BÀI THU HOẠCH Bồi dưỡng thường xuyên cá nhân module 1 THCS – Tài liệu text
BÀI THU HOẠCH Bồi dưỡng thường xuyên cá nhân module 1 THCS
Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (274.51 KB, 15 trang )
TRƯỜNG THCS VŨNG THƠM
TỔ: HÓA- SINH-TD
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Phú Tâm, ngày 15 tháng 10 năm 2016
BÀI THU HOẠCH
Bồi dưỡng thường xuyên cá nhân – Năm học 2016-2017
Mô đun 1 THCS : ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÍ HỌC SINH THCS
– Họ và tên: LÝ SẬY
Năm sinh: 1985
– Năm vào ngành: 2009
Chức vụ: Giáo viên
– Trình độ chuyên môn: CĐSP THỂ DỤC – SINH
– Nhiệm vụ được giao: Giảng dạy môn Thể dục lớp 8, 9
– Nội dung thu hoạch:
PHẦN 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN
Lứa tuổi học sinh THCS (lứa tuổi thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp
trong sự phát triển của con người diển ra giữa giai đoạn trẻ em và tuổi trưởng
thành. Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, cho phép tạo nội
dung cơ bản và sự khác biệt đặc thù về mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, giao
tiếp, tình cảm, đạo đức… của các em. Bởi vậy giáo viên cần nắm được vị trí và ý
nghĩa của giai đoạn phát triển lâm lí thiếu niên, những khó khăn, thuận lợi trong sự
phát triển tâm, sinh lí của HS THCS để giảng dạy, giáo dục HS.
Module này gồm các nội dung sau:
– Khái quát về giai đoạn phát triển của lứa tuổi HS THCS.
– Hoạt động giao tiếp của HS THCS.
– Phát triển nhận thức của HS THCS.
– Phát triển nhân cách của HS THCS.
– Phát triển các kĩ năng sống của HS THCS.
PHẦN 2: MỤC TIÊU
1. Về kiến thức:
Nắm được vị trí, ý nghĩa cửa giai đoạn phát triển tuổi HS THCS trong sụ phát triển
cả đời người, những biến đổi mạnh mẽ vỂ mọi mặt cửa sụ phát triển lứa tuổi: về
thể chất, về nhận thức, về giao tiếp, về nhân cách…
2. Về kĩ năng:
Vận dụng các hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lí củaa HS THCS, những thuận lợi
và khó khăn của lứa tuổi vào việc giảng dạy và giáo dục HS có hiệu quả.
3. Về thái độ:
Thái độ thông cảm, chia sẽ và giúp đỡ HS THCS, đặc biệt với HS cá biệt do các em
đang trong giai đoạn phát triển quá độ với nhiều khó khăn.
PHẦN 3: NỘI DUNG
Hoạt động 1: Tìm hiểu khái quát về giai đoạn phát triển của lứa tuổi học
sinh trung học cơ sở
Là GV THCS, để đạt đuợc kết quả cao trong dạy học và GD HS, bạn đã từng tìm hiểu
về đặc điểm phát triển của mọi lứa tuổi HS THCS; đã cỏ nhiều kinh nghiệm trong giao
tiếp, ứng xử với các em. Bạn hãy nhớ lại và viết ra suy nghĩ của mình để thực hiện một
sổ yêu cầu sau:
a. Vị trí và ý nghĩa của giai đoạn tuổi thiếu niên (tuổi HS THCS) trong sự phát triển con
người.
– Lứa tuổi HS THCS bao gồm những em cỏ độ tuổi từ 11 – 15 tuổi. Đó là những em
đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS.
Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt trong quá trình
phát triển của trẻ em.
– Tuổi thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cả đời người, được thể hiện ở
những điểm sau:
+ Thứ nhất: Đây là thời kì quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trường thành, thời kì trẻ ờ ba
đường” của sự phát triển. Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con
đưòng để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân. Trong thời kì này, nếu sự phát triển đượ
định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân
tốt. Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bời các yếu tổ tiêu cực thì sẽ xuất hiện
hàng loạt nguy cơ dẫn trẻ em đến bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái
độ, hành vi và nhân cách.
+ Thứ hai: Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt
trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc
lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những kế hoạch
hành động cá nhân tương ứng.
+
Thứ ba:
Trong suốt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình
thành các cẩu trúc mới về thể chất, sinh lí, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lí,
nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành. Từ đó hình thành cơ sờ
nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc
thù riêng của lứa tuổi.
+
Thứ tư:
Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá
trình phát triển. Ngay các tên gọi của thời kì này: thời kì “quá độ”, “tuổi khó khăn”,
“tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát
triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên. Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của nhân
cách phát triển của trẻ. Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của
người lớn. Mặt khác, hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sụ phát
triển tính người lớn: Phần lớn thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ khác với gia
đình; nhiều bậc cha mẹ quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo việc gia đình…
Hoạt động 2. Các điêu kiện phát triến tâm lí của học sinh trung học cơ
sở.
a. Sự phát triển cơ thể:
Bước vào tuổi thiếu niên có sự cải tổ lại rất mạnh mẽ và sâu sắc về cơ thể, về sinh
lí. Trong suốt quá trình trưởng thành và phát triển cơ thể của cá nhân, đây là giai đoạn
phát triển nhanh thứ hai, sau giai đoạn sơ sinh. Sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí cửa
thiếu niên có đặc điểm là: tốc độ phát triển cơ thể nhanh, mạnh mẽ, quyết ỉiệt nhưng không cân
đối. Đồng thờĩ xuất hiện yếu tố mới mà ở lứa tuổi trước chưa có.
Tác nhân quan trọng ảnh huớng
đến sự cải tổ thể chất – sinh lí của tuổi thiếu niên là các hormone, chế độ lao động và
dinh dưỡng.
– Sự phảt triển của chiều cao và trọng lượng:
Chiều cao của các em tăng rất nhanh: trung bình một năm, các em gái cao thêm 5 6 cm, các em trai cao thêm 7 – 8 cm. Trọng lượng của các em tăng từ 2 – 5kg /năm, sự
tăng vòng ngực của thiếu niên trai và gái…
Sự gia tổc phát triển về thể chất của trẻ em biểu hiện đặc biệt trong lứa tuổi thiếu
niên. Trong khoảng 20 – 30 năm gần đây, thiếu niên phát triển với nhịp độ nhanh
chống, các em trở nên cao, to, khỏe mạnh hơn những thiếu niên cùng tuổi ở 30 năm
trước. Theo kết quả đo đạc của chương trình KHXH-04- 04 (năm 1996), HS thế hệ
hiện tại cao hơn thế hệ 1975 trung bình 9 cm ở nam và 7,7cm ở nữ; về cân nặng tăng
6,2kg ở nam và 3,3kg ở nữ.
Chiều cao trung bình cửa thiếu niên 15 tuổi Việt Nam:
+ Năm 1975: nam 146,2cm; nữ: 143,4cm.
+ Năm 1906: nam: 156,33cm; nữ: 151,56cm.
– Sự phát triển của hệ xương:
Hệ xương đang diễn ra quá trình tiến hoá về hình thái, làm cho thiếu niên lớn lên
rất nhanh, xương sọ phần mặt phát triển mạnh. Ở các em gái đang diễn ra quá trình
hoàn thiện các mảnh của xương chậu (chứa đựng chức năng làm mẹ sau này) và kết
thúc vào tuổi 20-21. Bởi vậy, cần tránh cho các em đi giày, guổc cao gót, tránh nhảy
quá cao để khỏi ảnh huớng đến chức năng sinh sản của các em.
Từ 12 đến 15 tuổi, phần tăng thêm của xương sống phát triển chậm hơn so với
nhịp độ lớn lên về chiều cao của thân thể. Dưới 14 tuổi vẫn còn có các đổt sụn hoàn
toàn giữa các đốt xương sống, do đó cột sống dễ bị cong, bị vẹo khi đứng, ngồi, vận
động, mang vác vật nặng… không đúng tư thế (Sừ hỏng tư thế diễn ra nhiều nhất ờ
tuổi 11 đến 15). Do đó, cần chú ý nhắc nhở giúp các em tránh những sai lệch về cột
sống.
Khuôn mặt thiếu niên cũng thay đổi do sự phát triển nhanh chống phần phía trước
của hộp xương sọ. Điều này khiến cho tỉ lệ chung ờ thân thể thiếu nìên thay đổi so với
trẻ nhỏ và đã có tỉ lệ đặc trưng cho người lớn. Đến cuối tuổi thiếu niên, sự phát triển
thể chất đạt mức tối đa.
– Sự phát triển của hệ cơ:
Sự tâng khối lượng các bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thời
kì dậy thì. Cuối tuổi thiếu niên, cơ thể của các em đã rẩt khỏe mạnh (các em trai thích
đọ tay, đá bóng để thể hiện sức mạnh của cơ bắp…). Tuy nhiên, Cơ thể thiếu niên
chống mệt và các em không lầm việc lâu bền như người lớn. Nên chú ý điều đó khi tổ
chức lao động, luyện tập thể thao, hoạt động ngoại khoá cho các em.
Sự phát triển hệ cơ của thiếu niên trai và gái diễn ra theo hai kiểu khác nhau, đặc
trưng cho nam giới: Các em trai cao nhanh, vai rộng, cơ vai, bắp tay, bắp chân phát
triển mạnh, tạo nên sức mạnh mẽ của nam giới sau này. Các em gái tròn trặn dần,
ngực nở, xương châu rộng… tạo nên sụ mềm mại, duyên dáng của thiếu nữ. (Song quá
trình này kết thúc ngoài giới hạn của tuổi thiếu niên).
