“Tín hiệu” từ con tằm, sợi tơ

Trở lại “thủ phủ” tơ tằm Bảo Lộc lúc này, có lẽ mọi người sẽ cảm nhận nông dân vùng dâu vui hơn; công nhân trong những nhà máy ươm tơ, xe tơ và dệt lụa cũng rộn ràng hơn. Bởi trong vài năm trở lại đây, nghề tằm tang như đang hồi sinh trở lại. Cây dâu, con tằm và sợi tơ, tấm lụa đã “tìm” lại được  “chỗ đứng” cho mình.

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Xuân Tiến thăm và ngợi khen Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo. Ảnh: BT

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Xuân Tiến thăm và ngợi khen Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo. Ảnh: BT

Từ cây dâu, con tằm

Chúng tôi vừa có dịp trở lại xã Đam Bri, nơi được xem là vùng trọng điểm nghề trồng dâu, nuôi tằm ở “thủ phủ” tơ tằm Bảo Lộc. Khác với vài năm về trước, vùng đất Đam Bri lúc này trở nên xanh hơn, mượt mà hơn, bởi những cành lá nương dâu chen nhau đón nắng. Dừng chân tại một vườn dâu ở thôn 11, chúng tôi gặp ông Nguyễn Công Thủy (chủ nhân vườn dâu) để hỏi han, trò chuyện. Nhìn vườn dâu xanh mướt, cao vượt đầu người, lá nào lá nấy dày cộm và to hơn cả bàn tay xòe, chúng tôi chưa kịp hỏi, ông Thủy vui vẻ: “Bây giờ đã có giống dâu cao sản (S7 – CB và VA – 201), người dân trồng dâu thư thả lắm, chỉ hái một chốc là được vài chục ký lá. Không như ngày xưa, trồng dâu Bầu trắng, Bầu đen “vất” lắm, nếu hái được chừng ấy thì phải mất cả ngày công. Còn năng suất các giống dâu mới này thì khỏi phải bàn. Nếu đầu tư phân bón đúng mức và chủ động được nước tưới vào mùa khô, thì năng suất đạt tới 30 – 40 tấn lá/ha/năm, các anh ạ!”.

Theo lời ông Nguyễn Công Thủy kể, từ vùng Đạ Tẻh lên Đam Bri làm ăn từ năm 1993, nhưng chỉ mới 5 năm gần đây bắt tay vào trồng dâu, nuôi tằm mà kinh tế gia đình ông đã trở nên khá giả hơn. Nhờ trồng 1 ha dâu cao sản S7 – CB và nuôi (gối đầu) liên tục 3 – 4 hộp tằm/1 lứa, mức thu nhập mỗi năm của gia đình ông (sau khi trừ chi phí) được khoảng 250 triệu đồng. 

Ở xã Đam Bri, không chỉ có ông Nguyễn Công Thủy, mà rất nhiều gia đình, như ông Nguyễn Văn Chiến, Phạm Văn Luyện (thôn 13), bà Phạm Thị Mây (thôn 11)… cũng khá giả nhờ trồng dâu, nuôi tằm. Những gia đình này làm nghề trồng dâu, nuôi tằm từ những năm 1990 trở lại đây. Thế nhưng theo họ, nghề trồng dâu nuôi tằm trong giai đoạn này có nhiều thuận lợi hơn trước. Ngoài giống dâu, giống tằm năng suất cao và chất lượng tốt, người nông dân được cung cấp tằm con để nuôi đạt hiệu quả hơn nuôi từ trứng. Mặt khác, việc cải tiến nong, né… cộng với giá cả khá cao và ổn định, là điều kiện rất thuận lợi để giúp nông dân phục hồi lại nghề trồng dâu, nuôi tằm. 

