất kiến nghị đ ược những biện phápnâng cao hiệu suất cao tổ chức triển khai những hoạt động giải trí chăm nom, giáo d ục trẻ nhỏ có nhucầu đặc biệt quan trọng trong nhóm, lớp. – Làm vật dụng dạy học, đồ chơi từ nguyên vật liệu địa ph ương : Phân tích đ ượcnhững nhu yếu sư phạm của những vật dụng, đồ chơi tự tạo từ nguyên li ệu địaphương ; vận dụng kỹ năng và kiến thức được trang bị vào phong cách thiết kế, th ực hiện một số ít đồdùng đồ chơi từ nguyên vật liệu địa phương ; tương hỗ đồng nghiệp làm m ột số đ ồdùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu địa phương tại cơ sở GDMN. – Quản lí nhóm, lớp học ở cơ sở GDMN : Phân tích được cơ sở lý luận của qu ảnlý nhóm, lớp ở cơ sở GDMN ; vận dụng kiến th ức được trang bị vào qu ản lýnhóm, lớp tại cơ sở GDMN ; tương hỗ đồng nghiệp trong quản trị nhóm, lớp ở cơsở GDMN. 3. Phương pháp tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN.Để quy trình tự học, tự tu dưỡng đạt chất lượng, hiệu suất cao bản thân ngườigiáo viên cần có những giải pháp tự tu dưỡng trình độ, nghiệp vụsau : Một là, mỗi giáo viên trước hết phải nhận th ức được vị trí, vai trị, tráchnhiệm về tự học, tự tu dưỡng. Chỉ khi nhận thức đúng thì bản thân m ỗi giáoviên mới chuyển hóa được nhu yếu, địi hỏi của xã hội thành động c ơ m ụcđích của cá thể, từ đó mới dữ thế chủ động, tích cực, tự giác ph ấn đấu t ự h ọc, t ựbồi dưỡng. Hai là, ngay từ đầu năm học, bản thân mỗi giáo viên cần xây d ựng cho mìnhkế hoạch tự học, tự tu dưỡng khoa học. Trong kế hoạch này cần xác đ ịnh rõmục tiêu, nội dung, hình thức, giải pháp, th ời gian t ự h ọc, t ự b ồi d ưỡng. Khi kiến thiết xây dựng kế hoạch giáo viên phải bộc lộ rõ những nét ph ẩm ch ất, nhâncách, đạo đức nghề nghiệp cần triển khai xong. Những kiến th ức, kĩ năng s ưphạm, chiêu thức dạy học, … cần bổ trợ. Để xây d ựng m ột kế hoạch khoahọc, giáo viên cần dựa trên kế hoạch của trường. Ngoài ra cần tìm hiểu thêm thêm Căn cứ Thông tư số 12/2019 / TT-BGDĐT ngày26 / 8/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình bồi dưỡngthường xuyên giáo viên mầm non. Thông tư số 19/2019 / TT-BGDĐT ngày 12/11/2019 của Bộ Giáo dục đào tạo và Đào tạo về việc Ban hành Quy chế tu dưỡng tiếp tục giáoviên, cán bộ quản trị cơ sở giáo dục mầm non, đại trà phổ thông và giáo viên TT giáodục liên tục. Từ đó giáo viên lựa chọn, thống kê những phần việc làm c ần làm, nh ững yêucầu đơn cử cần đạt được, mốc thời hạn và mức độ hoàn thành xong phù h ợp v ớiđiều kiện và năng lượng bản thân. Sau khi lập được kế hoạch m ỗi giáo viênphải có quyết tâm, có ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm, có niềm tin ch ủ động, kiên trì v ượtqua mọi khó khăn vất vả để hồn thành tiềm năng đặt ra. Ba là, người giáo viên cần sắp xếp thời hạn tự học, tự tu dưỡng cho phùhợp với đặc trưng cơng việc của mình. Th ời gian t ự h ọc, t ự b ồi d ưỡng c ủagiáo viên Tiểu học rất hạn chế do vậy mỗi giáo viên cần sắp xếp th ời gian t ựhọc qua hoạt động và sinh hoạt chun mơn ở tổ, nhóm, qua dự giờ thăm lớp, qua tham d ựcác buổi chuyên đề, tập huấn, hội thảo chiến lược do trường, Phịng giáo dục – đào t ạo, những tổ chức triển khai chính trị, xã hội tổ chức triển khai … vào hè hoặc trong năm học. Ngoài rangười giáo viên cần tham gia tự học, tự tu dưỡng vào ngày ngh ỉ, gi ờ ngh ỉ. Bốn là, giáo viên mầm non cần xác lập được nội dung tự học, tự bồi d ưỡngphù hợp. Tự học, tự tu dưỡng ở đây không chỉ tu dưỡng về chun mơnnghiệp vụ mà cịn tu dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư ph ạm. Trongquá trình tu dưỡng về đạo đức, tác phong, kĩ năng sư ph ạm người giáo viêncần học tập ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống cũng như trong việc làm. Học tập, tu dưỡng trải qua những mối quan hệ với đồng nghiệp, v ới ph ụhuynh, với học viên, với xã hội. Từ đó hồn thiện