– Sự phát triển không cân đối của các hệ cơ quan:
Hệ cơ phát triển chậm hơn hệ xương. Trong sự phát triển của hệ xương thì xương
tay, xương chân phát triển mạnh nhưng xương lồng ngực phát triển chậm hơn. Sự
phát triển giữa xương bàn tay và các xương đốt ngón tay không đồng đều. Sự cải tổ
bộ máy vận động làm mất đi sự nhịp nhàng của các cử động, làm thiếu niên lúng túng,
vụng về, vận động thiếu hài hoà, nảy sinh ở các em cảm xúc không thoải mái, thiếu tự
tin.
Hệ tim mạch phát triển cũng không cân đối. Thể tích tim tăng nhanh, tim to hơn,
hoat động mạnh hơn, trong khi đường kính của các mạch máu lại phát triển chậm hơn
dẫn đến sự rối loạn tạm thời của tuần hoàn máu. Do đó thiếu niên thường bị mệt mỏi,
chống mặt, nhức đầu, huyết áp tăng… khi phải làm việc quá sức hoặc làm việc trong
một thời gian kéo dài.
Sự phát triển của hệ thần kinh không cân đối. Sự phát triển của hệ thống tín hiệu
thứ nhất và tín hiệu thứ hai, giữa hưng phấn và ức chế cũng diễn ra mất cân đối (Quá
trình hưng phấn mạnh hơn ức chế).
Trong lứa tuổi thiếu niên có sự thay đổi đột ngột bên trong cơ thể do những thay
đổi trong hệ thống các tuyến nội tiết đang hoạt động tích cực (đặc biệt những hocmon
của tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục). Do hệ thống tuyến nội tiết và hệ thần kinh có
liên quan với nhau về chức năng nên một mặt nghị lực của thiếu niên tăng mạnh mẽ,
mặt khác các em lại nhảy cảm cao với các động tác bệnh, vì vậy làm việc quá sức, sự
căng thẳng thần kinh kéo dài, sự xúc động và những cảm xức tiêu cực có thể là
nguyên nhân gây rối loạn nội tiết và rối loạn chức năng của hệ thần kinh.
– Sự xuất hiện của tuyến smh dục (hiện trạng dậy thì):
Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự phát triển cơ thể
ờ lứa tuổi thiếu niên.
Dấu hiệu dậy thì ờ em gái là sự xuất hiện kinh nguyệt sự phát triển của tuyến vú
(vú và núm vú nhô lên, quầng vú rộng) ở em trai là hiện tượng “vỡ giọng”, sự tăng lên
của thể tích tinh hoàn và bắt đầu có hiện tương “mộng tinh”. Tuổi dậy thì ờ các em gái
Việt Nam vào khoảng tù 12 đến 14 tuổi, ờ các em trai bất đầu và kết thúc chậm hơn
các em gái khoảng từ 1,5 đến 2 năm.
Dấu hiệu phụ báo hiệu tuổi dậy thì cỏ sự khác nhau giữa các em trai và gái. Các
em trai cao rất nhanh, giọng nói ồm ồm, vai to, cỏ ria mép…
Các em gái cũng lớn nhanh, thân hình duyên dáng, da dẻ hồng hào, tóc mượt mà,
môi đỏ, giọng nói trong treo…
Sụ xuất hiện tuổi dậy thì phụ thuộc yếu tổ khí hậu, thể chất, dân tộc, chế độ sinh
hoạt (vật chất, tinh thần), loi sổng… Tuy nhiên, hiện nay do gia tốc phát triển thể chất
và phát dục nên tuổi dậy thì có thể đến sớm hơn từ 1,5 đến 2 năm.
Tuổi dậy thì
Đến 15 – 16 tuổi, giai đoạn dậy thì kết thúc. Các em có thể sinh sản được nhưng
các em chưa trưởng thành về mặt cơ thể, đặc biệt về mặt tâm lí và xã hội. Bởi vậy lứa
tuổi HS THCS được coi là không có sự cân đối giữa việc phát dục, giữa bản năng
tương ứng, những tình cảm và ham muốn tình dục với mức độ trưởng thành về xã hội
và tâm lí. vì thế, người lớn (cha mẹ, giáo viên, các nhà giáo dục…) cần hướng dẫn, trợ
giúp một cách khéo léo, tế nhị để các em hiểu đúng vấn đề, biết xây dựng mối quan
hệ đúng đắn với bạn khác giới… và không băn khoăn lo lắng khi bước vào tuổi dậy
thì.
Sự phát dục và những biến đổi trong sự phát triển thể chất của thiếu niên có ý
nghĩa quan trọng đối với sự xuất hiện những cấu tạo tâm lí mới. Những biến đổi rõ rệt
về mặt giải phẫu sinh lí đổi với thiếu niên đã làm cho các em trở thành người lớn một
cách khách quan và làm nảy sinh cảm giác về tính người lớn của bản thân các em. Sự
phát dục làm cho thiếu niên xuất hiện những cảm giác, tình cảm và rung cảm mới
mang tính chất giới tính, các em quan tâm nhiều hơn đến người khác giới.
Tuy nhiên, những ảnh hường trên đến sự phát triển tâm lí của HS THCS còn phụ
thuộc nhiều yếu tố: kinh nghiệm sống, đặc điểm giao tiếp của thiếu niên, những hoàn
cảnh riêng trong đời sống và điều kiện giáo dục (Giáo dục gia đình và giáo dục nhà
trường) đổi với các em.
– Đặc điểm về hoạt động của não và thần kinh cấp cao của thiếu niên:
Ở tuổi thiếu niên, não có sự phát triển mới giúp các chức năng trí tuệ phát triển
mạnh mẽ. Các vùng thái dương, vùng đỉnh, vùng trán, các tua nhánh phát triển rất
nhanh, tạo điều kiện nối liền các vùng này với vỏ não, các nơron thần kinh đuợc liên
kết với nhau, hình thành các chức năng trí tuệ.
Giải phẩu não
Những quá trình hưng phấn chiếm ưu thế rõ rệt ức chế phân biệt bị kém đi, hưng phấn
phát triển mạnh, lan tỏả cả vùng dưới võ. Vì vậy, thiếu niên dễ bị “hậu đậu”, cónhiễu
động tác phụ của đầu, chân, tay trong khi vận động hay tham gia các hoạt động. Do
các quá trình hưng phấn mạnh, chiếm ưu thế và các quá trình ức chế cóđiều kiện bị
suy giảm nên thiếu niên không làm chủ được cảm xúc, không kiềm chế đuợc xúc động
mạnh. Bời vậy, HS THCS dế nổi nóng, có phán ứng vô cớ, dễ bị kích động, mất bình
tĩnh… nên dễ vi phạm kỉ luật. Ở thiếu niên có sự mất cân đối giữa hệ thổng tín hiệu thứ
nhất và hệ thổng tín hiệu thứ hai. Do đó, ngôn ngữ của các em cũng thay đổi: nói chậm
hơn, ngâp ngùng, nói “nhát gùng”… Tuy nhiên, sự mất cân bằng trên chỉ có tính chất
tạm thời. Khoảng 15 tuổi trở đi thì vai trò của hệ thổng tín hiệu thứ hai tăng, sự ức chế
trong được tăng cường, quá trình hưng phấn và ức chế cân đối hơn. Nhờ vậy, các
em sẽ bước vào tuổi thanh niên với sự hài hoà của hai hệ thổng tín hiệu, của hưng
phấn và ức chế ở võ não và dưới vỏ.
Tóm lại, cơ thể thiếu niên đang chịu một phụ tải đáng kể do sự phát triển nhảy vọt
về thể chất trong sự cải tổ giải phẫu sinh lí cơ thể do hoạt động mạnh của các tuyến
nội tiết dẫn tới hiện tương dậy thì ờ thiếu niên. Những mâu thuẫn tạm thời chỉ dĩến ra
trong quá trình cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí trong một thời gian ngắn. Đến cuối tuổi
thiếu niên, sừ phát triển về thể chất sẽ êm ả hơn.
b. Điều kiện xã hội
Vị trí của thiếu niên trong xã hội: Thiếu niên có những quyền hạn và trách nhiệm
xã hội lớn hơn so với HS tiểu học: 14 tuổi các em đuợc làm chứng minh thư. cùng với
học tập, HS THCS tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú: giáo dục các em nhỏ;
giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đinh có công với cách mạng; tham gia
các hoạt động tập thể chống tệ nạn xã hội; làm tình nguyện viên; vệ sinh trường lớp,
đường phố… Điều này giúp cho HS THCS mở rộng các quan hệ xã hội, kinh nghiệm
sổng thêm phong phú, ý thức xã hội được nâng cao.
Vị trí của thiếu niên trong gia đình:
Thiếu niên được thừa nhận là một thành viên tích cực
trong gia đình, được giao một số nhiệm vụ như: chăm sóc em nhro, nấu ăn, dọn dep…
Ở những gia đinh khó khăn, các em đã tham gia lao động thực sự, góp phần thu nhập
cho gia đình. HS THCS được cha me trao đổi, bàn bạc một số công việc trong nhà.
Các em quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín gia đình. Nhìn chung, các em ý
thức được vị thế mới của mình trong gia đình và thực hiện một cách tích cực. Tuy
nhiên, đa số thiếu niên vẫn còn đi học, các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ về kinh tế,
giáo dục… Điều này tạo ra hoàn cảnh có tính hai mặt trong đời sổng của thiếu niên
trong gia đình.