Toàn tỉnh hiện có khoảng 25 cơ sở, nhà máy ươm tơ. Trong đó, phần lớn là ở thành phố Bảo Lộc và các huyện Lâm Hà, Đức Trọng, Di Linh… Còn các nhà máy xe tơ, dệt lụa thì tập trung chủ yếu trên địa bàn Bảo Lộc. Trong số những DN xe tơ, dệt lụa, thời gian gần đây, những DN sản xuất, kinh doanh có hiệu quả là 4 nhà máy của VISERI, Công ty Cổ phần Tơ lụa Đông Lâm, Công ty Cổ phần Tơ lụa Bảo Lộc, Công ty TNHH Dệt Tơ tằm VietSilk, Công ty Kimono Japan, Công ty Cổ phần Tơ tằm Á Châu, Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo… Một số DN đã liên kết với VISERI trong việc sản xuất tơ lụa. Ngoài nguyên liệu tơ sản xuất tại địa phương, hàng năm, VISERI đã làm “đầu mối” trong việc nhập ngoại gần 1.000 tấn tơ tằm nguyên liệu và bao tiêu, xuất khẩu khoảng 800 tấn lụa, tơ xe cho các DN tại Bảo Lộc. Mặt khác, VISERI còn hỗ trợ các DN tơ lụa của thành phố trong việc tẩy, chuội, nhuộm; kiểm nghiệm chất lượng tơ… Nhờ vậy, trung bình mỗi năm, thành phố Bảo Lộc có thể sản xuất khoảng 1.000 tấn tơ, 3 triệu mét lụa và trên 200.000 sản phẩm tơ lụa khác, chiếm đến 75% năng lực chế biến, sản xuất tơ lụa của cả nước. 

Hiện tại, phổ biến là bà con nuôi tằm từ tuổi 3 trở đi, nên mỗi lứa chỉ nuôi trong vòng 16 – 17 ngày là cho thu hoạch kén. Với năng suất bình quân mỗi hộp tằm cho 50 kg kén và giá bán mỗi kg kén từ 110 – 120 ngàn đồng, nông dân đã có lãi. Nhờ vậy, xã Đam Bri (nói riêng) và thành phố Bảo Lộc (nói chung) đang phục hồi trở lại nghề trồng dâu, nuôi tằm. Diện tích dâu của toàn thành phố hiện có gần 400 ha, chủ yếu là ở xã Đam Bri và một số ít ở các xã Đại Lào, Lộc Nga và phường Lộc Tiến… Ông Nguyễn Quốc Bắc, Chủ tịch UBND thành phố Bảo Lộc cho biết: “Thành phố hiện đang tập trung củng cố và phục hồi lại nghề trồng dâu, nuôi tằm và ươm tơ, dệt lụa. Riêng diện tích dâu, thành phố tiếp tục phát triển và dự kiến đến năm 2020, phấn đấu tăng lên khoảng 1.000 ha. 

Trong thời kỳ “hoàng kim”, tổng diện tích dâu toàn tỉnh đã có khoảng 10.000 ha. Trong đó, Lâm Hà là địa bàn trọng điểm, trồng nhiều dâu nhất, với 3.000 – 4.000 ha. Tuy nhiên, đến thời kỳ “khủng hoảng” của Tổng Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam (VISERI), khiến diện tích dâu bị suy giảm chưa từng có. Và, chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, diện tích cây dâu tằm dần dần được phục hồi và phát triển trở lại. Tuy nhiên, diện tích dâu cũng chỉ dừng lại ở mức còn rất khiêm tốn. Theo số liệu thống kê diện tích dâu tằm của các địa phương cho thấy, huyện Lâm Hà hiện có trên 2.000 ha, huyện Đức Trọng khoảng 1.000 ha, thành phố Bảo Lộc gần 400 ha, huyện Đạ Tẻh gần 500 ha, huyện Đạ Huoai 300 ha… 