nhân cách ng ười giáo viên. Khi tu dưỡng về trình độ nhiệm vụ giáo viên mầm non cần biết l ựachọn tài liệu, điều tra và nghiên cứu tích lũy thơng tin một cách có ch ọn l ọc phù h ợp v ớiyêu cầu thực tiễn. Giáo viên hoàn toàn có thể tìm tài liệu tu dưỡng qua sách báo, qua những ph ương ti ệnthông tin đại chúng, qua mạng internet, qua hoạt động và sinh hoạt trình độ … Giáo viêncần bổ trợ kịp thời những kỹ năng và kiến thức về tin học, ngoại ngữ, đổi m ới v ềphương pháp, trang bị cho mình những kiến th ức về văn hóa truyền thống, xã h ội, nh ữnghiểu biết pháp lý. Năm là, để quy trình tự học, tự tu dưỡng có hiệu suất cao người giáo viên m ầmnon phải biết lựa chọn những hình thức tu dưỡng tương thích v ới kh ả năng, s ởtrường của mình. Hình thức tự học, tự tu dưỡng thơng qua ho ạt đ ộng cánhân giảng dạy, điều tra và nghiên cứu tài liệu, điều tra và nghiên cứu những công văn, ch ỉ th ị, thơngtư … Hình thức tự học, tự tu dưỡng qua hoạt động giải trí tập th ể nh ư tham gia cáchoạt động hoạt động và sinh hoạt chun mơn, qua những hoạt động giải trí chính trị, xã hội, qua đàotạo nâng chuẩn. Sáu là, trong quy trình tự học, tự tu dưỡng người giáo viên ph ải bi ết t ựkiểm tra, nhìn nhận hiệu quả tu dưỡng. Hoạt động này giúp giáo viên nhìnnhận lại những việc đã làm và chưa làm được trong quy trình t ự h ọc, t ự b ồidưỡng, từ đó kịp thời kiểm soát và điều chỉnh, bổ trợ kế hoạch nhằm mục đích đ ạt tiềm năng b ồidưỡng. Tự học, tự tu dưỡng được hình thành trong quy trình luy ện t ập kiên trì cóhệ thống, trên cơ sở ý thức nghĩa vụ và trách nhiệm, tính tự giác cao. Qua đó giáo viên sẽsay sưa với nội dung học tập, biến chúng thành hi ểu bi ết và chuy ển thànhniềm tin, thế giới quan khoa học, luôn tạo ra được trạng thái phấn kh ởi, hứng thú ; biết tranh thủ tận dụng có hiệu suất cao mọi khoảng chừng th ời gian có th ểđể tự học, tự điều tra và nghiên cứu ; ln tìm cách hiểu sâu nh ững nội dung đã bi ết vàkhám phá những điều chưa biết ; hình thành thái độ động c ơ phấn đ ấu đúngđắn, để hoàn thành xong phẩm chất nhân cách, nâng cao năng l ực, ph ương pháp, tác phong cơng tác và uy tín nghề nghiệp, cung ứng yêu c ầu đ ổi m ới giáo d ụchiện nay. III. Hướng dẫn triển khai những hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN cung ứng Chuẩn nghề nghiệpBiện pháp 1 : Nâng cao trình độ trên chuẩn của giáo viênĐể thực thi tốt công tác làm việc tu dưỡng trình độ cho đ ội ngũ giáo viên c ầnphải thiết kế xây dựng kế hoạch đơn cử xuất phát từ nhu yếu đào tạo và giảng dạy c ủa t ừng giáoviên ( những giáo viên nào cần được nâng cao trình độ ? V ề vấn đ ề gì ? ). Đ ồngthời, lập kế hoạch tu dưỡng dài hạn nhằm mục đích xác lập tiềm năng và định h ướngđào tạo nhân lực ( Số lượng khóa huấn luyện và đào tạo, thời hạn di ễn ra, k ết qu ả d ự tínhđạt được, … ). Tham mưu với hiệu trưởng tạo mọi điều kiện kèm theo thuận tiện chogiáo viên đi học nâng cao trình độ chun mơn nhiệm vụ ở những tr ường s ưphạm. Ngoài việc được tham gia những lớp tập huấn, khóa đào tạo và giảng dạy nghiệp v ụ, trongq trình thao tác giáo viên đều phải có ý th ức tự học : tham gia những bu ổi d ựgiờ, hoạt động và sinh hoạt trình độ cùng đồng nghiệp, thăm quan những tr ường b ạn v ềcách sắp xếp, tổ chức triển khai thiên nhiên và môi trường hoạt động giải trí cho trẻ, … chủ đ ộng h ọc và tìmhiểu thêm một số ít kiến thức và kỹ năng thiết yếu trong cơng tác gi ảng dạy nh ư : những kĩnăng phịng – xử trí những bệnh và tai nạn đáng tiếc th ường gặp ở trẻ, kĩ năng ứng x ử s ưphạm, … Biện pháp 2 : Bồi dưỡng giáo viên dữ thế chủ động thiết kế xây dựng h ồ sơĐể công tác làm việc tu dưỡng trình độ giáo viên đạt hiệu suất cao cao, ng ười qu ản lícần phải hiểu rõ giáo viên của mình : trình độ chun mơn, đậm cá tính, năng l ựcsư phạm, sở trường trong từng hoạt động giải trí, những hạn