Tổng quan về khoa học quản lý

Ngày đăng: 27/10/2013, 21:15

Tổng quan về khoa học quản 1 Phần 1 Tổng quan về khoa học quản CHƯƠNG 1: QUẢN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN 1.1 Khái niệm quản 1.1.1. Các cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản Quản là một dạng lao động xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Nó là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người. – Xã hội càng phát triển thì vai trò của quản ngày càng quan trọng. Nó hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản lý. Có thể khái quát một số cách tiếp cận và quan niệm khác nhau về quản như sau: Thứ nhất: Đồng nhất quản với việc dùng người và thông qua người khác để hoàn thành công việc của mình (Mặc Tử, F.W. Taylor, M.P. Follet) Mặc Tử: Công việc của những bậc đại nhân (cai trị, thống trị, quản lý) là biết tập hợp xung quanh mình những người hiền. Quan niệm trên cho thấy: quản là công việc của số ít người và không phải ai cũng có thể làm được. F.W Taylor (1856 – 1915) Quản là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết chắc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Quan niệm trên đã cho thấy quản là công việc gián tiếp. Người quản không trực tiếp thực hiện mọi công việc mà, nhiệm vụ của họ là phân công, sắp xếp, bố trí và kiểm tra người khác làm. Nhận xét: – Ưu điểm: Nhấn mạnh đến vai trò của con người trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức. Nhấn mạnh đến một đặc trưng rất cơ bản của hoạt động quản là sự tác đọng giữa người với người, để thực hiện mục tiêu của tổ chức. 2 – Hạn chế: Coi con người như một loại công cụ, phương tiện để hoàn thành mục tiêu. Vì thế, nó không có tính nhân văn. Ngoài ra, F. W Taylor mới chỉ đề cập đến việc cải tiến công cụ lao động và quan hệ lao động giữa người chủ và công nhân mà chưa chú y đến những nội dung khác của hoạt động quản lý. Thứ hai: Tiếp cận quản với tính cách là một qúa trình (H.Fayol, H. Koontz, C.O ’ Donnell, H. Weihrich) H. Fayol: Quản hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. H. Koontz và các tác giả: Quản là điều kiện thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lưc cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Nhận xét: – Ưu điểm: Nhìn nhận quản là hoạt động mang tính khoa học và có thể thao tác hoá, quy trình hoá thành những chức năng, nhiệm vụ, bứơc đi cụ thể. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thể quản thực hiện nhiệm vụ rễ ràng hơn. – Hạn chế: Còn mang tính máy móc, cứng nhắc, quá đề cao và nhấn mạnh đến kĩ thuật quản mà chưa chú ýy đến nghệ thuật, phong cách quản lý. Thứ ba: Quản là ra quyết định. Bởi lẽ, theo họ, ra quyết định là khâu cuối cùng, mang tính đột phá nhất của công việc quản lý. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là H. Simon, V.H Vroom.v.v. H.Simon cho rằng: Ra quyết định là cốt lõi của quản lý. Mọi công việc khác của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thể quản lý. Việc ra quyết định quản là công việc cơ bản của mọi cấp trong tổ chức. V. H Vroom cho rằng: Công việc của tất cả các nhà quản là ra quyết định quản lý. Trình độ của nhà quản cao hay thấp chủ yếu được đánh giá xem những quyết định họ ban hành ra đúng nhiều hay ít. Nhận xét: – Ưu điểm: Đề cao vai trò của chủ thể quản lý. Đánh giá cao vị trí, vai trò của công tác ra quyết định quản trong điều hành tổ chức. – Hạn chế: Nhìn nhận chức năng, nhiệm vụ của người quản còn phiến diện, chưa đầy đủ. Đánh giá quá cao vai trò của công tác ra quyết định quản nên xem nhẹ, bỏ quên các công việc khác. 3 Thứ tư: Quản một nghệ thuật. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến khía cạnh nghệ thuật, đến tính linh hoạt, sáng tạo và mền dẻo trong hoạt động của chủ thể quản lý. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là: M.P Follet: Quản là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác. Trường phái 7S: Đưa ra 7 công việc cơ bản mà nhà quản phải quan tâm đến và việc thực hiện nó đòi hỏi phải có nghệ thuật đó là: 1. Xây dựng mục tiêu dài hạn 2. Thiết kế tổ chức (structure) 3. Đảm bảo tính hệ thống của tổ chức (systems) 4. Chú y phong cách (style) 5. Quan tâm đến nhân viên (staff) 6. Xây dựng các kĩ năng (skills) 7. Xây dựng chiến lược (Strategy) Nhận xét: – Ưu điểm: Khắc phục được những hạn chế của quan niệm mang tính máy móc, kĩ thuật về hoạt động quản lý. Đề cao tính linh hoạt, tính mềm dẻo của hoạt động quản lý. – Hạn chế: Còn mang tính ảo tưởng, đôi khi nhấn mạnh quá mức yếu tố nghệ thuật mà coi nhẹ yếu tố kĩ thuật, yếu tố quy trình của hoạt động quản lí. Thứ năm: Quản là hoạt động phụ thuộc vào tình huống cụ thể. Tuỳ theo tình huống khác nhau mà chủ thể quản sử dụng các công cụ, phương thức phù hợp. Đại diện cho cách tiếp cận này là tác giả Paul Hersey và Ken Blandhard. Họ cho rằng: Không có một phương thức quản và lãnh đạo tốt nhất cho mọi tình huống