Để củng cố, phát triển ngành dâu tằm, Tiến sĩ Nguyễn Mậu Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông lâm nghiệp Lâm Đồng cho biết: Từ năm 2011, Trung tâm đã triển khai các mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho nông dân các địa phương phát triển bền vững nghề trồng dâu, nuôi tằm. Sau khi chọn và tạo các giống dâu lai năng suất cao (S7 – CB và VA – 201, là những giống dâu “siêu cành”, “siêu lá”), Trung tâm đã chuyển giao cho nông dân để thay thế các giống dâu cũ như Bầu xanh, Bầu đen (giống địa phương) và Sa nhị luân, Quế ưu… (giống Trung Quốc). Năng suất trung bình các giống dâu S7 – CB và VA – 201 từ 20 – 40 tấn lá/ha. Nếu chăm sóc kỹ thì năng suất cá biệt đạt tới 50 – 60 tấn/ha.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông lâm nghiệp Lâm Đồng đã triển khai Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ để phát triển bền vững nghề trồng dâu, nuôi tằm” tại huyện Lâm Hà. Ở đây, Trung tâm đã chuyển giao kỹ thuật cho nông dân canh tác dâu giống mới; kỹ thuật nuôi tằm con tập trung; kỹ thuật nuôi tằm trên nền nhà; cho tằm nhả tơ trên né gỗ… Nhờ vậy, năng suất kén tăng từ 43 kg lên gần 50 kg/1 hộp; nuôi 1 hộp tằm, tiết kiệm được 30 – 50 kg lá dâu; chất lượng kén cũng đạt cao hơn và lợi nhuận tăng hơn 20%. Ngoài ra, huyện Lâm Hà đã phục hồi các làng nghề dâu tằm và hình thành nhiều tổ hợp sản suất để giúp nông dân củng cố và phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm. Theo Đề án phát triển ngành dâu tằm, đến năm 2020, huyện Lâm Hà sẽ phục hồi, tăng diện tích dâu lên 3.000 ha. 

Để phục hồi nghề dâu tằm, từ “Quỹ hỗ trợ nông dân” của Hội Nông dân các cấp, huyện Đạ Tẻh đã hỗ trợ 600 triệu đồng giúp nông dân ở Tổ hợp tác trồng dâu nuôi tằm thị trấn Đạ Tẻh cải tạo giống dâu, làm nhà nuôi tằm; hỗ trợ 300 triệu đồng giúp nông dân xã Hà Đông trồng dâu, nuôi tằm, làm nhà nuôi tằm và né gỗ để nâng cao chất lượng kén; hỗ trợ 100 triệu đồng giúp nông dân xã Mỹ Đức phát triển diện tích dâu lai giống mới. Từ các nguồn quỹ này đã góp phần thúc đẩy việc phục hồi nghề trồng dâu, nuôi tằm ở địa phương. Nhiều hộ vừa mới thoát nghèo và vươn lên khá cũng nhờ nghề này.

Ở huyện Đạ Huoai, hiện nay, diện tích dâu đã tăng trên 300 ha. Tại đây, nhiều nông dân trồng dâu, nuôi tằm đã thu được lợi nhuận 80 – 120 triệu đồng/năm/ha dâu. Ngành Nông nghiệp huyện đã tích cực hỗ trợ nông dân phát triển diện tích các giống dâu lai cao sản; giúp nông dân trong việc cung ứng “đầu vào”; tổ chức, hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và tiêu thụ sản phẩm kén và thành lập các tổ hợp tác dâu tằm. 