chế và y ếu kém trongcông tác giảng dạy, … Bồi dưỡng giáo viên kiến thiết xây dựng bộ hồ s ơ, giáo án là m ộttrong những chiêu thức hữu hiệu giúp nhìn nhận năng lượng, trình đ ộ của giáoviên để từ đó đưa ra kiểm soát và điều chỉnh tương thích nhằm mục đích cải tổ và nâng cao năng l ựccho họ. Vd : Một số giáo viên còn yếu về năng lượng soạn bài, cần khám phá nguyên nhâncụ thể : + Giáo viên chưa biết giải pháp soạn + Chưa xác lập được mục tiêu nhu yếu bài + Phương pháp giải pháp để ra trong bài soạn ch ưa đúng chuẩn, ch ưa h ợp lí. Biện pháp 3 : Bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng tổ chức triển khai những hoạt độngBồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ giáo viên qua tiết dạy ( d ự giờ, thao gi ảng, kiến tập ) giúp nhà quản lí nhìn nhận đúng năng lượng, trình đ ộ c ủa t ừng giáoviên, phân loại theo nhóm để vận dụng kế hoạch tu dưỡng phù h ợp v ới t ừngnhóm giáo viên. Vd : Cô B dạy lớp trẻ 4-5 tuổi chưa biết cách gây h ứng thú đ ể tr ẻ t ập trungvào bài học kinh nghiệm. Sau tiết dự giờ, cán bộ quản lí sẽ đưa ra nhận xét và phân tíchcho cơ B hiểu về tầm quan tọng của việc gây hứng thú cho trẻ tr ước khi b ướcvào bài học kinh nghiệm và đưa ra gợi ý hướng xử lý yếu tố cô B đang gặp ph ải. Biện pháp 4 : Đẩy mạnh hoạt động và sinh hoạt tổ chuyên mônMột giải pháp không hề thiếu trong công tác làm việc bồi d ưỡng, nâng cao năng l ựccho đội ngũ giáo viên là tăng nhanh hoạt động và sinh hoạt tổ trình độ. Ngay t ừ khi b ắtđầu năm học, người quản lí cần phân cơng giáo viên phù h ợp v ới những t ổ d ựatheo năng lượng và trình độ. Khi chọn tổ trưởng cho mỗi tổ trình độ cầnchọn lựa những giáo viên có năng lượng chun mơn, nhiệt tình năng đ ộng, cókhả năng chỉ huy để dẫn dắt và điều hành quản lý tổ. Biện pháp 5 : Bồi dưỡng trải qua những trào lưu thi đua + Thi giáo viên dạy giỏi : Thông qua những hội thi giáo viên sẽ đ ược th ể hiệnnăng lực của bản thân, nhìn nhận điểm mạnh điểm yếu, rút kinh nghiệm tay nghề và t ựđiều chỉnh để nâng cao trình độ, chun mơn trong công tác làm việc gi ảng dạy. + Làm vật dụng phát minh sáng tạo : Tổ chức cuộc thi làm đ ồ dùng m ầm non không ch ỉgiúp giáo viên nắm được giải pháp và u cầu bài dạy mà cịn tăng tínhsáng tạo, dữ thế chủ động tích cực trong việc tự nâng cao năng lượng, trình độ của bảnthânBiện pháp 6 : Thực hiện kiểm tra, thanh tra nội bộKiểm tra, thanh tra nội bộ là tính năng, trách nhiệm của những cấp quản lí nhàtrường và xun suốt q tình quản lí. Cơng tác kiểm tra, giám sát giúp đánhgiá mặt mạnh, yếu của từng cá thể trong đội ngũ để hoàn thi ện t ập th ể. Kiểm tra định kỳ hay đột xuất nhằm mục đích nâng cao tính tự giác, ch ủ động của giáoviên và bảo vệ tính cơng bằng, khách quan. Biện pháp 7 : Phối hợp với những lực lượng trong và ngoài nhà tr ườngKết hợp với đoàn thể ngoài trường triển khai tốt cơng tác giáo dục, chăm sócnói chung và tu dưỡng năng lượng đội ngũ giáo viên nói riêng nh ư : Tham m ưukịp thời với hiệu trưởng ý kiến đề nghị với những cấp chính quyền sở tại địa ph ương, Phịnggiáo dục và dào tạo tương hỗ trang thiết bị dạy học như máy tính, máy chiếu đanăng, … ; Huy động cha mẹ học viên mang đồ phế thải sẵn có để giúp giáoviên phát minh sáng tạo vật dụng, đồ chơi mầm non … Mỗi tháng tổ chức triển khai chuyên đề, kiến thức và kỹ năng giải pháp giảng dạy cho tổ chunmơn luận bàn. Sau đó tổ chức triển khai dạy mẫu để triển khai những chủ đ ề, ch ủ đi ểmnói trên. Bên cạnh đó, khảo sát lại năng l ực trình độ c ủa t ừng giáo viênthông qua dự giờ, thăm lớp. Đối với những giáo viên m ới vào tr ường và giáoviên lớn tuổi cần có kế hoạch tu dưỡng tương thích. module GVMN 5 : Hoạt động tự tu dưỡng trình độ, nghiệpvụ của GVMNI. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nghiệpvụ GVMN.II. Yêu cầu, nội dung, giải pháp tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN.III. Hướng dẫn triển khai những hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN phân phối Chuẩn nghề nghiệp. … … … … … … …. OOOOOOOOOOOOOOOO … … … … … … … I. Ý nghĩa, vai trò của hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nghi ệp v ụGVMN. 1. Ý nghĩa của hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ GVMNThế kỷ XXI, thế kỷ của nền văn minh và trí tuệ, giáo dục mầm non cũng cầncó chuyển biến mới về chất lượng. Việc thay đổi về nội dung, ph ương phápdạy học được đặt ra không riêng gì so với bậc học mầm non mà là trong toàn bộhệ thống giáo dục. Trong đó tác nhân quyết định hành động chất lượng chăm nom giáodục trẻ là đội ngũ giáo viên. Bởi lẽ để trẻ hoàn toàn có thể tăng trưởng tồn diện, có nhâncách tốt hay khơng đều phụ thuộc vào vào việc chăm nom trẻ ngay t ừ l ứa tu ổimầm non. Giáo dục đào tạo trẻ không riêng gì trải qua lời nói, c ử ch ỉ hay m ột hành đ ộngđơn thuần nào đó của con người mà yếu tố là ở ch ất lượng c ủa m ột quátrình chăm nom giáo dục trẻ của đội ngũ giáo viên mầm non trong những nhàtrường. Trước tình hình đó, việc tu dưỡng trình độ cho đ ội ngũ giáo viênlà một nhu yếu cấp bách, là điều kiện kèm theo tiên quyết nhằm mục đích chứng minh và khẳng định sự tồn tạivà kiến thiết xây dựng “ tên thương hiệu ” của nhà trường. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nóichung và giáo viên mầm non nói riêng được xem nh ư là m ột “ nút bấm ” tạosự chuyển biến cho cả mạng lưới hệ thống giáo dục quốc dân. Đội ngũ cán bộ giáo viên có vai trị quyết định hành động trong vi ệc chăm nom giáo d ụctrẻ ở những trường mầm non vì thế bất kể người quản trị nào đ ều tâm lý “ làmthế nào để trường mầm non trở thành một nhà trường tăng trưởng tốt ? ”. Muốnthế trước hết phải có đội ngũ mạnh, vững về chun mơn và điều đó khơngthể bỏ lỡ việc tu dưỡng trình độ cho lực lượng cán bộ giáo viên. M ụctiêu của công tác làm việc tu dưỡng là nhằm mục đích hồn thiện q trình đào tạo và giảng dạy, khắc ph ụcnhững thiếu sót xô lệch trong cơng tác giảng dạy, về quan đi ểm, n ội dungphương pháp giáo dục đồng thời theo kịp những nhu yếu của xã h ội. Trên trong thực tiễn lúc bấy giờ, đội ngũ giáo viên mầm non đều được đào tạo và giảng dạy theođúng trình độ của ngành học. Song do trình độ tiếp thu, năng l ực, năngkhiếu, điều kiện kèm theo của mỗi giáo viên một khác : 1 số ít giáo viên giáo viên tr ẻmới ra trường lại có con nhỏ nên việc thích ứng với ch ương trình m ới cònchậm chạp, qua loa, chưa đồng nhất ; 1 số ít giáo viên theo học những lớp đào t ạocủa hệ link, tại chức nên chiêu thức dạy trẻ còn nhiều h ạn chế, ngh ệthuật và kinh nghiệm tay nghề giảng dạy chưa thực sự phân phối được nhu yếu đổi m ới, dẫn đến chất lượng giáo dục chưa đồng đều. Bên cạnh đó ph ụ huynh thi ếuquan tâm đến sự tăng trưởng tổng lực của trẻ do điều kiện kèm theo kinh tế tài chính khó khănhoặc khơng có nhiều thời hạn để chăm nom giáo dục con. Mặt khác c ơ s ở v ậtchất của nhà trường còn hạn chế do diện tích quy hoạnh tồn trường q hẹp, ch ưa đápứng với nhu yếu thay đổi giáo dục. Vì vậy việc nâng cao ch ất l ượng giáo d ụctrẻ nhằm mục đích thực thi tốt chất lượng giáo dục, tiếp cận thay đổi giáo d ục mầmnon, giúp trẻ tăng trưởng một cách tồn diện là rất là c ần thiết. 