khác nhau. Người quản sẽ lựa chọn công cụ, phương pháp quản nào là căn cứ vào tình huống cụ thể. Nhận xét: 4 – Ưu điểm: Nhấn mạnh đến tính đa dạng về nội dung và phong phú về hình thức của hoạt động quản trong thực tiễn. Đề cao vai trò của người quản trong việc dẫn dắt, điều khiển tổ chức trong quá trình thực hiện mục tiêu chung. – Hạn chế: Chưa nhận ra được những điểm chung, những yếu tố chung của hoạt động quản lý. Ngoài một số cách tiếp cận như trên, trong thực tế còn một số cách tiếp cận khác như: theo kinh nghiệm hoặc trường hợp, theo hành vi quan hệ cá nhân, theo hệ thống kĩ thuật – xã hội, tiếp cận tác nghiệp về quản .v.v Những cách tiếp cận khác nhau đó đã tạo ra bức tranh phong phú, đa dạng và rất sống động về lĩnh vực hoạt động đặc biệt này. Từ đó góp phần cho phép chúng ta nhận thức ngày càng đầy đủ và tiếp cận được bản chất của hoạt động quản lý. H. Koontz gọi sự phong phú về các cách tiếp cận khác nhau về quản như trên như là khu rừng thuyết quản lý. Tuy vậy, các cách tiếp cận đó mới chỉ dừng lại ở những góc nhìn đơn lẻ, mới nhấn mạnh đến một mặt, một phương diện nào đó của hoạt động quản lý. Sở dĩ có sự khác nhau trong cách tiếp cận về quản như trên là vì: + Bản thân lĩnh vực quản chứa đựng nội dung đa dạng và phong phú. Mục tiêu, nội dung, phương thức quản thường xuyên biến đổi cùng với sự biến đổi của con người và những điều kiện kinh tế – xã hội mà nó tồn tại. + Nhu cầu thực tiễn đặt ra ở các giai đoạn lịch sử, các tổ chức ở các cấp độ là khác nhau. Vì thế, đòi hỏi có những thuyết khác nhau để làm cơ sở luận cho việc giải quyết những thực tiễn đó. + Trình độ phát triển ngày càng cao của các khoa học (cả khoa học tự nhiên cũng như khoa học xã hội và nhân văn) tạo khả năng ứng dụng những thành tựu của chúng vào quản lý.) + Lập trường giai cấp của các nhà tư tưởng quản lý. Từ những cách tiếp cận và quan niệm về quản vừa nêu trên, chúng ta hãy trả lời câu hỏi: bản chất của quản là gì? Quản là một dạng lao động đặc biệt nhằm tác động tới các hoạt động lao động cụ thể để đạt mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả nhất. Để có thể hiểu rõ bản chất của quản lý, chúng ta có thể phân biệt hoạt động quản với các hoạt động cụ thể khác như sau: 5 Quyết định QL HĐQL = CTQL <—————————–> KTQL === Mục tiêu chung (Mc) (Công cụ, phương tiện khác) Công cụ HĐ = Con người ————————–>Đối tượng === Mục tiêu (M) Phương tiện Công cụ SX HĐSXVC = Người lao động ——————-> Đối tượng LĐ === Mục tiêu của chủ thể Sự phân biệt các hoạt động trên chỉ mang tính tương đối và chỉ tồn tại trong nhận thức. Việc phân biệt các hoạt động đó là nhằm mục đích xác định bản chất của quản dễ dàng hơn, từ đó cho phép chúng ta xác định hoạt động quản được thực hiện theo mô hình sau: Công cụ Công cụ CTQL <—————->Đối tượng 1 <———–> Đối tượng 2 ———>Mc Phương tiện Phương tiện Từ mô hình trên, chúng ta có thể chỉ ra các yếu tố cơ bản của hoạt động quản là : 1/ Chủ thể quản 2/ Khách thể quản 3/ Công cụ, phương tiện quản 4/ Mục tiêu chung 5/ Điều kiện môi trường quản – Việc xác định được các yếu tố cấu thành trong hoạt động quản đòi hỏi các chủ thể khi nghiên cứu và thực hành về quản phải có cách tiếp cận mang tính chỉnh thể, toàn vẹn và hệ thống đối với hoạt động này. – Từ những phân tích và khái quát trên, chúng ta có thể hiểu : Quản là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật và các công cụ của chủ thể quản tới khách thể quản để đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định. Ngoài ra, bản chất của quản còn được thể hiện ra ở các hình thức quản lí, vai trò và những đặc trưng chung của các hình thức quản lí đó. 1.1.2 Phân loại quản Tuỳ theo căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thành các hình thức quản lí khác nhau trong thực tiễn : – Căn cứ quy mô quản : Quản vi mô và vĩ mô – Căn cứ vào đối tượng quản lí: + Quản lí giới tự nhiên (chăm sóc, trông nom, bảo vệ) 6 + Quản lí hệ thống vật tư, kĩ thuật (bảo dưỡng, bảo vệ, điều khiển) + Quản lí con người, quản lí xã hội – Căn cứ lĩnh vực của đời sống xã hội: Quản chính trị, quản kinh tế, văn hoá, xã hội .v.v. – Căn cứ vào chủ thể quản lí: Quản lí nhà nước, quản lí hành chính nhà nứơc, quản lí xã hội.v.v. – Căn cứ vào các yếu tố cấu thành của tổ chức: Quản lí văn hoá tổ chức, quản lí chiến lược, quản lí nguồn nhân lực, quản lí chính sách, quản lí thông tin.v.v – Căn cứ vào tính chất của hoạt động quản lí: Quản lí biến đổi, quản lí hài hoà, quản lí chất lượng, quản lí đổi mới, quản lí rủi ro.vv. Nhận xét : + Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối. + Cho thấy tính chất đa dạng, phong phú của các hoạt động quản lí + Việc chỉ ra các loại hình quản lí khác nhau đã chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về các đặc trưng, vai trò của quản lí đầy đủ hơn, từ đó, thấy được bản chất của hoạt động quản lí là mối quan hệ giữa người với người, đối tượng của