Vị thế của thiếu niên trong nhà trường THCS: Vị thế của HS THCS hơn hẳn vị
thế cửa HS tiểu học. HS THCS ít phụ thuộc vào giáo viên hơn so với nhi đồng. Các
em học tập theo phân môn. Mỗi môn học do một giáo viên đảm nhiệm. Mỗi giáo viên
có yêu cầu khác nhau đối với HS, có trình độ, tay nghề, phẩm chất sư phạm và có
phong cách giảng dạy riêng đòi hỏi HS THCS phải thích ứng với những yêu cầu mới
của các giáo viên. Sự thay đổi này cỏ thể tạo ra những khó khăn nhất định cho HS
nhưng lại là yếu tố khách quan để các em dần có được phương thức nhận thức người
khác.
Tóm lại, sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của thiếu niên ờ trong gia
đình, nhà trường, xã hội mà vị trí của thiếu niên đuợc nâng lên. Thiếu niên ý thức
được sự thay đổi và tích cực hoạt động để phù hợp với sự thay đổi đó. Vì thế đặc
điểm tâm lí, nhân cách của HS THCS hình thành và phát triển phong phú hơn so với
các lứa tuổi trước.
c. Bài tập tình huống:
Hai bà me tâm sụ với nhau. Một bà mẹ nói: “Đứa con gái nhà tôi mỏi 13 tuổi mà
đã cao gần bằng mẹ. cháu ăn được. Ngủ thì sét đánh ngang tai chẳng dậy. Nhưng sao
trông nỏ còm còm thế nào ấy”. Bà mẹ thú hai hường úng: “Con bé nhà tôi cũng thế.
Nỏ cùng tuổi với con gái chị đấy. Nó cao võng lên, chân tay thì dài ngoẵng ra, làm gì
thì hậu đậu ơi là hậu đậu. Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu…
Vận dụng kiến thúc về sinh lí học lứa tuổi thiếu niên (HS THCS) nói chuyện với
các bà me để họ yên tâm.
Giải thích hiện tượng:
Nội dung trao đổi tâm sự của hai bà mẹ đều nói về những biến đổi về thể chất, về
sinh lí của lứa tuổi thiếu niên (tuổi HS THCS). Sự phát triển thể chất của thiếu niên
diễn ra với tốc độ phát triển nhanh, mạnh mẽ, quyết liệt nhưng không cân đối…..
Điều này khiến các em, đặc biệt các em gái cao nhanh, chân tay dài ra nhưng hệ cơ
phát triển chậm hơn làm các em “cao võng lên, chân tay dài ngoẵng.. Mặt khác trong
sự phát triển của hệ xương thi xương chân, xương tay phát triển nhanh nhưng xương
cổ tay và các đốt ngón tay chưa hoàn thiện nên các thao tác hành vi ở các em còn lóng
ngóng làm gì thì hậu đậu… Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu…”. Tuy nhiên
sự mất cân đối trên chỉ diến ra trong thời gian ngắn. Đến cuối tuổi thiếu niên, sự phát
triển thể chất sẽ êm ả hơn.
Do đó, các bà mẹ nên hiểu và thông cám với khó khăn của con em, không chế
giễu, trách mắng các em và hướng dẫn giúp HS THCS tự tin vượt qua khó khăn của
lứa tuổi.
Hoạt động 3: Tìm hiểu hoạt động phát triển kĩ năng sống cho học sinh THCS
1. Sự phát triến mạnh mẻ của tự ý thức
a. Ý nghĩa của tự ý thức đối với học sinh trumg học cơ sở:
Sự hình thành tự ý thức là một trong những đặc điểm đặc trưng trong sự phát triển
nhân cách của thiếu niên. Mức độ phát triển về chất của tự ý thức sẽ ảnh hường đến
toàn bộ đời sống tâm lí của thiếu niên, đến tính chất hoạt động của các em cũng như
việc hình thành mối quan hệ của thiếu niên với những người khác. Trên cơ sờ nhận
thức và đánh giá được mình, các em mới cỏ khả năng điều khiển, điều chỉnh hoạt
động của bản thân cho phù hợp với yêu cầu khách quan, giữ được vị trí xứng đáng
trong xã hội, trong lớp học, trong nhóm bạn.
Khi vào tuổi thiếu niên, do sự đột biến của cơ thể ờ tuổi dậy thì, trước hoàn cảnh
học tập mới, đặc biệt do sự phát triển các quan hệ xã hội, sự giao tiếp trong tập thể mà
ờ thiếu niên xuất hiện nhu cầu quan tâm đến nội tâm của mình, đến những phẩm chất nhân
cách riêng, xuất hiện nhu cầu tự đánh gía, so sánh mình với người khác. Điều này khiến
HS THCS muổn xem xét lại mình, muốn tỏ thái độ mới về mình. Các em có nhu cầu
tự khẳng định mình trước người lớn, biểu hiện ờ chỗ: các em luôn
ý
thức rằng, mình
cỏ đủ khả năng để tự quyết, để độc lập.
b.
Tự nhận thức về bản thân
Cấu tạo mới đặc trưng trong nhân cách thiếu niên là sự nảy sinh ở các em cảm
giác về sự trưởng thành, cảm giác mình là người lớn. cảm giác về sự trưởng thành là
cảm giác độc đáo của lứa tuổi thiếu niên.
Những biến đổi về thể chất, những biến đổi trong hoạt động học tập, những biến
đổi về vị thế của thiếu niên trong gia đình, nhà trường, xã hội… đã tác động đến thiếu
niên, làm các em nảy sinh nhận thức mới. Đó là nhận thức về sự trưởng thành của bản
thân, xuất hiện “cảm giác thích làm người lớn”. Các em cảm thấy mình không còn là
trẻ con nữa. Các em cũng cảm thấy mình chưa thực sự là người lớn nhưng các em sẵn
sàng muốn trờ thành người lớn.
HS THCS bắt đầu phân tích có chủ định những đặc điểm về trạng thái
chất tâm lí, về tính cách của mình, về giới tính nói chung.
tâm lí, phẩm
Các em quan tâm đến những xúc cảm
mới, chủ ý đến khả năng, năng lực của mình, hình thành một hệ thống các nguyện
vọng, các giá trị hướng tới người lớn, bắt trước người lớn về mọi phương diện. HS
THCS quan tâm nhiều đến việc tìm hiểu mối quan hệ giữa người với người (quan hệ
nam – nữ), đến việc thể nghiệm những rung cảm mới, khao khát tình bạn mang động
cơ mới để tự khẳng định mình trong nhóm bạn, trong tập thể, muốn được bạn bè yêu
mến.
2. Sự phát triến nhận thức đạo đức và hành vi ứng
xử
của học sinh
trung học cơ sở
Sự hình thành nhận thức đạo đúc nói chung và lĩnh hội tiêu chuẩn của hành vi đạo
đức nói riêng là đặc điểm tâm lí quan trọng trong lứa tuổi thiếu niên. Tuổi HS THCS
là tuổi hình thành thế giới quan, lí tường, niềm tin đạo đức, những phán đoán giá trị…
Ở tuổi HS THCS, do sự mở rộng các quan hệ xã hội, do sự phát triển của tự ý thức,
đạo đức của các em được phát triển mạnh. Do trí tuệ và tự ý thức phát triển, HS
THCS đã biết sử dụng các nguyên tắc riêng, các quan điểm, sáng kiến riêng để chỉ
đạo hành vi. Điều này làm cho HS THCS khác hẳn HS tiểu học (HS nhỏ chủ yếu
hành động theo chỉ dẫn trực tiếp của người lớn). Trong sự hình thành và phát triển
đạo đức HS THCS thì tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức, nghị lực… ở các em thay
đổi nhiều so với trẻ nhỏ.
Cùng với sự phát triển của tự ý thức, với nguyện vọng vươn lên làm người lớn, ý
chí của HS THCS có những thay đổi. Các phẩm chất ý chí của các em được phát
triển mạnh hơn HS tiểu học (tính độc lập, sáng tạo, kiên quyết dũng cảm…). HS
THCS thường coi việc giáo dục ý chí, tự tu dưỡng là một nhiệm vụ quan trọng của
bản thân, đặc biệt với các em nam. Thiếu niên đánh giá cao các phẩm chất ý chí như
kiên cường, tinh thần vượt khó, kiên trì… Tuy nhiên, không phải lúc nào các em cũng
hiểu đúng các phẩm chất ý chí. Một số em đôi khi tỏ ra thiếu bình tĩnh, thô lỗ trong
ứng xử với người lớn, với bạn bè (thể hiện trong hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ…). Bởi
vậy người lớn cần giúp các em hiểu rõ những phẩm chất ý chí và định hướng rèn
luyện, phấn đẩu theo những phản chất ý chí tích cực để trở thành nhân cách trong
xã hội.
Trong khi giáo dục đạo đức cho HS THCS, cần chú ý đến sự hình thành những cơ
sở đạo đức ở tuổi thiếu niên. Nhìn chung trình độ nhận thức đạo đức của HS THCS là
cao. Các em hiểu rõ những khái niệm đạo đức như tính trung thưc, kiên trì, dũng cảm,
tính độc lập…
Tuy nhiên, có một số kinh nghiệm và khái niệm đạo đức của HS THCS được hình
thành tự phát ngoài sự hướng dẫn của giáo dục (do hiểu không đúng về các sự kiện
trong sách báo, phim ảnh hay xem sách báo, phim ảnh không phù hợp với lứa tuổi,
hoặc do ảnh hương của bạn bè xấu, nghiện games, các trò chơi bạo lực…). Do đó các
em có thể có những ngộ nhận, hiểu biết phiến diện, không chính xác về một số khái
niệm đạo đức, những phẩm chất riêng của cá nhân, vì thế các em đã phát triển những
nét tiêu cực trong tính cách. Bời vậy, cha mẹ, giáo viên và những người làm công tác
giáo dục cần lưu ý điều này trong công tác giáo dục đạo đức cho HSTHCS.