2. Vai trị của hoạt động giải trí tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ GVMN – Bồi dưỡng giáo viên trong nhà trường là việc làm mang tính chiến l ược, phải làm liên tục, liên tục và vĩnh viễn để xây d ựng đ ội ngũ giáo viên đ ủvề số lượng, tương thích về cơ cấu tổ chức và có chất lượng cao. Mặt khác, cơng tác b ồidưỡng giáo viên mang tính cấp bách bởi nhà tr ường phải th ực hi ện ngaynhững nhu yếu của năm học, những chỉ huy của ngành nh ằm nâng cao ch ấtlượng giáo dục như thay đổi chương trình, chiêu thức dạy h ọc … – Công tác huấn luyện và đào tạo, tu dưỡng sẽ tăng nhanh sự phát tri ển v ề chuyên mônnghiệp vụ của tổng thể giáo viên, nâng cao chất lượng dạy và học trong nhàtrường. Tham gia vào những hoạt động giải trí tu dưỡng sẽ giúp cho giáo viên thu ậnlợi khi tiếp cận với chương trình mới, có thái độ tích cực v ới nh ững thay đ ổinhanh chóng của thời đại. – Bồi dưỡng dưới nhiều hình thức phong phú và đa dạng đặc biệt quan trọng là hình th ức bồi dưỡngtại trường sẽ góp thêm phần kiến thiết xây dựng ý thức cộng tác, thao tác theo t ổ, nhómchun mơn trong nhà trường. Đẩy mạnh cơng tác huấn luyện và đào tạo, bồi d ưỡng sẽkhuyến khích giáo viên thao tác siêng năng, tích c ực đ ể th ực hi ện t ốt nhi ệm v ụcủa mình. – Khi tham gia tu dưỡng một cách tiếp tục, chuyên nghiệp và bài bản sẽ góp ph ần nângcao ý thức, tính phát minh sáng tạo trong giải pháp dạy, nh ững kỹ năng và kiến thức và thói quentự học của giáo viên. Qua tu dưỡng giúp cho giáo viên nhìn nhận đ ược kh ảnăng hoàn thành xong việc làm và sự tân tiến trong công tác làm việc của bản thân. Để cung ứng nhu yếu xã hội lúc bấy giờ, người giáo viên cần ph ải luôn luôn rènluyện đạo đức, tự học tập, tu dưỡng trình độ nhiệm vụ, nâng cao kh ảnăng sư phạm, phân phối nguyện vọng của cha mẹ, nhu c ầu h ọc t ập c ủatrẻ và nhu yếu thay đổi giáo dục giảng dạy lúc bấy giờ. Điều đó kh ẳng đ ịnh r ằng : công tác làm việc tu dưỡng trình độ cho giáo viên trong trường m ầm non là h ếtsức quan trọng, người cán bộ quản trị phải có nghĩa vụ và trách nhiệm tu dưỡng chuyênmôn, nhiệm vụ cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường. II. Yêu cầu, nội dung, chiêu thức tự tu dưỡng trình độ, nghi ệpvụ của người GVMN. 1. Yêu cầu tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN.Trước hết, mỗi giáo viên cần nhận ra một cách vừa đủ, thâm thúy những v ấnđề tương quan đến tăng trưởng chun mơn của mìnhHiện nay, nhiều giáo viên chưa hiểu đúng về năng lượng bản thân và ch ưa ch ấpnhận bản thân và đồng nghiệp. Mỗi khi có nhìn nhận, nhận xét hay xếp lo ạichuyên môn trong những kỳ nhìn nhận xếp loại theo quy đ ịnh c ủa Phòng, S ở Giáodục và Đào tạo, giáo viên thường có khuynh hướng t ự nâng m ức b ản thân b ằnghoặc cao hơn người khác. Giáo viên thường tự nhìn nhận mình đạt m ức tốt, khá ( hiếm khi tự nhìn nhận trung bình, yếu ). Thực tế, c ơ bản h ọ không mu ốnđánh giá bản thân thấp hơn người khác kể cả khi họ hiểu rằng trên th ực t ếmình chưa đạt được mức tự nhìn nhận. Mặt khác, giáo viên có xu h ướng b ằnglịng với năng lượng bản thân. Đặc biệt, với những giáo viên đ ược coi là giáoviên giỏi ln bằng lịng với tác dụng nhìn nhận hiện tại và không ti ếp t ục ph ấnđấu, học hỏi trình độ. Họ không phấn đấu đạt được nh ững tiêu chuẩncao hơn của người giáo viên trong thời kỳ mới. Thậm chí, ngay c ả khi nhu c ầuhọc tập hiện tại của học viên chưa được phân phối họ cũng ch ưa nh ận ra ho ặcchưa chăm sóc đến. Giúp giáo viên có năng lực nhận ra, biết gật đầu mỗi cá thể h ọcsinhKhi biết gật đầu học viên như một thành viên độc lập, họ sẽ biết ch ấp nh ậnbản thân và ngược lại. Chấp nhận học viên là điều kiện kèm theo cần để tiến hànhgiáo dục theo quan điểm giáo dục lấy học viên làm TT. Ng ười giáoviên có biết gật đầu học viên thì mới hoàn toàn có thể tạo ra môi tr ường học t ậpthoải mái và triển khai bài học kinh nghiệm có ý nghĩa. Họ hoàn toàn có thể thể hiện tình yêuthương, trân trọng với toàn bộ học viên như con em của mình của chính mình, nếu mộtlớp học có 30 em học viên thì cả 30 em đều được yêu quý nh ư nhau. Hiện nay, những cấp quản trị giáo dục luôn nhu yếu và mong ước giáo viênquan tâm đến mọi đối tượng người tiêu dùng học viên ( đặc biệt quan trọng những h ọc sinh có khó khăntrong học tập ) trong quy trình dạy học nhưng nhận ra khi nào cần ph ải quantâm như thế nào, làm thế nào để học