quản lí suy đến cùng là quản lí con người trong hoạt động của họ, quản lí các hiện tượng và quá trình xã hội. + Hoạt động quản lí có nhiều cấp độ và hình thức khác nhau, vì thế cần phải chỉ ra cái chung, cái lặp lại, cái phổ biến của các hình thức đó để khái quát được quy luật quản lí. 1.1.3 Đặc trưng của quản Thứ nhất : Là một hoạt động có tính tất yếu, phổ biến và mang tính lịch sử. (Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển có chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C.Mác -Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 23, NXB Sự thật, 1995, tr480) Thứ hai: Là sự tác động của chủ thể quản đến khách thể quản bằng quyền lực. Thứ ba: Là hoạt động nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung. Thứ tư: Quản là quy trình bao gồm các bước cơ bản: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Thứ năm: Là dạng lao động đặc biệt, mang tính gián tiếp và tổng hợp. Người ta coi quản là lao động về lao động, hay lao động siêu lao động. Thứ sáu: Quản vừa mang tính khoa học vừa là nghệ thuật. Thứ bảy: Thông tin là nhân tố đặc biệt quan trọng của quản Thứ tám: Quản có xu hướng vươn tới tự quản 7 1.1.4 Vai trò của quản Có nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau về vai trò của quản lý, cụ thể : – A.Smith (Nhà kinh tế học Cổ điển Anh, thế kỉ XVIII) rất nhấn mạnh đến vai trò của phân công lao động hợp lí trong sản xuất. Nhờ có phân công lao động mà các tổ chức có được năng suất lao động cao hơn. – Các Mác lại nhấn mạnh đến vai trò của ý ý chí điều khiển chung của người thủ lĩnh, người đứng đầu, người chỉ huy trong các hoạt động tập thể. – V.I.Lênin đề cao vai trò của tổ chức, ông nói: Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cộng sản, chúng tôi sẽ đảo lộn cả nước Nga. – Keney (Nhà kinh tế học Thuỷ Điển) chỉ ra vai trò của quản lí trong quá trình phát triển của xã hội. Ông đã khẳng định thế kỉ XX là sự thống trị của đề quốc bàn giấy (quản lí) đối với vương quốc kĩ thuật. – Trường phái quản Nhật Bản coi quản là nhân tố thứ tư trong quá trình phát triển xã hội hiện đại, giữ vai trò kết nối ba nhân tố đã có trong xã hội truyền thống là: Vốn (tư bản), ruộng đất và lao động. Như vậy, có thể thấy quản lí đóng vai trò đặc biệt quan trọng và ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội. Vai trò đó thể hiện ra ở những khía cạnh sau : +Vai trò định hướng +Vai trò thiết kế + Vai trò phối hợp + Vai trò thúc đẩy + Vai trò điều chỉnh 1.2 Những yếu tố tác động đến quản Quản lí là một hệ thống bao gồm nhiều nhân tố, nhiều hoạt động đa dạng và phức tạp. Có thể phân chia các nhân tố của hệ thống quản lí thành : Nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoai (môi trường).v.v. Tuy nhiên, với các loại hình tổ chức khác nhau (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.v.v.) các nhân tố bên trong và bên ngoài của chúng là không giống nhau. Khoa học quản lí chỉ xem xét những yếu tố chung nhất, phổ biến nhất có tác động đến các loại hình tổ chức khác nhau một cách trực tiếp và gián tiếp. 1.2.1 Yếu tố kinh tế 8 – Trình độ của lực lượng sản xuất – Tính chất của quan hệ sản xuất – Cơ sở vật chất và tài chính *Nhận xét và đánh giá: + Có mối quan hệ 2 chiều giữa yếu tố kinh tế tới quản + Yếu tố kinh tế có tác động trực tiếp đối với việc quản của các tổ chức kinh tế 1.2.2 Yếu tố chính trị, luật pháp – Quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cầm quyền, hệ thống pháp luật của Nhà nứơc – Tính chất, đặc trưng của hệ thống thiết chế chính trị, nền hành chính quốc gia. Tính chất của cơ chế chính trị có tác động đến đến quản một cách trực tiếp và gián tiếp. Yếu tố chính trị được thể hiện ra ở quan điểm, đường lối, về chiến lược phát triển xã hội của giai cấp cầm quyền. – Cơ chế điều chỉnh của các chủ thể quản cấp vĩ mô đối với các hoạt động của các chủ thể khác. *Nhận xét – Có sự tác động 2 chiều của các yếu tố chính trị – luật pháp tới quản – Yếu tố chính trị – luật pháp có tác động trực tiếp đối với hoạt động quản chính trị 1.2.3. Yếu tố văn hoá -Trình độ dân trí -Chuẩn mực giá trị trong quan hệ ứng xử -Giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc -Văn hóa chính trị -Văn hóa quản * Nhận xét – Có sự tác động 2 chiều của các yếu tố văn hoá đến quản – Yếu tố văn hoá có tác động trực tiếp đối với quản các tổ chức Văn hoá – xã hội 9 CHƯƠNG 2 QUẢN VỚI TÍNH CÁCH LÀ MỘT KHOA HỌC. 2.1 Đối tượng nghiên cứu của khoa học quản Trong thực tiễn, tồn tại đa dạng và sinh động của các loại hình hoạt động, ở các cấp độ và các lĩnh vực, các tổ chức khác nhau của con người. Tương ứng với tính đa dạng và sinh động của các lĩnh vực hay tổ chức đó sẽ có những loại hình quản tuơng ứng. Không có quản nằm ngoài các tổ chức, nằm ngoài những hoạt động tập thể ở tất cả các lĩnh vực kinh tế. chính trị, văn hoá, xã hội của đời sống con người. Như một quy luật khách quan, khi hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người ngày càng phát triển thì những tri thức của con người về các lĩnh vực hoạt động đó mà con người tham gia vừa với tư cách là chủ thể vừa là đối tượng nhận thức cũng ngày càng gia tăng và đi vào khám phá cái bản chất, cái quy luật của nó. Dần dần, các khoa học về các lĩnh vực đó cũng xuất hiện. Nhưng bản chất nhận thức của con người là luôn có xu hướng phải tìm đến và khái quát cái chung, cái phổ biến giữa các sự vật hiện tượng chứ không chỉ dừng lại ở những mặt, những khía cạnh đơn lẻ của sự vật, hiện tượng. Với mong muốn như vậy, cùng với tư duy trừu tượng và sự phát triển của thực tiễn mà con người đã khái quát thành những quy luật cơ bản trong quá trình vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Là một hoạt động thực tiễn của con người, hoạt động quản cũng là đối tượng của nhận thức. Ngay từ khi xuất hiện, quản đã được tìm hiểu, khám phá để chỉ ra những đặc trưng, những yếu tố của hoạt động này, từ đó giúp cho hoạt động của con người ngày càng hiệu quả hơn. Nhu cầu tìm hiểu về quản trứơc hết xuất phát từ chính thực tiễn quản ở các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Như một quy luật khách quan, các tri thức về quản cũng đã hình thành và trở thành những khoa học quản về lĩnh vực đó. Có thể gọi đó là các khoa học quản chuyên ngành. Không dừng lại ở những lĩnh vực riêng lẻ đó, con người còn đặt ra cho mình yêu cầu phải trả lời những câu hỏi như: có cái gì chung, phổ biến và lặp lại giữa các lĩnh vực quản khác nhau đó hay không? Cái gì để phân biệt giữa hoạt động quản với những hoạt động tương tự nó? Bản chất của quản là gì? Trong quá trình đó, cùng với sự phát triển của nhận thức và sự phong phú đa dạng của các loại hình quản xuất hiện trong thực tiễn, con người đã chỉ ra được những yếu tố chung nhất, phổ biến nhất, có ở tất cả các loại hình quản khác nhau, đó là: Chủ thể quản lý; 10 […]… ra rằng người quản lý, người lãnh đạo không phải do bẩm sinh mà phải rèn luyện, đào tạo – Khoa học quản xây dựng quy trình quản bắt buộc đối với tất cả các nhà quản lý, cấp quản và các lĩnh vực quản Khoa học quản ngày càng hoàn thiện về cơ sở lí thuyết và kỹ thuật, công nghệ quản 2.3.2 Ý nghĩa của Khoa học quản – Với các khoa học quản chuyên ngành Khoa học quản cung cấp… và khách thể quản lý, những quan hệ và quy luật quản ở trong từng lĩnh vực cụ thể như: – Khoa học quản kinh tế – Khoa học quản văn hoá – Quản nhà nước v.v.v Các khoa học quản là phải tổng hợp và khái quát những tri thức có đựơc từ những khoa học quản chuyên ngành… tác nghiệp; quản thao tác; quản giá thành; quản kỉ luật; quản tốc độ; quản sửa chữa; quản chất lượng;) + Nguyên kiểm soát, quản về mặt tổ chức * Đánh giá nhận xét: – Học thuyết quản theo khoa học đánh dấu bước ngoặt, một sự thay đổi, trong sự phát triển khoa học quản Nhiều người đánh giá F.W Taylor là cha đẻ của quản khoa học – Có hệ thống tri thức về quản nhằm thay… và làm cơ sở luận cho các khoa học quản chuyên ngành – Với thực tiễn hoạt động luận cho hoạt động thực tiễn của các chủ thể quản và khách thể quản Nâng cao nhận thức của cả chủ thể và khách thể quản về các vấn đề cơ bản nhất trong hoạt động quản – Với các khoa học khác (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn) Khoa học quản cung cấp thêm… luật học, đạo đức học, hành chính học, chính trị học, tâm học v.v.) 2.2.2 Phương pháp riêng -Phương pháp vận trù học -Phương pháp toán học …… 2.2.3 Phương pháp đặc thù -Phương pháp mô hình hóa -Phương pháp chuyên gia -2.3 Đặc điểm và ý nghĩa của Khoa học quản 2.3.1 Đặc điểm của khoa học quản Khoa học quản là một khoa học thuyết và hành vi Khoa học quản vừa là một khoa học mang… ích giữa chúng – Có 2 hình thức quan hệ quản cơ bản: + Quan hệ quản đối lập + Quan hệ quản thống nhất Chính chủ thể quản và khách thể quản tác động lẫn nhau tạo thành mối quan hệ quản lý, thông qua mối quan hệ quản tạo nên quy luật quản vì: Xu hướng 1: Chủ thể quản chủ quan hoá những tác động quản lý: Dùng quyền lực để bắt buộc khách thể quản thực hiện theo ý chí của mình,… khoa học xã hội và nhân văn Bao gồm các ngành khoa học như: Xã hội học, tâm học, khoa học pháp lý, khoa học tính toán.v.v Các môn khoa học này nghiên cứu từng khía cạnh của quản lý, hay một phương diện nào đó của quản Từ đó cung cấp những tri thức căn bản về quản dưới góc nhìn của khoa học đó 2.5.4 Với các khoa học quản chuyên ngành Tập trung nghiên cứu sự tác động của chủ thể quản và… và quyết định quản một cách hiệu lực và hiệu quả 2.1.5 Môi trường quản v.v có ảnh hưởng và tác động đến hoạt động quản 2.1.6 Quan hệ quản – Sự tác động của chủ thể quản tới khách thể quản tạo nên quan hệ quản Quan hệ quản tồn tại ở những trạng thái khác nhau tùy thuộc vào quan hệ lợi ích… chuyên ngành để xây dựng luận chung nhất về quản 2.5.5 Với khoa học về lịch sử tư tưởng và học thuyết học thuyết quản khoa học nghiên