Huyện Di Linh cũng bắt đầu phục hồi lại nghề dâu tằm. Huyện đã thành lập Tổ hợp tác sản xuất dâu tằm tại xã Tân Nghĩa. Tổ hợp tác này được huyện và Trung tâm Khuyến nông tỉnh hỗ trợ nhiều mặt, như tập huấn kỹ thuật, cung cấp tằm con, hỗ trợ phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để giúp nông dân nuôi tằm hiệu quả…

Hiện nay, ngoài việc trồng giống dâu năng suất cao, thu hái nhanh, nông dân còn cải tiến phương pháp nuôi để tăng năng suất lao động, giảm chi phí và tăng lợi nhuận. Nông dân các địa phương đã phổ biến nuôi tằm từ tằm con và nuôi tằm trên nền nhà, trên khay trượt hoặc trên giá lót lưới nilon…; cho tằm nhả tơ trên né carton chuyên dùng hoặc né gỗ tự xoay và dùng bàn để gỡ kén. Nhờ vậy, nông dân nuôi tằm không còn cảnh “ăn cơm đứng” vất vả như trước nữa. Ngoài ra, theo Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm nông lâm nghiệp Lâm Đồng Tiến sĩ Nguyễn Mậu Tuấn: “Hiện nay, nông dân đã am hiểu, nắm chắc kỹ thuật khoảng 90% và có thể hoàn toàn tự tin phát triển nghề trồng dâu, nuôi tằm, vì không còn phụ thuộc bên ngoài nữa. Trung tâm đủ khả năng cung ứng giống và chịu trách nhiệm tập huấn kỹ thuật (việc nhân giống thì do địa phương và các ngành liên quan khác). Chất lượng tơ kén cũng được nâng lên, đảm bảo độ dài và những chỉ tiêu khác. Chỉ số tiêu hao (trong những nhà máy ươm tơ) không thua kém và xấp xỉ đạt một chín, một mười so với tơ kén Trung Quốc”.  

Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo vào ca sản xuất. Ảnh: BT

Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo vào ca sản xuất. Ảnh: BT

Ðến sợi tơ, tấm lụa 

Nói đến ngành Dâu tằm tơ Việt Nam thì không thể không nhắc đến Tổng Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam (VISERI) trước đây và nay là Công ty Cổ phần Tổng Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam (cũng gọi là VISERI). Bởi vì VISERI giữ vai trò chủ đạo, trung tâm trong phát triển ngành Dâu tằm tơ của cả nước. 

Trong quá trình cổ phần hóa và tái cơ cấu doanh nghiệp (DN), từ năm 2013, VISERI được sắp xếp, tổ chức lại sản xuất và chỉ còn 4 nhà máy: Nhà máy Xe tơ 1, Nhà máy Xe tơ 2, Nhà máy Xe tơ 5 và Nhà máy dệt lụa Kimono. Ngoài ra, VISERI còn liên doanh, liên kết với các nhà máy tại thành phố Bảo Lộc, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh và tiếp tục duy trì hợp tác với đối tác Nhật Bản là Công ty Matsumura. VISERI được Nhật Bản hỗ trợ máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại để thay thế dây chuyền công nghệ lạc hậu, nâng cao chất lượng sản phẩm tơ, lụa đạt tiêu chuẩn chất lượng theo yêu cầu của đối tác Nhật Bản và các khách hàng khác trên thị trường xuất khẩu. Sản phẩm của VISERI là tơ, lụa xuất khẩu mang thương hiệu Việt Nam, gồm tơ xe các loại, tơ sợi nhuộm, sợi polyester, vải kimono, vải caravat, vải chuội. Sản lượng và chất lượng sản phẩm hàng năm ngày càng tăng dần. 

Sau khi cổ phần, VISERI được Công ty Matsumura đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải hiện đại (với 300 m3/ngày đêm) tại Nhà máy xe tơ II để phục vụ cho công đoạn tẩy, chuội, nhuộm. Ngoài ra, Công ty Matsumura đã đầu tư cho VISERI xây dựng Phòng Kiểm nghiệm chất lượng tơ. “Nhờ có Phòng Kiểm nghiệm chất lượng tơ, VISERI mới kiểm nghiệm, đánh giá được chất lượng và phát hiện được những “khuyết tật” trong quá trình sản xuất của các nhà máy ươm tơ, nhằm nâng cao chất lượng sản xuất tơ” – ông Đặng Vĩnh Thọ, Phó Tổng Giám đốc VISERI cho chúng tôi biết. 