có thói quen tự giác, tiếp tục quantâm đến học viên thì khơng thuận tiện. Giáo viên cần hiểu đúng và vận dụng được giải pháp giáo dục mớivào thực tiễn giảng dạy hàng ngàyThực tế lúc bấy giờ đội ngũ giáo viên tiểu học được đào tạo và giảng dạy và tu dưỡng hàngnăm về giải pháp dạy học mới. Nhưng giữa lý thuy ết và th ực tế, gi ữanhận thức và hành vi ln có khoảng cách lớn. Trong những ch ương trìnhbồi dưỡng vẫn cịn nhiều giáo viên chưa hiểu đúng và đủ bản ch ất v ấn đ ề. Chỉ khi khởi đầu vào vận dụng th ực tế dạy học trên lớp, họ m ới th ực s ự g ặpphải khó khăn vất vả. Nhiều giáo viên hoàn toàn có thể biết và hiểu triết lý nh ưng trong th ực hành tácnghiệp, trước những trường hợp phong phú, ph ức tạp phát sinh trong vi ệc h ọccủa học viên, việc vận dụng kim chỉ nan để xử lý những yếu tố th ực tế cịnnhiều khó khăn vất vả. Thậm chí, do có nhiều giáo viên hiểu chưa đúng, nên số đơngtrong số họ cịn lo lắng và thiếu quyết tâm vận dụng cái mới. Khi triển khai Chương trình Giáo dục đào tạo, nhiều giáo viên vẫn tin r ằng ch ỉ cần c ốgắng dạy học theo đúng, đủ những gì theo SGK, SGV là tốt r ồi. T ừ đó có ý th ứcthực hiện dạy học theo khuôn mẫu một cách thụ động. Khi họ muốn thay đ ổicho tương thích trong thực tiễn nhưng lại gặp khó khăn vất vả khi khơng bi ết ph ải thay đ ổinhư thế nào và làm cách nào để đổi khác. Giáo viên cần được khuyến khích và tương hỗ tự học nâng cao năng lượng vàđổi mới chiêu thức dạy họcChủ trương của ngành Giáo dục đào tạo – Đào tạo khuyến khích giáo viên t ự h ọc nângcao năng lượng trình độ và thay đổi giải pháp dạy học, tuy nhiên trên th ực tếthì việc khuyến khích và hỗ trợ giáo viên thực thi việc tự học còn h ạn chế. Giáo viên sẽ tự học những gì, như thế nào, khi nào và ở đâu để bảo vệ hiệuquả thiết thực cho việc làm dạy học hàng ngày, phân phối tốt việc h ọc c ủa h ọcsinh là những câu hỏi lớn mỗi giáo viên khơng thể tự mình gi ải quy ết. M ặc dùhầu hết giáo viên đều được khuyến khích học để nâng cao trình đ ộ đào t ạo ( đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo và giảng dạy ) nhưng năng lượng trình độ đápứng thay đổi chiêu thức dạy học theo hướng lấy học viên làm trung tâmcòn nhiều hạn chế. Điều này biểu lộ ở th ực trạng lúc bấy giờ, tr ước đ ịnhhướng của những cấp quản trị giáo dục được cho phép và khuy ến khích giáo viên v ậndụng, kiểm soát và điều chỉnh nội dung những bài học kinh nghiệm trong SGK cho phù h ợp v ới những đ ốitượng học viên nhưng do chưa có hiểu biết sâu rộng về nội dung bài h ọc đónên nhiều giáo viên chưa dám hoặc khơng có năng lực th ực hiện, h ọ vẫn ch ỉdạy những gì có sẵn trong SGK. Mặc dù tỉ lệ giáo viên đạt trình đ ộ đào t ạotrên chuẩn ( đã tốt nghiệp ĐH, cao đẳng ) khá cao nh ưng năng l ực chuyênmôn vẫn chưa phân phối nhu yếu thay đổi lúc bấy giờ. Điều đó ch ứng t ỏ c ơ h ộihọc tập thực sự có ý nghĩa để nâng cao năng l ực trình độ c ủa giáo viênvẫn chưa bảo vệ. Trong khi thời cơ tự học chỉ hoàn toàn có thể được tạo ra và phát huy trên c ơ s ở t ạo racác ” trường hợp học tập cộng tác ” giữa những giáo viên. ” Tình huống h ọc t ậpcộng tác ” đó chỉ hoàn toàn có thể Open khi những nhà trường tổ chức triển khai cho giáo viên cácbuổi để họ ” san sẻ trình độ ” trong hoạt động và sinh hoạt chuyên mơn theo cách tiếpcận mới. Trong đó, họ có thời cơ được học hỏi bằng quy trình t ự tr ải nghiệm, học hỏi từ đồng nghiệp nhờ phong cách thiết kế giáo án, thực thi, dự giờ nhiều bài h ọcở những lớp học khác nhau. Đó là con đường học tập thiết th ực, hiệu suất cao và phùhợp nhất lúc bấy giờ so với tổng thể những giáo viên. Đổi mới cách tiếp cận và phương pháp tổ chức triển khai thực hiện sinh hoạtchuyên môn ở nhà trườngHiện nay, ở toàn bộ những nhà trường, hàng tuần và tháng vẫn duy trì truy ềnthống và nền nếp tổ chức triển khai những buổi hoạt động và sinh hoạt