cứu sự hình thành và phát triển của những tư tưởng và các học thuyết quản Đó là một sự tổng kết lịch sử trong những giai đoạn nhất định Những tri thức của nó sẽ được khoa học quản vận dụng để khái quát và chỉ…Khách thể quản lý; Công cụ, phương tiện quản lý; Mục đích của quản Môi trường quản lý; Quan hệ quản Với tính cách là một khoa học chung nhất về quản lí, khoa học quản có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu là tìm ra quy luật vận động và phát triển của quản lý, từ đó xác định nguyên tắc, phương pháp, công cụ, nội dung quản lí, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản 2.1.1 Chủ thể quản – Chủ . GIẢNG Tổng quan về khoa học quản lý 1 Phần 1 Tổng quan về khoa học quản lý CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ 1.1 Khái niệm quản lý 1.1.1 của khoa học quản lý – Khoa học quản lý là một khoa học lý thuyết và hành vi Khoa học quản lý vừa là một khoa học mang tính lý luận chung về hoạt động quản

BÀI GIẢNG1 Phần 1CHƯƠNG 1:VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN1.1 Khái niệm1.1.1. Các cách tiếp cận vàniệm khác nhaulà một dạng lao động xuất hiện rất sớm trong lịch sử. Nó là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động của nhiều người. – Xã hội càng phát triển thì vai trò củangày càngtrọng. Nó hiện diện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận vàniệm khác nhaulý. Có thể khái quát một số cách tiếp cận vàniệm khác nhaunhư sau: Thứ nhất: Đồng nhấtvới việc dùng người và thông qua người khác để hoàn thành công việc của mình (Mặc Tử, F.W. Taylor, M.P. Follet) Mặc Tử: Công việc của những bậc đại nhân (cai trị, thống trị,lý) là biết tập hợp xung quanh mình những người hiền.niệm trên cho thấy:là công việc của số ít người và không phải ai cũng có thể làm được. F.W Taylor (1856 – 1915)là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết chắc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.niệm trên đã cho thấylà công việc gián tiếp. Ngườikhông trực tiếp thực hiện mọi công việc mà, nhiệm vụ của họ là phân công, sắp xếp, bố trí và kiểm tra người khác làm. Nhận xét: – Ưu điểm: Nhấn mạnh đến vai trò của con người trong việc thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức. Nhấn mạnh đến một đặc trưng rất cơ bản của hoạt độnglà sự tác đọng giữa người với người, để thực hiện mục tiêu của tổ chức. 2 – Hạn chế: Coi con người như một loại công cụ, phương tiện để hoàn thành mục tiêu. Vì thế, nó không có tính nhân văn. Ngoài ra, F. W Taylor mới chỉ đề cập đến việc cải tiến công cụ lao động vàhệ lao động giữa người chủ và công nhân mà chưa chú y đến những nội dung khác của hoạt độnglý. Thứ hai: Tiếp cậnvới tính cách là một qúa trình (H.Fayol, H. Koontz, C.O ’ Donnell, H. Weihrich) H. Fayol:hành chính là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. H. Koontz và các tác giả:là điều kiện thiết yếu nó đảm bảo phối hợp những nỗ lưc cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Nhận xét: – Ưu điểm: Nhìn nhậnlà hoạt động mang tínhvà có thể thao tác hoá, quy trình hoá thành những chức năng, nhiệm vụ, bứơc đi cụ thể. Từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ thểthực hiện nhiệm vụ rễ ràng hơn. – Hạn chế: Còn mang tính máy móc, cứng nhắc, quá đề cao và nhấn mạnh đến kĩ thuậtmà chưa chú ýy đến nghệ thuật, phong cáchlý. Thứ ba:là ra quyết định. Bởi lẽ, theo họ, ra quyết định là khâu cuối cùng, mang tính đột phá nhất của công việclý. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là H. Simon, V.H Vroom.v.v. H.Simon cho rằng: Ra quyết định là cốt lõi củalý. Mọi công việc khác của tổ chức chỉ diễn ra sau khi có quyết định của chủ thểlý. Việc ra quyết địnhlà công việc cơ bản của mọi cấp trong tổ chức. V. H Vroom cho rằng: Công việc của tất cả các nhàlà ra quyết địnhlý. Trình độ của nhàcao hay thấp chủ yếu được đánh giá xem những quyết định họ ban hành ra đúng nhiều hay ít. Nhận xét: – Ưu điểm: Đề cao vai trò của chủ thểlý. Đánh giá cao vị trí, vai trò của công tác ra quyết địnhtrong điều hành tổ chức. – Hạn chế: Nhìn nhận chức năng, nhiệm vụ của ngườicòn phiến diện, chưa đầy đủ. Đánh giá quá cao vai trò của công tác ra quyết địnhnên xem nhẹ, bỏ quên các công việc khác. 3 Thứ tư:một nghệ thuật. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến khía cạnh nghệ thuật, đến tính linh hoạt, sáng tạo và mền dẻo trong hoạt động của chủ thểlý. Tiêu biểu cho cách tiếp cận này là: M.P Follet:là một nghệ thuật khiến cho công việc của bạn được hoàn thành thông qua người khác. Trường phái 7S: Đưa ra 7 công việc cơ bản mà nhàphảitâm đến và việc thực hiện nó đòi hỏi phải có nghệ thuật đó là: 1. Xây dựng mục tiêu dài hạn 2. Thiết kế tổ chức (structure) 3. Đảm bảo tính hệ thống của tổ chức (systems) 4. Chú y phong cách (style) 5.tâm đến nhân viên (staff) 6. Xây dựng các kĩ năng (skills) 7. Xây dựng chiến lược (Strategy) Nhận xét: – Ưu điểm: Khắc phục được những hạn chế củaniệm mang tính máy móc, kĩ thuậthoạt độnglý. Đề cao tính linh hoạt, tính mềm dẻo của hoạt độnglý. – Hạn chế: Còn mang tính ảo tưởng, đôi khi nhấn mạnh quá mức yếu tố nghệ thuật mà coi nhẹ yếu tố kĩ thuật, yếu tố quy trình của hoạt độnglí. Thứ năm:là hoạt động phụ thuộc vào tình huống cụ thể. Tuỳ theo tình huống khác nhau mà chủ thểsử dụng các công cụ, phương thức phù hợp. Đại diện cho cách tiếp cận này là tác giả Paul Hersey và Ken Blandhard. Họ cho rằng: Không có một phương thứcvà lãnh đạo tốt nhất cho mọi tình huống khác nhau. Ngườisẽ lựa chọn công cụ, phương phápnào là căn cứ vào tình huống cụ thể. Nhận xét: 4 – Ưu điểm: Nhấn mạnh đến tính đa dạngnội dung và phong phúhình thức của hoạt độngtrong thực tiễn. Đề cao vai trò của ngườitrong việc dẫn dắt, điều khiển tổ chức trong quá trình thực hiện mục tiêu chung. – Hạn chế: Chưa nhận ra được những điểm chung, những yếu tố chung của hoạt độnglý. Ngoài một số cách tiếp cận như trên, trong thực tế còn một số cách tiếp cận khác như: theo kinh nghiệm hoặc trường hợp, theo hành vihệ cá nhân, theo hệ thống kĩ thuật – xã hội, tiếp cận tác nghiệp.v.v Những cách tiếp cận khác nhau đó đã tạo ra bức tranh phong phú, đa dạng và rất sống độnglĩnh vực hoạt động đặc biệt này. Từ đó góp phần cho phép chúng ta nhận thức ngày càng đầy đủ và tiếp cận được bản chất của hoạt độnglý. H. Koontz gọi sự phong phúcác cách tiếp cận khác nhaunhư trên như là khu rừngthuyếtlý. Tuy vậy, các cách tiếp cận đó mới chỉ dừng lại ở những góc nhìn đơn lẻ, mới nhấn mạnh đến một mặt, một phương diện nào đó của hoạt độnglý. Sở dĩ có sự khác nhau trong cách tiếp cậnnhư trên là vì: + Bản thân lĩnh vựcchứa đựng nội dung đa dạng và phong phú. Mục tiêu, nội dung, phương thứcthường xuyên biến đổi cùng với sự biến đổi của con người và những điều kiện kinh tế – xã hội mà nó tồn tại. + Nhu cầu thực tiễn đặt ra ở các giai đoạn lịch sử, các tổ chức ở các cấp độ là khác nhau. Vì thế, đòi hỏi có nhữngthuyết khác nhau để làm cơ sởluận cho việc giải quyết những thực tiễn đó. + Trình độ phát triển ngày càng cao của các(cảtự nhiên cũng nhưxã hội và nhân văn) tạo khả năng ứng dụng những thành tựu của chúng vàolý.) + Lập trường giai cấp của các nhà tư tưởnglý. Từ những cách tiếp cận vàniệmvừa nêu trên, chúng ta hãy trả lời câu hỏi: bản chất củalà gì?là một dạng lao động đặc biệt nhằm tác động tới các hoạt động lao động cụ thể để đạt mục tiêu chung của tổ chức một cách hiệu quả nhất. Để có thể hiểu rõ bản chất củalý, chúng ta có thể phân biệt hoạt độngvới các hoạt động cụ thể khác như sau: 5 Quyết định QL HĐQL = CTQL <—————————–> KTQL === Mục tiêu chung (Mc) (Công cụ, phương tiện khác) Công cụ HĐ = Con người ————————–>Đối tượng === Mục tiêu (M) Phương tiện Công cụ SX HĐSXVC = Người lao động ——————-> Đối tượng LĐ === Mục tiêu của chủ thể Sự phân biệt các hoạt động trên chỉ mang tính tương đối và chỉ tồn tại trong nhận thức. Việc phân biệt các hoạt động đó là nhằm mục đích xác định bản chất củadễ dàng hơn, từ đó cho phép chúng ta xác định hoạt độngđược thực hiện theo mô hình sau: Công cụ Công cụ CTQL <—————->Đối tượng 1 <———–> Đối tượng 2 ———>Mc Phương tiện Phương tiện Từ mô hình trên, chúng ta có thể chỉ ra các yếu tố cơ bản của hoạt độnglà : 1/ Chủ thể2/ Khách thể3/ Công cụ, phương tiện4/ Mục tiêu chung 5/ Điều kiện môi trường- Việc xác định được các yếu tố cấu thành trong hoạt độngđòi hỏi các chủ thể khi nghiên cứu và thực hànhphải có cách tiếp cận mang tính chỉnh thể, toàn vẹn và hệ thống đối với hoạt động này. – Từ những phân tích và khái quát trên, chúng ta có thể hiểu :là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo một quy trình với những nguyên tắc, phương pháp, phong cách, nghệ thuật và các công cụ của chủ thểtới khách thểđể đạt được mục tiêu của tổ chức trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định. Ngoài ra, bản chất củacòn được thể hiện ra ở các hình thứclí, vai trò và những đặc trưng chung của các hình thứclí đó. 1.1.2 Phân loạiTuỳ theo căn cứ khác nhau mà có thể phân chia thành các hình thứclí khác nhau trong thực tiễn : – Căn cứ quy môvi mô và vĩ mô – Căn cứ vào đối tượnglí: +lí giới tự nhiên (chăm sóc, trông nom, bảo vệ) 6 +lí hệ thống vật tư, kĩ thuật (bảo dưỡng, bảo vệ, điều khiển) +lí con người,lí xã hội – Căn cứ lĩnh vực của đời sống xã hội:chính trị,kinh tế, văn hoá, xã hội .v.v. – Căn cứ vào chủ thểlí:lí nhà nước,lí hành chính nhà nứơc,lí xã hội.v.v. – Căn cứ vào các yếu tố cấu thành của tổ chức:lí văn hoá tổ chức,lí chiến lược,lí nguồn nhân lực,lí chính sách,lí thông tin.v.v – Căn cứ vào tính chất của hoạt độnglí:lí biến đổi,lí hài hoà,lí chất lượng,lí đổi mới,lí rủi ro.vv. Nhận xét : + Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối. + Cho thấy tính chất đa dạng, phong phú của các hoạt độnglí + Việc chỉ ra các loại hìnhlí khác nhau đã chúng ta nhận thức đầy đủ hơncác đặc trưng, vai trò củalí đầy đủ hơn, từ đó, thấy được bản chất của hoạt độnglí là mốihệ giữa người với người, đối tượng củalí suy đến cùng làlí con người trong hoạt động của họ,lí các hiện tượng và quá trình xã hội. + Hoạt độnglí có nhiều cấp độ và hình thức khác nhau, vì thế cần phải chỉ ra cái chung, cái lặp lại, cái phổ biến của các hình thức đó để khái quát được quy luậtlí. 1.1.3 Đặc trưng củaThứ nhất : Là một hoạt động có tính tất yếu, phổ biến và mang tính lịch sử. (Một nghệ sĩ chơi đàn chỉ phải điều khiển có chính mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C.Mác -Ph.Ăngghen, toàn tập, tập 23, NXB Sự thật, 1995, tr480) Thứ hai: Là sự tác động của chủ thểđến khách thểbằng quyền lực. Thứ ba: Là hoạt động nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung. Thứ tư:là quy trình bao gồm các bước cơ bản: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Thứ năm: Là dạng lao động đặc biệt, mang tính gián tiếp vàhợp. Người ta coilà lao độnglao động, hay lao động siêu lao động. Thứ sáu:vừa mang tínhvừa là nghệ thuật. Thứ bảy: Thông tin là nhân tố đặc biệttrọng củaThứ tám:có xu hướng vươn tới tự7 1.1.4 Vai trò củaCó nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác nhauvai trò củalý, cụ thể : – A.Smith (Nhà kinh tếCổ điển Anh, thế kỉ XVIII) rất nhấn mạnh đến vai trò của phân công lao động hợp lí trong sản xuất. Nhờ có phân công lao động mà các tổ chức có được năng suất lao động cao hơn. – Các Mác lại nhấn mạnh đến vai trò của ý ý chí điều khiển chung của người thủ lĩnh, người đứng đầu, người chỉ huy trong các hoạt động tập thể. – V.I.Lênin đề cao vai trò của tổ chức, ông nói: Hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cộng sản, chúng tôi sẽ đảo lộn cả nước Nga. – Keney (Nhà kinh tếThuỷ Điển) chỉ ra vai trò củalí trong quá trình phát triển của xã hội. Ông đã khẳng định thế kỉ XX là sự thống trị của đề quốc bàn giấy (quản lí) đối với vương quốc kĩ thuật. – Trường pháiNhật Bản coilà nhân tố thứ tư trong quá trình phát triển xã hội hiện đại, giữ vai trò kết nối ba nhân tố đã có trong xã hội truyền thống là: Vốn (tư bản), ruộng đất và lao động. Như vậy, có thể thấylí đóng vai trò đặc biệttrọng và ngày càng tăng theo sự phát triển của xã hội. Vai trò đó thể hiện ra ở những khía cạnh sau : +Vai trò định hướng +Vai trò thiết kế + Vai trò phối hợp + Vai trò thúc đẩy + Vai trò điều chỉnh 1.2 Những yếu tố tác động đếnlí là một hệ thống bao gồm nhiều nhân tố, nhiều hoạt động đa dạng và phức tạp. Có thể phân chia các nhân tố của hệ thốnglí thành : Nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoai (môi trường).v.v. Tuy nhiên, với các loại hình tổ chức khác nhau (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.v.v.) các nhân tố bên trong và bên ngoài của chúng là không giống nhau.lí chỉ xem xét những yếu tố chung nhất, phổ biến nhất có tác động đến các loại hình tổ chức khác nhau một cách trực tiếp và gián tiếp. 1.2.1 Yếu tố kinh tế 8 – Trình độ của lực lượng sản xuất – Tính chất củahệ sản xuất – Cơ sở vật chất và tài chính *Nhận xét và đánh giá: + Có mốihệ 2 chiều giữa yếu tố kinh tế tới+ Yếu tố kinh tế có tác động trực tiếp đối với việccủa các tổ chức kinh tế 1.2.2 Yếu tố chính trị, luật pháp -điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng cầm quyền, hệ thống pháp luật của Nhà nứơc – Tính chất, đặc trưng của hệ thống thiết chế chính trị, nền hành chính quốc gia. Tính chất của cơ chế chính trị có tác động đến đếnmột cách trực tiếp và gián tiếp. Yếu tố chính trị được thể hiện ra ởđiểm, đường lối,chiến lược phát triển xã hội của giai cấp cầm quyền. – Cơ chế điều chỉnh của các chủ thểcấp vĩ mô đối với các hoạt động của các chủ thể khác. *Nhận xét – Có sự tác động 2 chiều của các yếu tố chính trị – luật pháp tới- Yếu tố chính trị – luật pháp có tác động trực tiếp đối với hoạt độngchính trị 1.2.3. Yếu tố văn hoá -Trình độ dân trí -Chuẩn mực giá trị tronghệ ứng xử -Giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc -Văn hóa chính trị -Văn hóa* Nhận xét – Có sự tác động 2 chiều của các yếu tố văn hoá đến- Yếu tố văn hoá có tác động trực tiếp đối vớicác tổ chức Văn hoá – xã hội 9 CHƯƠNG 2VỚI TÍNH CÁCH LÀ MỘTHỌC. 