Hoạt động 4: Vấn đề giáo dục học sinh trung học cơ sở trong xã hội hiện
đại
Giáo dục HS THCS trong xã hội hiện đại là vấn đề phức tạp và khó khăn. Bởi lứa
tuổi thiếu niên là giai đoạn có nhiều biến đổi quan trọng trong sự phát triển đời người
cả về thể chất, mặt xã hội và mặt tâm lí. Mặt khác điều kiện sống, điểu kiện giáo dục
trong xã hội hiện đại cũng có những thay đổi so với xã hội truyền thống. Để giáo dục
HS THCS đạt hiệu quả, cần phải tính đến những thuận lơi và khó khăn của lứa tuổi
trong sự phát triển. Về thuận lợi, do điều kiện sống trong xã hội được nâng cao mà
hiện nay sức khỏe của thiếu niên đuợc tăng cường. Hiện tượng gia tốc phát triển ờ
con người thường rơi vào lứa tuổi này nên sự dậy thì đến sớm hơn và các em có được
cơ thể khỏe mạnh, sức lực dồi dào. Đây là cơ sở cho sự phát triển trí tuệ và phát triển
nhân cách của thiếu niên.
Mặt khác bước vào thế kỉ XXI, do bùng nổ của khoa học công nghệ mà lượng
thông tin, tri thức đến với các em rất phong phú. Đồng thời số con trong mỗi gia đình
chỉ có ít nên cha mẹ dễ có điều kiện để chăm sóc các em (cả về thời gian, về kinh tế,
đặc biệt là những điều kiện để giáo dục toàn diện nhân cách các em). Xã hội, nhà
trường và gia đình đều rất quan tâm đến sự phát triển của trẻ em nói chung và HS
THCS nói riêng. Sự kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội đã giúp cho
các em có được cơ hội, điều kiện giáo dục toàn diện hơn (ngay cả với những em có
hoàn cánh khó khăn).
Về khó khăn, do gia tốc phát triển mà sự dậy thì của thiếu niên đến sớm hơn. Cơ
thể các em phát triển mạnh mẽ nhưng mức trưởng thành về xã hội và tâm lí lại diễn ra
chậm hơn. Điều này ảnh hường đến việc giáo dục HS THCS. Việc dậy thì đến cũng
ảnh hương đến hoạt động học của các em, làm các em bị phân tâm trong học tập do
có những rung cảm mới, quan hệ mới với bạn khác giới.
Do nội dung học tập ngày càng mở rộng, quá tải nên HS THCS chú yếu bận học
(học ở lớp chính khoá, học thêm…), ít có những nghĩa vụ và trách nhiệm khác với gia
đình. Hơn nữa ở những lớp cuối cấp (lớp 9) có thể xuất hiện thái độ phân hóa rất rõ
trong học tập dẫn tới việc học lệch, tạo nên sụ thiếu toàn diện trong hiểu biết, trong
nhận thức của các em.
Khó khăn cơ bản của lứa tuổi HS THCS là xây dựng mối quan hệ giữa người lớn
với các em sao cho ổn tho ả và xây dụng quan hệ lầnh mạnh, trong sáng với bạn, đặc
biệt với bạn khác giới.
Ngoài việc lĩnh hội tri thức trong trường THCS và tiếp nhận sự giáo dục của nhà
trường, của gia đình, HS THCS còn có thể tìm kiếm nhiều thông tin khác từ bạn bè,
từ sách báo, phim ảnh ngoài luồng. Nếu tiếp nhận những thông tin không lành mạnh,
không phù hợp với lứa tuổi, các em cỏ thể bị ảnh hường về cách nghĩ, về lối sống;
hình thành những nét nhân cách không phù hợp với chuẩn mực xã hội, không phù hợp
với yêu cầu người lớn đặt ra cho các em.
Hoạt động 5: Một số lưu ý trong công tác giáo dục học sinh trung học cơ
sở
Nhà trường và gia đình nên gần gũi, chia sẽ với HS; tránh để các em thu nhận
những thông tin ngoài luồng; tránh tình trạng phân hoá thái độ đối
với môn học, học lệch
có như thế thì các em có được sụ hiểu biết toàn diện, phong phú.
Cần giúp HS THCS hiểu được các khái niệm đạo đức một cách chính xác, khắc
phục những quan điểm không đúng ở các em.
Nhà trường cần tổ chúc những hoạt động tập thể lành mạnh, phong phú để HS
THCS được tham gia và có đuợc những kinh nghiệm đạo đức đúng đắn, hiểu rõ các
chuẩn mực đạo đức và thực hiện nghiêm túc theo các chuẩn mực đó, để các em có
được sụ phát triển nhân cách toàn diện.
Người lớn (cha mẹ, thầy cô giáo) cần tôn trọng tính tự lập của HS THCS và hướng
dẫn, giúp đỡ để các em xây dựng được mối quan hệ đúng mực, tích cực với người lớn
và mối quan hệ trong sáng, lành mạnh với bạn bè. Có thể thành lập phòng tâm lí
học đường trong trường hoặc cụm trường (theo phương châm Nhà nứớc và nhân
dân cùng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục) để HS THCS được sự trợ giúp thường
xuyên về tâm lí và những vấn đềkhó khăn của lứa tuổi.
Tóm lại:
Lứa tuổi HS THCS có một vị trí đặc biệt trong thời kì phát triển của trẻ em. Vị trí
đặc biệt này được phản ánh bằng các tên gọi: “thời kì quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi
bất trị”, “tuổi khủng hoảng”… Những tên gọi đỏ nói lên tính phức tạp và tầm quan
trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của trẻ em.
Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành. Nội dung cơ bản và sự
khác biệt ở lứa tuổi HS THCS với các em ở lứa tuổi khác là sự phát triển mạnh mẽ,
thiếu cân đối về các mặt trí tuệ, đạo đức. Sự xuất hiện những yếu tố mới của sự
trưởng thành do kết quả của sự biến đổi cơ thể; của sự tự ý thức; của các kiểu giao
tiếp với người lớn, với bạn bè; của hoạt động học lập, hoạt động xã hội… Yếu tố đầu
tiên của sự phát triển nhân cách ở lứa tuổi HS THCS là tính tích cực xã hội mạnh mẽ
của các em nhằm lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực nhất định, nhằm xây dựng
những quan hệ thoả đáng vời người lớn, với bạn ngang hàng và cuối cùng nhằm vào
bản thân, thiết kế nhân cách của mình một cách độc lập.
Quá trình hình thành cái mới thường kéo dài về thời gian và phụ thuộc vào điều
kiện sống, hoạt động của các em. Do đó, sự phát triển tâm lí ở lứa tuổi này diễn ra
không đồng đều về mọi mặt. Điều đó quyết định sự tồn tại song song “vừa tính trẻ
con, vừa tính người lớn” ờ lửa tuổi này.
Có thể chứng minh các lập luận trên qua sự phát triển thể chất của HS THCS
(nhanh, mạnh mẽ, quyết liệt nhưng không cân đối, xuất hiện yếu tố mới của sự trưởng
thành như hệ sinh d ụ c. . h o ặ c qua sự phát triển giao tiếp của HS THCS với người lớn
(Nét đặc trưng trong giao tiếp của HS THCS với người lớn là sự cải tổ lại kiểu quan
hệ giữa người lớn với trẻ em có ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ đặc trưng
của tuổi thiếu niên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớn với người lớn
trong các giai đoạn tiếp theo…) qua giao tiếp với bạn hay qua sự phát triển mạnh mẽ
của tự ý thức, của đạo đức và hành vi ứng xử ở HS THCS.