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Hoàng Phụng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Bảo Lộc ghi nhận: “Sau khi cổ phần hóa và tái cơ cấu DN, VISERI đã có tác động tích cực, góp phần thúc đẩy nhiều DN trong ngành Dâu tằm tơ trên địa bàn thành phố Bảo Lộc và các địa phương trong tỉnh hình thành, củng cố và phát triển; từ đó, cũng đã kéo theo nghề trồng dâu, nuôi tằm hồi sinh trở lại”. 

Năm 2012, sau khi thành lập, Công ty TNHH Dệt Tơ tằm Vietsilk khôi phục, thanh lý lại nhà xưởng và thiết bị của Công ty Liên doanh Dệt Tơ tằm Bảo Lộc Visintex (đã ngưng hoạt động) theo hướng chuyên sản xuất gấm bằng nguyên liệu tơ tằm. Đây là mặt hàng cao cấp, xuất khẩu sang các nước phát triển và cũng là mặt hàng chịu nhiều “áp lực” cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Do vậy, sau khi thanh lý dàn máy dệt cũ, năm 2013, Công ty lắp đặt 60 máy dệt Jacquard (công nghệ Nhật Bản) để dệt sản phẩm gấm (chuyên dùng sản xuất áo Kimono) và 20 máy Muri (dệt phẳng) để dệt lụa lót áo Kimono. Với dàn máy này, trung bình mỗi tháng, Công ty Vietsilk sản xuất 4 tấn gấm và lụa tơ tằm, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và thị trường Singapore, Pakistan. Theo Công ty TNHH Dệt Tơ tằm Vietsilk, ở Lâm Đồng có lợi thế về nguồn nguyên liệu tơ tằm và chất lượng không thua kém so với tơ Trung Quốc. Thay vì nhập khẩu nguồn tơ từ Trung Quốc hay Uzebekistan, Công ty Vietsilk liên kết với các cơ sở ươm tơ tại thành phố Bảo Lộc để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất tơ đạt chất lượng cao và thu mua tơ nguyên liệu với giá thu mua cao hơn giá trôi nổi trên thị trường.         

Tuy mới thành lập hoạt động cách đây vài năm tại Cụm Công nghiệp Lộc Phát, Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo cũng đã mạnh dạn đầu tư nhập công nghệ, thiết bị mới để sản xuất các mặt hàng vải tơ lụa bằng nguyên liệu tơ tằm sản xuất tại địa phương. “Trong những năm gần đây, sợi tơ tằm sản xuất tại Bảo Lộc nhiều; chất lượng cũng được nâng cao, nhờ nhập các thiết bị máy ươm tơ tự động. Các nhà máy dệt có thể dệt ra sản phẩm tơ lụa chất lượng cao. Tơ lụa xuất xứ Bảo Lộc có nguồn gốc là loại sợi tơ tự nhiên cao cấp, sản phẩm lụa mềm mại, đẹp và chất lượng, đủ sức cạnh tranh với tơ lụa của Trung Quốc. Đây là một tín hiệu rất đáng mừng và tôi mong muốn sớm xây dựng thương hiệu cho tơ lụa Bảo Lộc” – Giám đốc Công ty TNHH Xe tơ Dệt lụa Hà Bảo Hà Thị Hoa trao đổi và chia sẻ với chúng tôi…

Sau nhiều biến đổi thăng trầm, giờ đây, cây dâu, con tằm và sợi tơ, tấm lụa đã “tìm” lại được “chỗ đứng”. Đây là “tín hiệu” rất vui đến với những ai còn tâm huyết với nghề tằm tang. Và cũng đã đến lúc, tơ lụa Bảo Lộc cần đến cho mình một cái tên, một thương hiệu!

Bùi Trưởng (Nguồn: baolamdong.vn)