trình độ cho giáo viên. Tuynhiên, cách tiếp cận và phương pháp tổ chức triển khai thực thi vẫn chưa thực sự đổimới, chưa mang đặc thù san sẻ chun mơn vì vẫn còn thiên v ề nhìn nhận, so sánh so với tiêu chuẩn hoặc có tính ” làm mẫu ” của giáo viên gi ỏi. Trongkhi trong thực tiễn năng lượng mỗi cá thể giáo viên khác nhau, hoàn c ảnh và đi ều ki ệndạy học khác nhau, việc học của học viên ở những gi ờ học lại luôn luôn biến đ ổi. Do đó, tổng thể những giáo viên cần được tham gia vào quy trình h ọc t ập b ằng th ựctế theo phương pháp san sẻ trình độ. Người giáo viên luôn luôn cần được trau dồi, bổ trợ, và nâng cao kh ả năngchuyên môn để phân phối nhu yếu ngày càng cao của người học, s ự bi ến đ ổicủa những yếu tố trong quy trình giáo dục ( nội dung ch ương trình, ph ươngpháp, người học, … ). Xuất phát từ những yếu tố nêu trên, cần có một cách tiếp cận m ới, quantrọng và có ý nghĩa để tăng trưởng những năng lượng trình độ giáo viên đó là t ạocơ hội cho giáo viên được liên tục tham gia hoạt động và sinh hoạt trình độ. Đâylà cách tiếp cận mới giúp giáo viên học tập lẫn nhau trong th ực tế và quathực tế trải qua thưởng thức thực sự vào quy trình dự giờ-quan sát-suyngẫm và san sẻ trong thực tiễn việc học của học viên để tăng trưởng những năng l ực m ớivà thiết yếu, phân phối nhu yếu nâng cao chất lượng học tập cho học viên. H ơnthế nữa, trong thực tiễn đã chứng tỏ, hoạt động và sinh hoạt trình độ không ch ỉ giúp nângcao năng lượng chun mơn cho mỗi giáo viên mà cịn xây d ựng đ ược ” tính đ ồngnghiệp ” tốt đẹp trong một ” hội đồng học tập ” ; giúp h ọ tìm th ấy ý nghĩa vànhững giá trị mới và sự mê hoặc của nghề nghiệp, qua đó khuyến khích sự say mêchun mơn, tích cực và dữ thế chủ động kiến thiết xây dựng lại và đổi m ới nhà tr ường. 2. Nội dung tự tu dưỡng trình độ, nhiệm vụ của người GVMN.Nội dung tu dưỡng gồm có 03 chương trình : ch ương trình bồi d ưỡng c ậpnhật kỹ năng và kiến thức, kiến thức và kỹ năng nhiệm vụ thực thi trách nhiệm năm h ọc giáo d ụcmầm non vận dụng trong cả nước ; chương trình tu dưỡng c ập nh ật ki ếnthức, kiến thức và kỹ năng nhiệm vụ triển khai trách nhiệm tăng trưởng giáo d ục m ầm nontheo từng thời kỳ của mỗi địa phương ; chương trình tu dưỡng phát triểnnăng lực nghề nghiệp phân phối nhu yếu vị trí việc làm, kiến th ức, kỹ năngchuyên ngành. Nội dung chương trình tu dưỡng tăng trưởng năng lượng nghề nghiệp đáp ứngyêu cầu vị trí việc làm, kỹ năng và kiến thức, kỹ năng và kiến thức chuyên ngành phải bồi d ưỡng 5 tiêu chuẩn gồm : Phẩm chất nhà giáo ; trình độ nhiệm vụ sư phạm ; xâydựng thiên nhiên và môi trường giáo dục ; phối hợp với mái ấm gia đình và cộng đ ồng ; s ử d ụngngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc bản địa và công nghệ thông tin ; th ể hiện kh ả năngnghệ thuật trong chăm nom, giáo dục trẻ mầm non. Trong đó nhu yếu cần đạtđược so với trình độ nhiệm vụ sư phạm đơn cử như sau : – Phát triển Chương trình GDMN tương thích với sự tăng trưởng c ủa tr ẻ em và b ốicảnh địa phương : Phân tích được sự thiết yếu và nhu yếu của phát tri ểnChương trình giáo dục ở những cơ sở GDMN trong toàn cảnh lúc bấy giờ ; v ận d ụngkiến thức được trang bị để tăng trưởng Chương trình GDMN phù h ợp v ới s ựphát triển của trẻ nhỏ và bối cảnh địa phương ; hỗ tr ợ đồng nghiệp trong pháttriển Chương trình giáo dục tại cơ sở GDMN – Lập kế hoạch giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm, lớp trong những cơ s ở GDMN : Phântích được nhu yếu của những loại kế hoạch giáo dục ; Vận dụng kiến th ức đãđược trang bị vào lập được những loại kế hoạch giáo dục trẻ nhỏ trong nhóm, lớp cung ứng nhu yếu tăng trưởng của trẻ nhỏ và điều kiện kèm theo th ực tiễn ; Hỗ tr ợđồng nghiệp trong lập kế hoạch giáo dục – Tổ chức hoạt động giải trí ni dưỡng, chăm nom trẻ nhỏ trong nhóm, lớp : Phân tíchđược