Phần 4. Tự xếp loại kết quả BDTX: Loại: Tốt
Nhận xét của BGH
Nhận xét của TTCM
Người viết bài thu hoạch
Lý Sậy
– Khái quát về tiến trình tăng trưởng của lứa tuổi HS THCS. – Hoạt động tiếp xúc của HS THCS. – Phát triển nhận thức của HS THCS. – Phát triển nhân cách của HS THCS. – Phát triển những kĩ năng sống của HS THCS.PHẦN 2 : MỤC TIÊU1. Về kiến thức và kỹ năng : Nắm được vị trí, ý nghĩa cửa quy trình tiến độ tăng trưởng tuổi HS THCS trong sụ phát triểncả đời người, những biến hóa can đảm và mạnh mẽ vỂ mọi mặt cửa sụ tăng trưởng lứa tuổi : vềthể chất, về nhận thức, về tiếp xúc, về nhân cách … 2. Về kĩ năng : Vận dụng những hiểu biết về đặc điểm tâm, sinh lí củaa HS THCS, những thuận lợivà khó khăn vất vả của lứa tuổi vào việc giảng dạy và giáo dục HS có hiệu suất cao. 3. Về thái độ : Thái độ thông cảm, chia sẽ và giúp sức HS THCS, đặc biệt quan trọng với HS riêng biệt do những emđang trong quá trình tăng trưởng quá độ với nhiều khó khăn vất vả. PHẦN 3 : NỘI DUNGHoạt động 1 : Tìm hiểu khái quát về quá trình tăng trưởng của lứa tuổi họcsinh trung học cơ sởLà GV THCS, để đạt đuợc hiệu quả cao trong dạy học và GD HS, bạn đã từng tìm hiểuvề đặc thù tăng trưởng của mọi lứa tuổi HS THCS ; đã cỏ nhiều kinh nghiệm tay nghề trong giaotiếp, ứng xử với những em. Bạn hãy nhớ lại và viết ra tâm lý của mình để thực thi mộtsổ nhu yếu sau : a. Vị trí và ý nghĩa của quy trình tiến độ tuổi thiếu niên ( tuổi HS THCS ) trong sự tăng trưởng conngười. – Lứa tuổi HS THCS gồm có những em cỏ độ tuổi từ 11 – 15 tuổi. Đó là những emđang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS.Lứa tuổi này còn gọi là lứa tuổi thiếu niên và nó có một vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trìnhphát triển của trẻ nhỏ. – Tuổi thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quy trình tăng trưởng của cả đời người, được biểu lộ ởnhững điểm sau : + Thứ nhất : Đây là thời kì quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trường thành, thời kì trẻ ờ bađường ” của sự tăng trưởng. Trong đó có rất nhiều năng lực, nhiều giải pháp, nhiều conđưòng để mỗi trẻ nhỏ trở thành một cá thể. Trong thời kì này, nếu sự tăng trưởng đượđịnh hướng đúng, được tạo thuận tiện thì trẻ nhỏ sẽ trở thành cá thể thành đạt, công dântốt. Ngược lại, nếu không được khuynh hướng đúng, bị ảnh hưởng tác động bời những yếu tổ xấu đi thì sẽ xuất hiệnhàng loạt rủi ro tiềm ẩn dẫn trẻ nhỏ đến bên bờ của sự tăng trưởng xô lệch về nhận thức, tháiđộ, hành vi và nhân cách. + Thứ hai : Thời kì mà tính tích cực xã hội của trẻ nhỏ được tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ, đặc biệttrong việc thiết lập những quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việclĩnh hội những chuẩn mực và giá trị xã hội, phong cách thiết kế tương lai của mình và những kế hoạchhành động cá thể tương ứng. Thứ ba : Trong suốt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cấu trúc lại, cải tổ lại, hìnhthành những cẩu trúc mới về sức khỏe thể chất, sinh lí, về hoạt động giải trí, tương tác xã hội và tâm lí, nhân cách, Open những yếu tố mới của sự trưởng thành. Từ đó hình thành cơ sờnền tảng và vạch khunh hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá thể, tạo nên đặcthù riêng của lứa tuổi. Thứ tư : Tuổi thiếu niên là quá trình khó khăn vất vả, phức tạp và đầy xích míc trong quátrình tăng trưởng. Ngay những tên gọi của thời kì này : thời kì “ quá độ “, “ tuổi khó khăn vất vả “, “ tuổi khủng hoảng cục bộ ” … đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quy trình pháttriển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên. Sự phức tạp biểu lộ qua tính hai mặt của nhâncách tăng trưởng của trẻ. Một mặt có những yếu tố thôi thúc tăng trưởng tính cách củangười lớn. Mặt khác, thực trạng sống của những em có những yếu tố ngưng trệ sụ pháttriển tính người lớn : Phần lớn thời hạn những em bận học, ít có nghĩa vụ và trách nhiệm khác với giađình ; nhiều bậc cha mẹ quá chăm nom trẻ, không để những em phải chăm sóc việc mái ấm gia đình … Hoạt động 2. Các điêu kiện phát triến tâm lí của học viên trung học cơsở. a. Sự tăng trưởng khung hình : Bước vào tuổi thiếu niên có sự cải tổ lại rất can đảm và mạnh mẽ và thâm thúy về khung hình, về sinhlí. Trong suốt quy trình trưởng thành và tăng trưởng khung hình của cá thể, đây là giai đoạnphát triển nhanh thứ hai, sau tiến trình sơ sinh. Sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí cửathiếu niên có đặc thù là : vận tốc tăng trưởng khung hình nhanh, can đảm và mạnh mẽ, quyết ỉiệt nhưng không cânđối. Đồng thờĩ Open yếu tố mới mà ở lứa tuổi trước chưa có. Tác nhân quan trọng ảnh huớngđến sự cải tổ sức khỏe thể chất – sinh lí của tuổi thiếu niên là những hormone, chính sách lao động vàdinh dưỡng. – Sự phảt triển của độ cao và khối lượng : Chiều cao của những em tăng rất nhanh : trung bình một năm, những em gái cao thêm 5 6 cm, những em trai cao thêm 7 – 8 cm. Trọng lượng của những em tăng từ 2 – 5 kg / năm, sựtăng vòng ngực của thiếu niên trai và gái … Sự gia tổc tăng trưởng về sức khỏe thể chất của trẻ nhỏ biểu lộ đặc biệt quan trọng trong lứa tuổi thiếuniên. Trong khoảng chừng 20 – 30 năm gần đây, thiếu niên tăng trưởng với nhịp độ nhanhchống, những em trở nên cao, to, khỏe mạnh hơn những thiếu niên cùng tuổi ở 30 nămtrước. Theo tác dụng đo đạc của chương trình KHXH-04 – 04 ( năm 1996 ), HS thế hệhiện tại cao hơn thế hệ 1975 trung bình 9 cm ở nam và 7,7 cm ở nữ ; về cân nặng tăng6, 2 kg ở nam và 3,3 kg ở nữ. Chiều cao trung bình cửa thiếu niên 15 tuổi Nước Ta : + Năm 1975 : nam 146,2 cm ; nữ : 143,4 cm. + Năm 1906 : nam : 156,33 cm ; nữ : 151,56 cm. – Sự tăng trưởng của hệ xương : Hệ xương đang diễn ra quy trình tiến hoá về hình thái, làm cho thiếu niên lớn lênrất nhanh, xương sọ phần mặt tăng trưởng mạnh. Ở những em gái đang diễn ra quá trìnhhoàn thiện những mảnh của xương chậu ( tiềm ẩn tính năng làm mẹ sau này ) và kếtthúc vào tuổi 20-21. Bởi vậy, cần tránh cho những em đi giày, guổc cao gót, tránh nhảyquá cao để khỏi ảnh huớng đến công dụng sinh sản của những em. Từ 12 đến 15 tuổi, phần tăng thêm của xương sống tăng trưởng chậm hơn so vớinhịp độ lớn lên về chiều cao của thân thể. Dưới 14 tuổi vẫn còn có những đổt sụn hoàntoàn giữa những đốt xương sống, do đó cột sống dễ bị cong, bị vẹo khi đứng, ngồi, vậnđộng, mang vác vật nặng … không đúng tư thế ( Sừ hỏng tư thế diễn ra nhiều nhất ờtuổi 11 đến 15 ). Do đó, cần chú ý quan tâm nhắc nhở giúp những em tránh những xô lệch về cộtsống. Khuôn mặt thiếu niên cũng đổi khác do sự tăng trưởng nhanh chống phần phía trướccủa hộp xương sọ. Điều này khiến cho tỉ lệ chung ờ thân thể thiếu nìên biến hóa so vớitrẻ nhỏ và đã có tỉ lệ đặc trưng cho người lớn. Đến cuối tuổi thiếu niên, sự phát triểnthể chất đạt mức tối đa. – Sự tăng trưởng của hệ cơ : Sự tâng khối lượng những bắp thịt và lực của cơ bắp diễn ra mạnh nhất vào cuối thờikì dậy thì. Cuối tuổi thiếu niên, khung hình của những em đã rẩt khỏe mạnh ( những em trai thíchđọ tay, đá bóng để biểu lộ sức mạnh của cơ bắp … ). Tuy nhiên, Cơ thể thiếu niênchống mệt và những em không lầm việc lâu bền như người lớn. Nên chú ý quan tâm điều đó khi tổchức lao động, rèn luyện thể thao, hoạt động giải trí ngoại khoá cho những em. Sự tăng trưởng hệ cơ của thiếu niên trai và gái diễn ra theo hai kiểu khác nhau, đặctrưng cho phái mạnh : Các em trai cao nhanh, vai rộng, cơ vai, bắp tay, bắp chân pháttriển mạnh, tạo nên sức mạnh mẽ của phái mạnh sau này. Các em gái tròn trặn dần, ngực nở, xương châu rộng … tạo nên sụ mềm mại và mượt mà, duyên dáng của thiếu nữ. ( Song quátrình này kết thúc ngoài số lượng giới hạn của tuổi thiếu niên ). – Sự tăng trưởng không cân đối của những hệ cơ quan : Hệ cơ tăng trưởng chậm hơn hệ xương. Trong sự tăng trưởng của hệ xương thì xươngtay, xương chân tăng trưởng mạnh nhưng xương lồng ngực tăng trưởng chậm hơn. Sựphát triển giữa xương bàn tay và những xương đốt ngón tay không đồng đều. Sự cải tổbộ máy hoạt động làm mất đi sự uyển chuyển của những cử động, làm thiếu niên lúng túng, vụng về, hoạt động thiếu hài hoà, phát sinh ở những em cảm hứng không tự do, thiếu tựtin. Hệ tim mạch tăng trưởng cũng không cân đối. Thể tích tim tăng nhanh, tim to hơn, hoat động mạnh hơn, trong khi đường kính của những mạch máu lại tăng trưởng chậm hơndẫn đến sự rối loạn trong thời điểm tạm thời của tuần hoàn máu. Do đó thiếu niên thường bị stress, chống mặt, nhức đầu, huyết áp tăng … khi phải thao tác quá sức hoặc thao tác trongmột thời hạn lê dài. Sự tăng trưởng của hệ thần kinh không cân đối. Sự tăng trưởng của mạng lưới hệ thống tín hiệuthứ nhất và tín hiệu thứ hai, giữa hưng phấn và ức chế cũng diễn ra mất cân đối ( Quátrình hưng phấn mạnh hơn ức chế ). Trong lứa tuổi thiếu niên có sự biến hóa bất thần bên trong khung hình do những thayđổi trong mạng lưới hệ thống những tuyến nội tiết đang hoạt động giải trí tích cực ( đặc biệt quan trọng những hocmoncủa tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục ). Do mạng lưới hệ thống tuyến nội tiết và hệ thần kinh cóliên quan với nhau về công dụng nên một mặt nghị lực của thiếu niên tăng can đảm và mạnh mẽ, mặt khác những em lại nhảy cảm cao với những động tác bệnh, vì thế thao tác quá sức, sựcăng thẳng thần kinh lê dài, sự xúc động và những cảm xức xấu đi hoàn toàn có thể lànguyên nhân gây rối loạn nội tiết và rối loạn công dụng của hệ thần kinh. – Sự Open của tuyến smh dục ( thực trạng dậy thì ) : Sự trưởng thành về mặt sinh dục là yếu tố quan trọng nhất của sự tăng trưởng cơ thểờ lứa tuổi thiếu niên. Dấu hiệu dậy thì ờ em gái là sự Open kinh nguyệt sự tăng trưởng của tuyến vú ( vú và núm vú nhô lên, quầng vú rộng ) ở em trai là hiện tượng kỳ lạ “ vỡ giọng “, sự tăng lêncủa thể tích tinh hoàn và khởi đầu có hiện tương “ mộng tinh “. Tuổi dậy thì ờ những em gáiViệt Nam vào khoảng chừng tù 12 đến 14 tuổi, ờ những em trai bất đầu và kết thúc chậm hơncác em gái khoảng chừng từ 1,5 đến 2 năm. Dấu hiệu phụ báo hiệu tuổi dậy thì cỏ sự khác nhau giữa những em trai và gái. Cácem trai cao rất nhanh, giọng nói ồm ồm, vai to, cỏ ria mép … Các em gái cũng lớn nhanh, thân hình duyên dáng, da dẻ hồng hào, tóc mềm mại và mượt mà, môi đỏ, giọng nói trong treo … Sụ Open tuổi dậy thì phụ thuộc vào yếu tổ khí hậu, sức khỏe thể chất, dân tộc bản địa, chính sách sinhhoạt ( vật chất, ý thức ), loi sổng … Tuy nhiên, lúc bấy giờ do tần suất tăng trưởng thể chấtvà phát dục nên tuổi dậy thì hoàn toàn có thể đến sớm hơn từ 1,5 đến 2 năm. Tuổi dậy thìĐến 15 – 16 tuổi, quy trình tiến độ dậy thì kết thúc. Các em hoàn toàn có thể sinh sản được nhưngcác em chưa trưởng thành về mặt khung hình, đặc biệt quan trọng về mặt tâm lí và xã hội. Bởi vậy lứatuổi HS THCS được coi là không có sự cân đối giữa việc phát dục, giữa bản năngtương ứng, những tình cảm và ham muốn tình dục với mức độ trưởng thành về xã hộivà tâm lí. do đó, người lớn ( cha mẹ, giáo viên, những nhà giáo dục … ) cần hướng dẫn, trợgiúp một cách khôn khéo, tế nhị để những em hiểu đúng yếu tố, biết kiến thiết xây dựng mối quanhệ đúng đắn với bạn khác giới … và không do dự lo ngại khi bước vào tuổi dậythì. Sự phát dục và những đổi khác trong sự tăng trưởng sức khỏe thể chất của thiếu niên có ýnghĩa quan trọng so với sự Open những cấu trúc tâm lí mới. Những biến hóa rõ rệtvề mặt giải phẫu sinh lí đổi với thiếu niên đã làm cho những em trở thành người lớn mộtcách khách quan và làm phát sinh cảm xúc về tính người lớn của bản thân những em. Sựphát dục làm cho thiếu niên Open những cảm xúc, tình cảm và rung cảm mớimang đặc thù giới tính, những em chăm sóc nhiều hơn đến người khác giới. Tuy nhiên, những ảnh hường trên đến sự tăng trưởng tâm lí của HS THCS còn phụthuộc nhiều yếu tố : kinh nghiệm tay nghề sống, đặc thù tiếp xúc của thiếu niên, những hoàncảnh riêng trong đời sống và điều kiện kèm theo giáo dục ( Giáo dục đào tạo mái ấm gia đình và giáo dục nhàtrường ) đổi với những em. – Đặc điểm về hoạt động giải trí của não và thần kinh cấp cao của thiếu niên : Ở tuổi thiếu niên, não có sự tăng trưởng mới giúp những tính năng trí tuệ phát triểnmạnh mẽ. Các vùng thái dương, vùng đỉnh, vùng trán, những tua nhánh tăng trưởng rấtnhanh, tạo điều kiện kèm theo nối tiếp những vùng này với vỏ não, những nơron thần kinh đuợc liênkết với nhau, hình thành những tính năng trí tuệ. Giải phẩu nãoNhững quy trình hưng phấn chiếm lợi thế rõ ràng ức chế phân biệt bị kém đi, hưng phấnphát triển mạnh, lan tỏả cả vùng dưới võ. Vì vậy, thiếu niên dễ bị “ hậu đậu “, cónhiễuđộng tác phụ của đầu, chân, tay trong khi hoạt động hay tham gia những hoạt động giải trí. Docác quy trình hưng phấn mạnh, chiếm lợi thế và những quy trình ức chế cóđiều kiện bịsuy giảm nên thiếu niên không làm chủ được cảm hứng, không kiềm chế đuợc xúc độngmạnh. Bời vậy, HS THCS dế nổi nóng, có phán ứng vô cớ, dễ bị kích động, mất bìnhtĩnh … nên dễ vi phạm kỉ luật. Ở thiếu niên có sự mất cân đối giữa hệ thổng tín hiệu thứnhất và hệ thổng tín hiệu thứ hai. Do đó, ngôn từ của những em cũng đổi khác : nói chậmhơn, ngâp ngùng, nói “ nhát gùng ” … Tuy nhiên, sự mất cân đối trên chỉ có tính chấttạm thời. Khoảng 15 tuổi trở đi thì vai trò của hệ thổng tín hiệu thứ hai tăng, sự ức chếtrong được tăng cường, quy trình hưng phấn và ức chế cân đối hơn. Nhờ vậy, cácem sẽ bước vào tuổi người trẻ tuổi với sự hài hoà của hai hệ thổng tín hiệu, của hưngphấn và ức chế ở võ não và dưới vỏ. Tóm lại, khung hình thiếu niên đang chịu một phụ tải đáng kể do sự tăng trưởng nhảy vọtvề sức khỏe thể chất trong sự cải tổ giải phẫu sinh lí khung hình do hoạt động giải trí mạnh của những tuyếnnội tiết dẫn tới hiện tương dậy thì ờ thiếu niên. Những xích míc trong thời điểm tạm thời chỉ dĩến ratrong quy trình cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí trong một thời hạn ngắn. Đến cuối tuổithiếu niên, sừ tăng trưởng về sức khỏe thể chất sẽ dịu dàng êm ả hơn. b. Điều kiện xã hộiVị trí của thiếu niên trong xã hội : Thiếu niên có những quyền hạn và trách nhiệmxã hội lớn hơn so với HS tiểu học : 14 tuổi những em đuợc làm chứng minh thư. cùng vớihọc tập, HS THCS tham gia nhiều hoạt động giải trí xã hội phong phú và đa dạng : giáo dục những em nhỏ ; trợ giúp những mái ấm gia đình thương bệnh binh, liệt sĩ, gia đinh có công với cách mạng ; tham giacác hoạt động giải trí tập thể chống tệ nạn xã hội ; làm tình nguyện viên ; vệ sinh trường học, đường phố … Điều này giúp cho HS THCS lan rộng ra những quan hệ xã hội, kinh nghiệmsổng thêm đa dạng chủng loại, ý thức xã hội được nâng cao. Vị trí của thiếu niên trong mái ấm gia đình : Thiếu niên được thừa nhận là một thành viên tích cựctrong mái ấm gia đình, được giao một số ít trách nhiệm như : chăm nom em nhro, nấu ăn, dọn dep … Ở những gia đinh khó khăn vất vả, những em đã tham gia lao động thực sự, góp thêm phần thu nhậpcho mái ấm gia đình. HS THCS được cha me trao đổi, tranh luận 1 số ít việc làm trong nhà. Các em chăm sóc đến việc thiết kế xây dựng và bảo vệ uy tín mái ấm gia đình. Nhìn chung, những em ýthức được vị thế mới của mình trong mái ấm gia đình và triển khai một cách tích cực. Tuynhiên, hầu hết thiếu niên vẫn còn đi học, những em vẫn nhờ vào vào cha mẹ về kinh tế tài chính, giáo dục … Điều này tạo ra thực trạng có tính hai mặt trong đời sổng của thiếu niêntrong mái ấm gia đình. Vị thế của thiếu niên trong nhà trường THCS : Vị thế của HS THCS hơn hẳn vịthế cửa HS tiểu học. HS THCS ít nhờ vào vào giáo viên hơn so với nhi đồng. Cácem học tập theo phân môn. Mỗi môn học do một giáo viên đảm nhiệm. Mỗi giáo viêncó nhu yếu khác nhau so với HS, có trình độ, kinh nghiệm tay nghề, phẩm chất sư phạm và cóphong cách giảng dạy riêng yên cầu HS THCS phải thích ứng với những nhu yếu mớicủa những giáo viên. Sự biến hóa này cỏ thể tạo ra những khó khăn vất vả nhất định cho HSnhưng lại là yếu tố khách quan để những em dần có được phương pháp nhận thức ngườikhác. Tóm lại, sự biến hóa điều kiện kèm theo sống, điều kiện kèm theo hoạt động giải trí của thiếu niên ờ trong giađình, nhà trường, xã hội mà vị trí của thiếu niên đuợc nâng lên. Thiếu niên ý thứcđược sự đổi khác và tích cực hoạt động giải trí để tương thích với sự biến hóa đó. Vì thế đặcđiểm tâm lí, nhân cách của HS THCS hình thành và tăng trưởng đa dạng chủng loại hơn so vớicác lứa tuổi trước. c. Bài tập trường hợp : Hai bà me tâm sụ với nhau. Một bà mẹ nói : “ Đứa con gái nhà tôi mỏi 13 tuổi màđã cao gần bằng mẹ. cháu ăn được. Ngủ thì sét đánh ngang tai chẳng dậy. Nhưng saotrông nỏ còm còm thế nào ấy “. Bà mẹ thú hai hường úng : “ Con bé nhà tôi cũng thế. Nỏ cùng tuổi với con gái chị đấy. Nó cao võng lên, chân tay thì dài ngoẵng ra, làm gìthì hậu đậu ơi là hậu đậu. Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu … Vận dụng kiến thúc về sinh lí học lứa tuổi thiếu niên ( HS THCS ) trò chuyện vớicác bà me để họ yên tâm. Giải thích hiện tượng kỳ lạ : Nội dung trao đổi tâm sự của hai bà mẹ đều nói về những đổi khác về sức khỏe thể chất, vềsinh lí của lứa tuổi thiếu niên ( tuổi HS THCS ). Sự tăng trưởng sức khỏe thể chất của thiếu niêndiễn ra với vận tốc tăng trưởng nhanh, can đảm và mạnh mẽ, kinh khủng nhưng không cân đối … .. Điều này khiến những em, đặc biệt quan trọng những em gái cao nhanh, chân tay dài ra nhưng hệ cơphát triển chậm hơn làm những em “ cao võng lên, chân tay dài ngoẵng .. Mặt khác trongsự tăng trưởng của hệ xương thi xương chân, xương tay tăng trưởng nhanh nhưng xươngcổ tay và những đốt ngón tay chưa triển khai xong nên những thao tác hành vi ở những em còn lóngngóng làm gì thì hậu đậu … Rửa bát thì bát vỡ, cắt bìa đậu thì nát cả đậu … “. Tuy nhiênsự mất cân đối trên chỉ diến ra trong thời hạn ngắn. Đến cuối tuổi thiếu niên, sự pháttriển sức khỏe thể chất sẽ êm ả dịu dàng hơn. Do đó, những bà mẹ nên hiểu và thông cám với khó khăn vất vả của con trẻ, không chếgiễu, trách mắng những em và hướng dẫn giúp HS THCS tự tin vượt qua khó khăn vất vả củalứa tuổi. Hoạt động 3 : Tìm hiểu hoạt động giải trí tăng trưởng kĩ năng sống cho học viên THCS1. Sự phát triến mạnh mẻ của tự ý thứca. Ý nghĩa của tự ý thức so với học viên trumg học cơ sở : Sự hình thành tự ý thức là một trong những đặc thù đặc trưng trong sự phát triểnnhân cách của thiếu niên. Mức độ tăng trưởng về chất của tự ý thức sẽ ảnh hường đếntoàn bộ đời sống tâm lí của thiếu niên, đến đặc thù hoạt động giải trí của những em cũng nhưviệc hình thành mối quan hệ của thiếu niên với những người khác. Trên cơ sờ nhậnthức và nhìn nhận được mình, những em mới cỏ năng lực điều khiển và tinh chỉnh, kiểm soát và điều chỉnh hoạtđộng của bản thân cho tương thích với nhu yếu khách quan, giữ được vị trí xứng đángtrong xã hội, trong lớp học, trong nhóm bạn. Khi vào tuổi thiếu niên, do sự đột biến của khung hình ờ tuổi dậy thì, trước hoàn cảnhhọc tập mới, đặc biệt quan trọng do sự tăng trưởng những quan hệ xã hội, sự tiếp xúc trong tập thể màờ thiếu niên Open nhu yếu chăm sóc đến nội tâm của mình, đến những phẩm chất nhâncách riêng, Open nhu yếu tự đánh gía, so sánh mình với người khác. Điều này khiếnHS THCS muổn xem xét lại mình, muốn tỏ thái độ mới về mình. Các em có nhu cầutự chứng minh và khẳng định mình trước người lớn, bộc lộ ờ chỗ : những em luônthức rằng, mìnhcỏ đủ năng lực để tự quyết, để độc lập. b. Tự nhận thức về bản thânCấu tạo mới đặc trưng trong nhân cách thiếu niên là sự phát sinh ở những em cảmgiác về sự trưởng thành, cảm xúc mình là người lớn. cảm xúc về sự trưởng thành làcảm giác độc lạ của lứa tuổi thiếu niên. Những biến hóa về sức khỏe thể chất, những biến hóa trong hoạt động giải trí học tập, những biếnđổi về vị thế của thiếu niên trong mái ấm gia đình, nhà trường, xã hội … đã tác động ảnh hưởng đến thiếuniên, làm những em phát sinh nhận thức mới. Đó là nhận thức về sự trưởng thành của bảnthân, Open “ cảm xúc thích làm người lớn “. Các em cảm thấy mình không còn làtrẻ con nữa. Các em cũng cảm thấy mình chưa thực sự là người lớn nhưng những em sẵnsàng muốn trờ thành người lớn. HS THCS khởi đầu nghiên cứu và phân tích có chủ định những đặc thù về trạng tháichất tâm lí, về tính cách của mình, về giới tính nói chung. tâm lí, phẩmCác em chăm sóc đến những xúc cảmmới, chủ ý đến năng lực, năng lượng của mình, hình thành một mạng lưới hệ thống những nguyệnvọng, những giá trị hướng tới người lớn, bắt trước người lớn về mọi phương diện. HSTHCS chăm sóc nhiều đến việc tìm hiểu và khám phá mối quan hệ giữa người với người ( quan hệnam – nữ ), đến việc thể nghiệm những rung cảm mới, khao khát tình bạn mang độngcơ mới để tự chứng minh và khẳng định mình trong nhóm bạn, trong tập thể, muốn được bạn hữu yêumến. 2. Sự phát triến nhận thức đạo đức và hành vi ứngxửcủa học sinhtrung học cơ sởSự hình thành nhận thức đạo đúc nói chung và lĩnh hội tiêu chuẩn của hành vi đạođức nói riêng là đặc thù tâm lí quan trọng trong lứa tuổi thiếu niên. Tuổi HS THCSlà tuổi hình thành thế giới quan, lí tường, niềm tin đạo đức, những phán đoán giá trị … Ở tuổi HS THCS, do sự lan rộng ra những quan hệ xã hội, do sự tăng trưởng của tự ý thức, đạo đức của những em được tăng trưởng mạnh. Do trí tuệ và tự ý thức tăng trưởng, HSTHCS đã biết sử dụng những nguyên tắc riêng, những quan điểm, ý tưởng sáng tạo riêng để chỉđạo hành vi. Điều này làm cho HS THCS khác hẳn HS tiểu học ( HS nhỏ chủ yếuhành động theo hướng dẫn trực tiếp của người lớn ). Trong sự hình thành và phát triểnđạo đức HS THCS thì tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức, nghị lực … ở những em thayđổi nhiều so với trẻ nhỏ. Cùng với sự tăng trưởng của tự ý thức, với nguyện vọng vươn lên làm người lớn, ýchí của HS THCS có những đổi khác. Các phẩm chất ý chí của những em được pháttriển mạnh hơn HS tiểu học ( tính độc lập, phát minh sáng tạo, nhất quyết quả cảm … ). HSTHCS thường coi việc giáo dục ý chí, tự tu dưỡng là một trách nhiệm quan trọng củabản thân, đặc biệt quan trọng với những em nam. Thiếu niên nhìn nhận cao những phẩm chất ý chí nhưkiên cường, niềm tin vượt khó, kiên trì … Tuy nhiên, không phải khi nào những em cũnghiểu đúng những phẩm chất ý chí. Một số em nhiều lúc tỏ ra thiếu bình tĩnh, thô lỗ trongứng xử với người lớn, với bè bạn ( bộc lộ trong hành vi, cử chỉ, ngôn từ … ). Bởivậy người lớn cần giúp những em hiểu rõ những phẩm chất ý chí và xu thế rènluyện, phấn đẩu theo những phản chất ý chí tích cực để trở thành nhân cách trongxã hội. Trong khi giáo dục đạo đức cho HS THCS, cần quan tâm đến sự hình thành những cơsở đạo đức ở tuổi thiếu niên. Nhìn chung trình độ nhận thức đạo đức của HS THCS làcao. Các em hiểu rõ những khái niệm đạo đức như tính trung thưc, kiên trì, dũng mãnh, tính độc lập … Tuy nhiên, có một số ít kinh nghiệm tay nghề và khái niệm đạo đức của HS THCS được hìnhthành tự phát ngoài sự hướng dẫn của giáo dục ( do hiểu không đúng về những sự kiệntrong sách báo, phim ảnh hay xem sách báo, phim ảnh không tương thích với lứa tuổi, hoặc do ảnh hương của bạn hữu xấu, nghiện games, những game show đấm đá bạo lực … ). Do đó cácem hoàn toàn có thể có những ngộ nhận, hiểu biết phiến diện, không đúng mực về 1 số ít kháiniệm đạo đức, những phẩm chất riêng của cá thể, do đó những em đã tăng trưởng nhữngnét xấu đi trong tính cách. Bời vậy, cha mẹ, giáo viên và những người làm công tácgiáo dục cần quan tâm điều này trong công tác làm việc giáo dục đạo đức cho HSTHCS.Hoạt động 4 : Vấn đề giáo dục học viên trung học cơ sở trong xã hội hiệnđạiGiáo dục HS THCS trong xã hội văn minh là yếu tố phức tạp và khó khăn vất vả. Bởi lứatuổi thiếu niên là quá trình có nhiều đổi khác quan trọng trong sự tăng trưởng đời ngườicả về sức khỏe thể chất, mặt xã hội và mặt tâm lí. Mặt khác điều kiện kèm theo sống, điểu kiện giáo dụctrong xã hội văn minh cũng có những đổi khác so với xã hội truyền thống cuội nguồn. Để giáo dụcHS THCS đạt hiệu suất cao, cần phải tính đến những thuận lơi và khó khăn vất vả của lứa tuổitrong sự tăng trưởng. Về thuận tiện, do điều kiện kèm theo sống trong xã hội được nâng cao màhiện nay sức khỏe thể chất của thiếu niên đuợc tăng cường. Hiện tượng tần suất tăng trưởng ờcon người thường rơi vào lứa tuổi này nên sự dậy thì đến sớm hơn và những em có đượccơ thể khỏe mạnh, công sức của con người dồi dào. Đây là cơ sở cho sự tăng trưởng trí tuệ và phát triểnnhân cách của thiếu niên. Mặt khác bước vào thế kỉ XXI, do bùng nổ của khoa học công nghệ tiên tiến mà lượngthông tin, tri thức đến với những em rất nhiều mẫu mã. Đồng thời số con trong mỗi gia đìnhchỉ có ít nên cha mẹ dễ có điều kiện kèm theo để chăm nom những em ( cả về thời hạn, về kinh tế tài chính, đặc biệt quan trọng là những điều kiện kèm theo để giáo dục tổng lực nhân cách những em ). Xã hội, nhàtrường và mái ấm gia đình đều rất chăm sóc đến sự tăng trưởng của trẻ nhỏ nói chung và HSTHCS nói riêng. Sự tích hợp giáo dục giữa nhà trường, mái ấm gia đình và xã hội đã giúp chocác em có được thời cơ, điều kiện kèm theo giáo dục tổng lực hơn ( ngay cả với những em cóhoàn cánh khó khăn vất vả ). Về khó khăn vất vả, do tần suất tăng trưởng mà sự dậy thì của thiếu niên đến sớm hơn. Cơthể những em tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ nhưng mức trưởng thành về xã hội và tâm lí lại diễn rachậm hơn. Điều này ảnh hường đến việc giáo dục HS THCS. Việc dậy thì đến cũngảnh hương đến hoạt động học của những em, làm những em bị phân tâm trong học tập docó những rung cảm mới, quan hệ mới với bạn khác giới. Do nội dung học tập ngày càng lan rộng ra, quá tải nên HS THCS chú yếu bận học ( học ở lớp chính khoá, học thêm … ), ít có những nghĩa vụ và trách nhiệm và nghĩa vụ và trách nhiệm khác với giađình. Hơn nữa ở những lớp cuối cấp ( lớp 9 ) hoàn toàn có thể Open thái độ phân hóa rất rõtrong học tập dẫn tới việc học lệch, tạo nên sụ thiếu tổng lực trong hiểu biết, trongnhận thức của những em. Khó khăn cơ bản của lứa tuổi HS THCS là kiến thiết xây dựng mối quan hệ giữa người lớnvới những em sao cho ổn tho ả và xây dụng quan hệ lầnh mạnh, trong sáng với bạn, đặcbiệt với bạn khác giới. Ngoài việc lĩnh hội tri thức trong trường THCS và tiếp đón sự giáo dục của nhàtrường, của mái ấm gia đình, HS THCS còn hoàn toàn có thể tìm kiếm nhiều thông tin khác từ bè bạn, từ sách báo, phim ảnh ngoài luồng. Nếu tiếp đón những thông tin không lành mạnh, không tương thích với lứa tuổi, những em cỏ thể bị ảnh hường về cách nghĩ, về lối sống ; hình thành những nét nhân cách không tương thích với chuẩn mực xã hội, không phù hợpvới nhu yếu người lớn đặt ra cho những em. Hoạt động 5 : Một số chú ý quan tâm trong công tác làm việc giáo dục học viên trung học cơsởNhà trường và mái ấm gia đình nên thân thiện, chia sẽ với HS ; tránh để những em thu nhậnnhững thông tin ngoài luồng ; tránh thực trạng phân hoá thái độ đốivới môn học, học lệchcó như thế thì những em có được sụ hiểu biết tổng lực, phong phú và đa dạng. Cần giúp HS THCS hiểu được những khái niệm đạo đức một cách đúng chuẩn, khắcphục những quan điểm không đúng ở những em. Nhà trường cần tổ chúc những hoạt động giải trí tập thể lành mạnh, phong phú và đa dạng để HSTHCS được tham gia và có đuợc những kinh nghiệm tay nghề đạo đức đúng đắn, hiểu rõ cácchuẩn mực đạo đức và thực thi trang nghiêm theo những chuẩn mực đó, để những em cóđược sụ tăng trưởng nhân cách tổng lực. Người lớn ( cha mẹ, thầy cô giáo ) cần tôn trọng tính tự lập của HS THCS và hướngdẫn, giúp sức để những em kiến thiết xây dựng được mối quan hệ đúng mực, tích cực với người lớnvà mối quan hệ trong sáng, lành mạnh với bè bạn. Có thể xây dựng phòng tâm líhọc đường trong trường hoặc cụm trường ( theo mục tiêu Nhà nứớc và nhândân cùng chăm sóc cho sự nghiệp giáo dục ) để HS THCS được sự trợ giúp thườngxuyên về tâm lí và những vấn đềkhó khăn của lứa tuổi. Tóm lại : Lứa tuổi HS THCS có một vị trí đặc biệt quan trọng trong thời kì tăng trưởng của trẻ nhỏ. Vị tríđặc biệt này được phản ánh bằng những tên gọi : “ thời kì quá độ “, “ tuổi khó bảo “, “ tuổibất trị “, “ tuổi khủng hoảng cục bộ ” … Những tên gọi đỏ nói lên tính phức tạp và tầm quantrọng của lứa tuổi này trong quy trình tăng trưởng của trẻ nhỏ. Đây là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trưởng thành. Nội dung cơ bản và sựkhác biệt ở lứa tuổi HS THCS với những em ở lứa tuổi khác là sự tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ, thiếu cân đối về những mặt trí tuệ, đạo đức. Sự Open những yếu tố mới của sựtrưởng thành do tác dụng của sự biến hóa khung hình ; của sự tự ý thức ; của những kiểu giaotiếp với người lớn, với bè bạn ; của hoạt động giải trí học lập, hoạt động giải trí xã hội … Yếu tố đầutiên của sự tăng trưởng nhân cách ở lứa tuổi HS THCS là tính tích cực xã hội mạnh mẽcủa những em nhằm mục đích lĩnh hội những giá trị, những chuẩn mực nhất định, nhằm mục đích xây dựngnhững quan hệ thoả đáng vời người lớn, với bạn ngang hàng và sau cuối nhằm mục đích vàobản thân, phong cách thiết kế nhân cách của mình một cách độc lập. Quá trình hình thành cái mới thường lê dài về thời hạn và phụ thuộc vào vào điềukiện sống, hoạt động giải trí của những em. Do đó, sự tăng trưởng tâm lí ở lứa tuổi này diễn rakhông đồng đều về mọi mặt. Điều đó quyết định hành động sự sống sót song song “ vừa tính trẻcon, vừa tính người lớn ” ờ lửa tuổi này. Có thể chứng tỏ những lập luận trên qua sự tăng trưởng sức khỏe thể chất của HS THCS ( nhanh, can đảm và mạnh mẽ, kinh khủng nhưng không cân đối, Open yếu tố mới của sự trưởngthành như hệ sinh d ụ c. . h o ặ c qua sự tăng trưởng tiếp xúc của HS THCS với người lớn ( Nét đặc trưng trong tiếp xúc của HS THCS với người lớn là sự cải tổ lại kiểu quanhệ giữa người lớn với trẻ nhỏ có ở tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ đặc trưngcủa tuổi thiếu niên và đặt cơ sở cho việc thiết lập quan hệ của người lớn với người lớntrong những tiến trình tiếp theo … ) qua tiếp xúc với bạn hay qua sự tăng trưởng mạnh mẽcủa tự ý thức, của đạo đức và hành vi ứng xử ở HS THCS.Phần 4. Tự xếp loại tác dụng BDTX : Loại : TốtNhận xét của BGHNhận xét của TTCMNgười viết bài thu hoạchLý Sậy
Source: https://evbn.org
Category: Bài Tập


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