2.1 Đối tượng nghiên cứu củaTrong thực tiễn, tồn tại đa dạng và sinh động của các loại hình hoạt động, ở các cấp độ và các lĩnh vực, các tổ chức khác nhau của con người. Tương ứng với tính đa dạng và sinh động của các lĩnh vực hay tổ chức đó sẽ có những loại hìnhtuơng ứng. Không cónằm ngoài các tổ chức, nằm ngoài những hoạt động tập thể ở tất cả các lĩnh vực kinh tế. chính trị, văn hoá, xã hội của đời sống con người. Như một quy luật khách quan, khi hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người ngày càng phát triển thì những tri thức của con ngườicác lĩnh vực hoạt động đó mà con người tham gia vừa với tư cách là chủ thể vừa là đối tượng nhận thức cũng ngày càng gia tăng và đi vào khám phá cái bản chất, cái quy luật của nó. Dần dần, cáccác lĩnh vực đó cũng xuất hiện. Nhưng bản chất nhận thức của con người là luôn có xu hướng phải tìm đến và khái quát cái chung, cái phổ biến giữa các sự vật hiện tượng chứ không chỉ dừng lại ở những mặt, những khía cạnh đơn lẻ của sự vật, hiện tượng. Với mong muốn như vậy, cùng với tư duy trừu tượng và sự phát triển của thực tiễn mà con người đã khái quát thành những quy luật cơ bản trong quá trình vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng và các quá trình khác nhau trong tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Là một hoạt động thực tiễn của con người, hoạt độngcũng là đối tượng của nhận thức. Ngay từ khi xuất hiện,đã được tìm hiểu, khám phá để chỉ ra những đặc trưng, những yếu tố của hoạt động này, từ đó giúp cho hoạt động của con người ngày càng hiệu quả hơn. Nhu cầu tìm hiểutrứơc hết xuất phát từ chính thực tiễnở các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Như một quy luật khách quan, các tri thứccũng đã hình thành và trở thành nhữnglĩnh vực đó. Có thể gọi đó là cácchuyên ngành. Không dừng lại ở những lĩnh vực riêng lẻ đó, con người còn đặt ra cho mình yêu cầu phải trả lời những câu hỏi như: có cái gì chung, phổ biến và lặp lại giữa các lĩnh vựckhác nhau đó hay không? Cái gì để phân biệt giữa hoạt độngvới những hoạt động tương tự nó? Bản chất củalà gì? Trong quá trình đó, cùng với sự phát triển của nhận thức và sự phong phú đa dạng của các loại hìnhxuất hiện trong thực tiễn, con người đã chỉ ra được những yếu tố chung nhất, phổ biến nhất, có ở tất cả các loại hìnhkhác nhau, đó là: Chủ thểlý; 10 […]… ra rằng ngườilý, người lãnh đạo không phải do bẩm sinh mà phải rèn luyện, đào tạo -xây dựng quy trìnhbắt buộc đối với tất cả các nhàlý, cấpvà các lĩnh vựcngày càng hoàn thiệncơ sở lí thuyết và kỹ thuật, công nghệ2.3.2 Ý nghĩa của- Với cácchuyên ngànhcung cấp… và khách thểlý, nhữnghệ và quy luậtở trong từng lĩnh vực cụ thể như: -kinh tế -văn hoá -nhà nước v.v.v Các môn khoa học quản chuyên ngành sẽ góp phần cung cấp những tri thức cơ bản cho môn khoa học quản đại cương Nhiệm vụ củalà phảihợp và khái quát những tri thức có đựơc từ nhữngchuyên ngành… tác nghiệp;thao tác;giá thành;kỉ luật;tốc độ;sửa chữa;chất lượng;) + Nguyênkiểm soát,mặt tổ chức * Đánh giá nhận xét: -thuyếttheođánh dấu bước ngoặt, một sự thay đổi, trong sự phát triểnNhiều người đánh giá F.W Taylor là cha đẻ của- Có hệ thống tri thứcnhằm thay… và làm cơ sởluận cho cácchuyên ngành – Với thực tiễn hoạt động quản Khoa học quản làm cơ sởluận cho hoạt động thực tiễn của các chủ thểvà khách thểNâng cao nhận thức của cả chủ thể và khách thểcác vấn đề cơ bản nhất trong hoạt động- Với cáckhác (khoatự nhiên,xã hội và nhân văn)cung cấp thêm… luật học, đạo đức học, hành chính học, chính trị học, tâmv.v.) 2.2.2 Phương pháp riêng -Phương pháp vận trù-Phương pháp toán…… 2.2.3 Phương pháp đặc thù -Phương pháp mô hình hóa -Phương pháp chuyên gia -2.3 Đặc điểm và ý nghĩa của2.3.1 Đặc điểm củalà mộtthuyết và hành vivừa là mộtmang… ích giữa chúng – Có 2 hình thứchệcơ bản: +hệđối lập +hệthống nhất Chính chủ thểvà khách thểtác động lẫn nhau tạo thành mốihệlý, thông qua mốihệtạo nên quy luậtvì: Xu hướng 1: Chủ thểchủhoá những tác độnglý: Dùng quyền lực để bắt buộc khách thểthực hiện theo ý chí của mình,…xã hội và nhân văn Bao gồm các ngànhnhư: Xã hội học, tâmhọc,pháp lý,tính toán.v.v Các mônnày nghiên cứu từng khía cạnh củalý, hay một phương diện nào đó củaTừ đó cung cấp những tri thức căn bảndưới góc nhìn củađó 2.5.4 Với cácchuyên ngành Tập trung nghiên cứu sự tác động của chủ thểvà… và quyết địnhmột cách hiệu lực và hiệu quả 2.1.5 Môi trường quản Khoa học quản nghiên cứu những nhân tố kinh tế – xã hội, truyền thống văn hoáv.v có ảnh hưởng và tác động đến hoạt động2.1.6hệ- Sự tác động của chủ thểtới khách thểtạo nênhệhệtồn tại ở những trạng thái khác nhau tùy thuộc vàohệ lợi ích…chuyên ngành để xây dựngluận chung nhất2.5.5 Vớilịch sử tư tưởng vàthuyết quản Khoa học về lịch sử tư tưởng vàthuyếtlànghiên cứu sự hình thành và phát triển của những tư tưởng và cácthuyếtĐó là một sựkết lịch sử trong những giai đoạn nhất định Những tri thức của nó sẽ đượcvận dụng để khái quát và chỉ…Khách thểlý; Công cụ, phương tiệnlý; Mục đích củaMôi trườnglý;hệVới tính cách là mộtchung nhấtlí,có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu là tìm ra quy luật vận động và phát triển củalý, từ đó xác định nguyên tắc, phương pháp, công cụ, nội dunglí, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả2.1.1 Chủ thể- Chủ . GIẢNG Tổng quan về khoa học quản lý 1 Phần 1 Tổng quan về khoa học quản lý CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ 1.1 Khái niệm quản lý 1.1.1 của khoa học quản lý – Khoa học quản lý là một khoa học lý thuyết và hành vi Khoa học quản lý vừa là một khoa học mang tính lý luận chung về hoạt động quản