u cầu so với những hoạt động giải trí ni dưỡng, chăm nom tr ẻ em trongnhóm, lớp ; vận dụng kiến thức và kỹ năng được trang bị vào tổ chức triển khai những hoạt động giải trí nidưỡng, chăm nom trẻ nhỏ trong nhóm, lớp phân phối nhu yếu tăng trưởng của trẻem và điều kiện kèm theo thực tiễn ; Hỗ trợ đồng nghiệp trong tổ chức triển khai, thực thi nidưỡng, chăm nom trẻ nhỏ trong nhóm, lớp. – Đảm bảo an tồn cho trẻ trong những cơ sở GGMN : Phân tích được những nhu yếu, lao lý về bảo vệ bảo đảm an toàn cho trẻ nhỏ trong c ơ s ở GDMN ; v ận d ụng cáckiến thức được trang bị vào nhìn nhận mức độ bảo vệ bảo đảm an toàn cho trẻ emcủa cơ sở GDMN mình đang cơng tác xác lập được hạn ch ế và nguyên nhâncủa những hạn chế ; yêu cầu giải pháp nâng cao hiệu suất cao phịng tránh và x ửlí một số ít trường hợp mất an tồn cho trẻ nhỏ trong cơ sở GDMN – Kĩ năng sơ cứu – phòng tránh và xử lí một số ít trường hợp nguy hi ểm, b ệnhthường gặp ở trẻ nhỏ : Phân tích được những trường hợp nguy khốn, nh ận diệnđược những bộc lộ về bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ trong cơ sở GDMN ; vậndụng kỹ năng và kiến thức được trang bị vào nhìn nhận mức độ thực thi kĩ năng s ơ c ứu, giải quyết và xử lý 1 số ít trường hợp nguy khốn, bệnh thường gặp cho trẻ nhỏ trong cơ sởGDMN ; đề xuất kiến nghị được một số ít giải pháp nâng cao hiệu suất cao th ực hiện s ơ c ứuvà phịng tránh, xử lí được một số ít trường hợp nguy hại, bệnh th ường g ặp ởtrẻ em trong cơ sở GDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng nhận th ức cho trẻ nhỏ theo quan đi ểmgiáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích được cơ sở lý luận của pháttriển nhận thức cho trẻ nhỏ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm trungtâm ; vận dụng kiến thức và kỹ năng được trang bị vào nhìn nhận tình hình và phát hiệncác hạn chế trong tổ chức triển khai hoạt động giải trí tăng trưởng nh ận th ức theo quan đi ểmgiáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; đề xuất kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu qu ả t ổchức hoạt động giải trí tăng trưởng nhận thức theo quan điểm giáo dục l ấy trẻ emlàm TT trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng hoạt động cho trẻ nhỏ theo quan điểm giáodục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích được cơ sở lý luận của phát tri ểnvận động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; vận dụng ki ếnthức được trang bị vào nhìn nhận tình hình và phát hiện những hạn chế trong t ổchức hoạt động giải trí tăng trưởng hoạt động theo quan điểm giáo d ục l ấy tr ẻ em làmtrung tâm ; yêu cầu giải pháp nâng cao hiệu suất cao tổ ch ức hoạt động giải trí pháttriển hoạt động theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT trongnhóm, lớp tại cơ sở GDMN. – Tổ chức những hoạt động giải trí tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt cho tr ẻem theo quan điểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT : Phân tích đ ược c ơ s ởlý luận của giáo dục tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt theo quanđiểm giáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT ; vận dụng kiến th ức đ ược trang b ịvào nhìn nhận tình hình và phát hiện những hạn ch ế trong tổ ch ức ho ạt đ ộnggiáo dục tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt theo quan điểm giáo d ụclấy trẻ nhỏ làm TT ; đề xuất kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu suất cao tổ ch ức hoạtđộng giáo dục tăng trưởng ngôn từ / tăng cường tiếng Việt theo quan đi ểmgiáo dục lấy trẻ nhỏ làm TT trong nhóm, lớp tại cơ sở GDMN ; nâng caokỹ năng cho giáo viên trong việc sử dụng những bộ công cụ h ỗ tr ợ trong ho ạtđộng giảng dạy hàng ngày lấy trẻ nhỏ làm TT, đ ặc biệt v ới những nhómtrẻ học hịa nhập .

Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập