Tìm Nghĩa Khái Niệm Hiện Đại | Vuơng Trí Nhàn
Nhà văn tiền chiến và
quá trình hiện đại hoá
(NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2005)
Vương Trí Nhàn
Chương 1
TÌM NGHĨA
KHÁI NIỆM HIỆN ĐẠI
Vương
Trí Nhàn
Những cách
hiểu khác nhau trong những hoàn cảnh khác nhau
Hàng ngày chúng ta vẫn
thường nghe nói đến hai tiếng hiện đại. Trên báo chí thời sự,
trong các văn kiện chính trị cụm từ “quá trình công nghiệp hoá hiện
đại hoá” hoặc “sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá” thường được
nhắc lại với một nội dung xác định. Hiện đại ở đây được hiểu
là trình độ của những nước tiên tiến trên thế giới, và hiện đại hoá
là đưa sự phát triển của xã hội ta lên một bước làm cho chúng ta
không thua kém những nước đó.
Đây chính là nghĩa thông
thường nhất của hai chữ hiện đại.
Một nghĩa khác của từ là
nghĩa được dùng trong khoa sử học. Ở các trường cấp ba (nay
gọi là phổ thông trung học) học sinh được giảng như sau: Không kể
thời cổ đại thì từ Cách mạng tư sản Anh trở về trước là lịch sử
trung đại; từ Cách mạng Anh tới Công xã Paris (1871) là lịch sử cận
đại; sau Công xã Paris, lịch sử bước sang một trang mới là lịch sử
hiện đại. (Gần đây, nhiều sách giáo khoa có sự điều chỉnh, coi
lịch sử hiện đại bắt đầu từ sau Cách mạng tháng Mười Nga.) Đây là
phác đồ chung của lịch sử thế giới. Còn trong từng nước, lại
có sự xác định cụ thể. ở Trung Hoa lịch sử từ chiến tranh Nha
phiến 1840 đến 1919 – phong trào Ngũ Tứ là lịch sử cận đại; 1919 đến
1949 là hiện đại, sau 1949 là đương đại. Riêng ở Việt Nam,
lịch sử cận đại bắt đầu từ khi người Pháp đánh chiếm nước ta (1858)
cho tới 1930, năm thành lập Đảng Cộng sản Đông dương. Từ sau
1930 là lịch sử hiện đại.
Những cái mốc để phân
biệt lịch sử vừa nói cũng là mốc thường dùng để phân chia văn học,
và trong nhiều trường hợp trở thành quy phạm có tính chất Nhà nước.
Viện Văn học chia ra các Ban cổ-cận, Ban hiện đại theo tiêu chuẩn
này. Khi làm mục lục các bài viết in ra hàng năm trên Tạp chí
Văn học và Tổng mục lục 40 năm những người biên soạn
cũng theo tiêu chuẩn này để sắp xếp bài vở.
Thế nhưng cũng có những
cách hiểu khác, tồn tại từ rất sớm.
Khi Vũ Ngọc Phan viết
Nhà văn hiện đại (1941) ông kể gộp vào sách những nhà văn mà sự
nghiệp nổi lên từ đầu thế kỷ XX.1
Sau đó mấy năm, trong bài
viết nhan đề Sự tiến triển của văn học Việt Nam hiện đại2,
ông vẫn giữ nguyên cách hiểu như vậy.
Một tác giả khác, Đào Duy
Anh, trong Việt Nam văn hoá sử cương cũng coi văn học hiện
đại là phần văn học dùng chữ quốc ngữ mà đến thế kỷ XX mới trở nên
phổ biến và phát triển mạnh. Hoặc khi làm Biểu liệt kê tác
giả tác phẩm cho cuốn Việt Nam văn học sử yếu,
Dương Quảng Hàm đã chia văn học Việt Nam theo các thế kỷ và kết thúc
bằng mục Hiện đại (Thế kỷ XX).3
Ở đây, cũng nên lưu ý có
những người không dùng tới mấy khái niệm như hiện đại, thế
kỷ XX, song trong các bài viết của mình, vẫn làm toát ra một
quan niệm như vậy. Đó là trường hợp của Lê Thanh hoặc Mộc
Khuê, trong các tác phẩm đã in hoặc các bài đăng báo.
Một thời gian dài, ở ta
quan niệm “văn học hiện đại, tức là văn học thế kỷ XX” này bị coi là
sơ lược, không có triển vọng. Mãi tới gần đây, nhiều người mới
quay lại với cách phân chia ấy chẳng hạn đó là trường hợp bộ Văn
học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930 của Trần Đình Hượu và
Lê Chí Dũng (bản in lần đầu 1988), hoặc công trình nghiên cứu Quá
trình hiện đại hoá văn học Việt Nam 1900-1945 của nhóm Mã Giang
Lân (in ra năm 2000). Cách phân chia này, cũng đã được áp dụng
với bộ sách giáo khoa văn học dùng cho các trường Phổ thông trung
học in ra năm 2000 (mới được chỉnh lý).
Theo ý chúng tôi trong
nghiên cứu văn học đây là cách hiểu nên được thống nhất sử dụng.
Nó hợp lý bởi lẽ nó không đặt văn học trong sự phụ thuộc một cách
máy móc vào các sự kiện lịch sử mà có chú ý tới tính độc lập tương
đối của văn học. Nói cách khác nó xem xét văn học dưới góc độ
văn hoá, tức là những yếu tố có tính chất lặp đi lặp lại trong sáng
tác và phổ biến bao gồm môi trường hoạt động, chủ thể, nguyên tắc
chỉ đạo sáng tác (thi pháp), thể loại… – đây là những đặc
điểm chúng tôi sẽ trở lại ở đoạn dưới. Và bởi lẽ, những đặc
điểm của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đã tồn tại liên tục, nên
hai chữ hiện đại với nội dung xác định của nó đến nay vẫn dùng được.
Đặt bên cạnh hàng chục thế kỷ của văn học trung đại, thì thời gian
của văn học hiện đại chưa phải là dài, những quy luật chủ yếu của nó
đang phát huy tác dụng.
Nhân đây xin giới thiệu
một cách giải quyết tương tự. Trên tạp chí Thế giới mới
số ra 8-3-1999 có đăng bài Vài thông tin mới về Hán tự và văn hoá
Trung quốc. Bài báo cho biết trong nghiên cứu và giảng dạy
văn học hiện đại Trung Quốc đang thấy có sự điều chỉnh. Về
thời gian, trước đây lấy mấy cái mốc 1840-1919-1949, nay các
công trình nghiên cứu thường nhìn chung cả văn học thế kỷ XX.
Về không gian, trước chỉ khoanh tròn trong văn học đại lục,
nay đưa vào cả văn học Hồng Công, văn học Đài Loan. Về quan
niệm, coi văn học là một thành tố của văn hoá, muốn hiểu văn
học, phải hiểu cả lịch sử phong tục, tôn giáo… Quả thật là
những bước đột phá mà chúng ta nên tham khảo.
Nội
dung của hiện đại hoá
Sau khi qui định thời
gian tồn tại của văn học hiện đại như trên, điều quan trọng là cùng
nhau xác định nội dung khái niệm hiện đại, và đi liền với nó là quá
trình hiện đại hoá.
Thoạt nghe, ai cũng hiểu
ngay rằng hiện đại là lối làm nghệ thuật một cách mới mẻ, khác hẳn
so với lối cũ của ngày hôm qua. Nhưng trong thực tế nghiên
cứu, từ này không có nghĩa chung chung như thế mà có nội dung cụ thể
của nó. Chúng tôi không đủ trình độ để tìm hiểu hai chữ hiện
đại dưới góc độ từ nguyên học, nhất là xác định được khởi điểm mà từ
này lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, trước khi truyền sang Việt Nam,
song có thể mạnh bạo dự đoán: Hiện đại chỉ được dùng nhiều từ
cuối thế kỷ XIX, nó gắn liền với một giai đoạn bột phát của sự tiếp
xúc Đông Tây, khi mà người châu á (mà gần với ta nhất là Trung Hoa)
bắt đầu có ý thức được rằng dù bản thân từng có truyền thống văn hoá
lâu đời, song hiện đang ở giai đoạn trì trệ, bế tắc, có nhiều phương
diện có thể gọi là cổ hủ lạc hậu. Vậy cái lối làm kinh tế cũng
như văn chương nghệ thuật mới mẻ, đáng gọi là xứng với thời buổi
ngày nay (hiện đại) phải là gắn liền với phương Tây, và trở nên hiện
đại (hiện đại hoá) là làm theo mẫu hình phương Tây. Từ đầu thế
kỷ khi đề ra yêu cầu xây dựng nền văn hoá mới, các tác giả Văn
minh tân học sách đã nghĩ như vậy. Mà khi làm công việc
ghi nhận thành tựu những năm từ đầu thế kỷ XX trở đi, các tác giả Vũ
Ngọc Phan, Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm… cũng nghĩ như vậy.
Nếu xưa kia, cái để ông cha ta đối chiếu là văn học Trung Hoa, thì
ngày nay, cái để con người đầu thế kỷ trông vào học tập là cách làm
văn hoá, cách nghĩ của người phương Tây. Đây đó hai chữ Âu hoá
có bị hiểu sai và việc này đã có người mang ra chế giễu, song nhìn
chung nó được dùng rất nghiêm chỉnh, và giả định một sự học hỏi tích
cực với tất cả bản lĩnh dân tộc vững chãi, chứ không phải là học đòi
theo lối nô lệ.
Sau đây là cách hiểu hai
chữ hiện đại ở một số nước gần gũi và có hoàn cảnh tương tự với Việt
Nam.
Khi khái quát về tình
hình văn học ở Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonêxia, v.v… các
tác giả cuốn Văn học Đông Nam Á nhất trí rằng: Nếu cuộc tiếp
nhận văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ là cuộc hội nhập văn hoá lần thứ
nhất, xảy ra trong khu vực, thì cuộc tiếp xúc với văn hoá phương
Tây là cuộc hội nhập văn hoá lần thứ hai, nó khiến cho văn
học hiện đại ở các nước Đông Nam Á mang một màu sắc mới5.
Riêng với Trung Hoa, vì
đó là một nền văn học luôn luôn có ảnh hưởng lớn đến văn học Việt
Nam nên chúng tôi muốn dừng lại kỹ hơn một chút.
Ngay từ 1945, trong một
bài viết mang tên Trên đường kiến thiết văn hoá mới ở Trung Quốc
– vấn đề dân tộc hoá, nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai đã khái quát
“Vấn đề văn hoá ở Trung quốc khoảng 100 năm nay cũng là một vấn đề
nhập cảng: thâu thái những kiến thức về kỹ nghệ, về khoa học để cải
tạo nền văn hoá “ngàn xưa’ của nước Tàu”. ở một chỗ khác (cũng
bài báo trên), ông viết “vấn đề Âu hoá, hiện đại hoá (modernisation)
cũng là một vấn đề lựa chọn. Bất kỳ khoa học xã hội hay khoa
học tự nhiên, bất kỳ về phương diện tri thức hay phương diện kỹ
nghệ, văn hoá mới Trung Quốc sẽ phải góp nhặt trong văn hoá Âu Tây
những thành phần tiến bộ cái tinh hoa có thể áp dụng vào trong tình
thế Trung Quốc ngày nay”.6
Trong cách hiểu của tác giả, hai quá trình Âu hoá và hiện đại hoá
gần như đã được đồng nhất.
Thế còn cách hiểu về hiện
đại hoá ở Trung Quốc hôm nay thì sao? May mắn là trong tay chúng tôi
có cuốn Sử học Trung Quốc trước gạch nối của hai thế kỷ (mới
in ra quý III-2000) trong đó có bài Sự hưng khởi và phát triển
của hiện đại hoá ở Trung Quốc.7
Dưới đây là một số đoạn trích từ bài viết kèm theo số trang ở cuối
sách trên.
– Những biến cách trong
sự phát triển của Trung Quốc cũng như của thế giới, sự chuyển biến
của xã hội từ chỗ lấy nông nghiệp truyền thống là chủ đạo, chuyển
hướng tới một xã hội có nền công nghiệp hiện đại (…) xu thế lịch
sử và tiến trình lịch sử này được gọi với một cái tên thông thường,
đó là hiện đại hoá (tr.321)
– Khái niệm “hiện đại
hoá” và “phương Tây hoá” được coi ngang nhau và điều này đã phản ánh
trình độ nhận thức chung của trí thức Trung Quốc… (tr.325).
– Tuy việc hiện đại hoá
của Trung Quốc lúc đầu là học tập phương Tây, song thực tế lại là
giới thiệu và học tập Nhật Bản (tr.327).
– Từ sau chiến tranh Nha
phiến 1840, người Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện
hiện đại hoá… (tr.347)
Với các học giả Trung
Quốc vậy là hiện đại hoá bắt đầu ngay từ thời kỳ mà lâu nay, theo sự
quy định của môn lịch sử, vẫn gọi là thời cận đại.
Bây giờ, chúng ta hãy
cùng trở lại với một số định nghĩa trong các từ điển. Như trên
đã lưu ý, cách phân chia ở đây là dựa nhiều vào các yếu tố văn hoá,
nên nguồn sách vở mà chúng tôi hướng tới cũng là các từ điển văn hoá
học. Một cuốn từ điển loại ấy, bản tiếng Nga có viết như sau:
– Hiện đại hoá (tiếng
Pháp moderniser). Thuật ngữ văn hoá học dùng để xác
định quá trình vận động từ xã hội tiền công nghiệp dựa trên truyền
thống tới một hệ thống kinh tế và chính trị, cũng như văn hoá tiêu
biểu cho sự phát triển của các nước tư bản (…) Những yếu tố cơ bản
của quá trình này là: khả năng sử dụng những kỹ thuật hiện đại trong
những ngành then chốt của sản xuất được đẩy mạnh; hình thức tiêu thụ
được mở rộng, những điều kiện mới (về xã hội, chính trị, văn hoá)
được phát triển; nền sản xuất mới được hình thành. Quá trình
hiện đại hoá bao gồm cả việc nắm vững những kiểu dạng mới của sinh
hoạt tinh thần (kiểu tư duy mới)…
– Hiện đại hoá trong lĩnh
vực đời sống văn hoá: Quá trình vận động phát triển, từ nền văn hoá
tiền công nghiệp tới nền văn hoá đặc trưng cho các nước tư bản phát
triển. Những nhân tố cơ bản của hiện đại hoá bao gồm: đa dạng
hoá các hệ thống tinh thần và sự định hướng giá trị; thế tục hoá và
đa cực hoá các ý thức xã hội và giáo dục; làm cho ngày càng có nhiều
người biết chữ; hình thành văn hoá và ngôn ngữ dân tộc, đa dạng hoá
các trào lưu tư tưởng; phát triển phương tiện thông tin đại chúng”.8
Đây cũng là quan niệm
thấy trình bày trong một số tài liệu tiếng Nga khác mà chúng tôi có
điều kiện đọc, chẳng hạn cuốn Văn hoá học xã hội của B.S.
Erasov (1996) hoặc Đại từ điển Collins về xã hội học (1999).
Bản Collins nhấn mạnh “có một sự đối lập rõ rệt giữa xã hội trước và
sau hiện đại hoá” “nhân tố quyết định của hiện đại hoá là vượt qua,
thay thế những giá trị truyền thống vốn thù địch với mọi biến động”.
Hiện đại hoá như vậy là “bao trùm lên cả công nghiệp hoá”.
Phân
biệt với chủ nghĩa hiện đại
Ngoài mấy từ hiện đại,
hiện đại hoá trên sách vở báo chí còn thấy có thuật ngữ chủ
nghĩa hiện đại. Có lẽ cũng nên nói qua về khái niệm này,
để tránh hiểu lầm, và lẫn lộn khi sử dụng.
Đặt trong lịch trình tiến
hoá chung của lịch sử châu Âu thì thế kỷ XX là cả một giai đoạn đa
đoan phức tạp chưa từng có. Trước tiên là những phát minh khoa
học (như sinh học phân tử, thuyết di truyền, vật lý lượng tử và
thuyết tương đối của Einstein; phân tâm học của Freud…) làm
đảo lộn nhiều quan niệm cũ. Rồi đến những thay đổi xảy ra trên
phạm vi rộng lớn, như cuộc đại chiến thế giới thứ nhất, khiến cho
tâm lý nhiều người như bị chấn động. Ngày hôm qua thanh bình
yên ả giống như một giấc mơ đã không còn nữa, thay vào đấy là thời
của mù mờ và hỗn độn. Những điều tưởng không bao giờ có thể
xảy ra, nay hiển hiện trước mặt. Những gì mà thế giới cổ điển
coi là kỳ dị thì nay là chuyện thông thường hàng ngày. Sự hiểu
biết của con người với thế giới không phải bao giờ cũng chắc chắn và
đáng tin cậy, như bấy lâu người ta vẫn tưởng. Con người không
làm chủ nổi mình, còn nói chi làm chủ hoàn cảnh! Từ ngạc nhiên đến
hốt hoảng, từ náo nức say sưa đến bi quan tuyệt vọng, từ tự hào kiêu
hãnh đến cay đắng bồn chồn – bảng màu tình cảm của con người nay
thật đủ sắc thái, và mỗi loại tâm trạng này, khi được đẩy lên, tuyệt
đối hoá, biến thành một định hướng trong nghệ thuật. Chủ
nghĩa ấn tượng, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa
trừu tượng v.v… một thời gian dài ở Liên Xô và các nước
xã hội chủ nghĩa trước đây, các loại chủ nghĩa này được một số người
gộp chung lại là chủ nghĩa hiện đại với hàm ý suy đồi, tiêu
cực, phản hiện thực và phản nhân đạo, gắn liền với giai đoạn đi
xuống của chủ nghĩa tư bản. Nhưng ngay từ khi Liên Xô còn tồn
tại, đã có một xu thế khác nảy sinh và ngày càng được đồng tình, ấy
là xem nghệ thuật hiện đại là một hướng phát triển hợp lý của nghệ
thuật ở các nước tư bản: từng “izm” kia có thể là thiên lệch, quá
đáng, song nhìn một cách tổng hợp, lại có thể công nhận đấy là một
bước tiến trong việc nhận thức đời sống.
Không phải là những biến
dạng của chủ nghĩa hiện đại này hoàn toàn xa lạ với các nước phương
Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Sự thực là trong quá
trình vận động của mình, văn học Việt Nam vừa diễn lại nhiều bước đi
của các thế kỷ trước, vừa đồng thời kín đáo tiếp nhận những vang
vọng của châu Âu thế kỷ XX. Rất tự nhiên là ngay từ cuối những
năm ba mươi ở nhiều người viết văn Việt Nam đã ngấm ngầm hình thành
một khao khát chân chính: phải thay cách viết cho hợp với không khí
thời đại. Theo họ, cách viết cũ (mặc dù là Âu hoá, nhưng lúc
này đã cũ) dừng lại ở sự nghiêm túc, sự rõ ràng, cũng như sự hài hoà
mạch lạc, trong khi đó thời đại mới yêu cầu sự trực tiếp của cảm
hứng, sự bột phát của tư tưởng, và đôi khi vì thế mà có dẫn tới một
thoáng phi lý thì cũng không có gì quản ngại.9
Nhưng theo chúng tôi tất cả những tìm tòi trên đây của các nhà văn
nhà thơ Việt Nam chỉ dừng lại ở mức những yếu tố làm đậm đà thêm các
sáng tác, mà không được đẩy lên thành các chủ nghĩa. Sự phân
cách của văn học ta với văn học thế giới (trước tiên là phương Tây)
thế kỷ XX vẫn còn nguyên vẹn, và khái niệm hiện đại sử dụng hôm nay
ở Việt Nam trên đại thể chưa có dây dưa gì nhiều với những tìm tòi
cực đoan thường thấy trong chủ nghĩa hiện đại.
Sự liên
tục của thế kỷ
Cách mạng tháng Tám mang
lại cho lịch sử Việt Nam một bước ngoặt rõ rệt. Sau gần nửa
thế kỷ xây dựng, nền văn học Việt Nam lúc này đã cứng cáp trưởng
thành. Giờ đây, nền văn học ấy tự đặt cho mình một mục đích
khác trước, cách tác động tới xã hội khác trước. Riêng với
những người cầm bút, thì từ chỗ là những người lao động tự do, nay
các nhà văn đã trở thành “những chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ”, và
hoạt động theo một định hướng tư tưởng thống nhất do Đảng Cộng sản
lãnh đạo.
Đó là một đặc điểm cơ bản
mà khi nghiên cứu văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX không thể bỏ
qua.
Tuy nhiên, xét trên nhiều
mặt, giữa văn học Việt Nam trước và sau 1945 vẫn có một sự liên tục,
đến mức hoàn toàn có lý do chính đáng để xếp cả hai nằm trong một
phạm trù chung là văn học hiện đại. Trong ngôn ngữ học, hai
chữ đối lập được dùng với nghĩa thuần tuý hình thức, tức là lấy cái
này đặt bên cái kia để làm nổi bật sự khác nhau. Mượn thuật
ngữ đó của ngôn ngữ học, ở đây chúng tôi muốn nói chúng tôi không
đối lập văn học Việt Nam trước và sau 1945 (đó là một việc khác
ai đó sẽ làm trong một dịp khác), mà tìm cách đối lập toàn bộ văn
học Việt Nam thế kỷ XX với nền văn học từ thế kỷ XIX trở về trước,
đối lập văn học hiện đại với văn học trung đại. Đây cũng
là một hướng nghiên cứu cần thiết và có thể nói là có hứa hẹn.
Thử áp dụng cái nhìn văn
hoá học vào nghiên cứu văn học, sơ bộ có thể nhận ra những đặc trưng
nhất quán sau đây của văn học Việt Nam hiện đại, chính nó cũng là
những nhân tố tạo nên sự liên tục của thế kỷ.
1. Sự hình thành
một môi trường văn học thống nhất trong cả nước. Sự sáng
tác ở nước Việt Nam qua các triều đại phong kiến có trồi sụt khác
nhau, nhưng nói chung có tính chất tự cấp tự túc, tác phẩm viết ra
không trở thành một sản phẩm được lưu thông trong xã hội. Xuất
bản lúc ấy mang tính cách một thứ hoạt động tiểu thủ công, manh mún,
lặt vặt. Báo chí lại hoàn toàn không có. Tác phẩm sau
khi viết ra sống âm thầm như trong bóng tối, may thì gặp người tri
kỷ, không may thì xếp xó một chỗ. Bước sang thế kỷ XX, cả xã
hội là một mặt bằng liền lặn, sự sáng tạo được đặt trong mặt bằng đó
để luôn luôn lưu thông vận chuyển, từ người viết tới người đọc.
Nhờ có máy in, sách được in ra rồi nhờ có hệ thống phát hành, sách
được mang bán, nơi nào có nhu cầu là sách đi tới. Bước đầu có
thể nói tới một lớp công chúng làm nên một luồng dư luận đa dạng tác
động lại sự sangs tạo. Không phải chỉ trong điều kiện bình
thường trước 1945, mà ngay trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và
chống Mỹ, một môi trường văn chương thống nhất vẫn được duy trì và
chính nó quyết định nhiều đến nội dung của các sáng tác.
2. Sự hình thành
một lớp người làm nghề. Lắng nghe trong văn học đầu thế kỷ
người ta bắt đầu nhận ra một tiếng kêu than hơi lạ: tiếng kêu của
những người sống bằng nghề cầm bút, như Tản Đà, hoặc lớp sau, như
Xuân Diệu, Vũ Trọng Phụng… Một thứ tiếng kêu như thế chưa hề
thấy trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước, đơn giản là
vì hồi ấy, những người viết văn làm thơ chẳng qua rỗi rãi nên thử
viết để trình bày vài điều tâm huyết hoặc một ít xúc động, chứ không
ai sống bằng nghề bao giờ. Có người e sợ việc hình thành lớp
người có nghề khiến cho sự sáng tạo của họ trở nên nhàm chán rồi bị
thui chột, song thực ra thì ngợc lại, do sự thúc bách của công việc
mưu sinh sức sáng tạo của nhiều cây bút lại được giải phóng.
Từ sau 1945, nghề cầm bút được quan niệm khác đi, song bộ phận chủ
yếu của giới sáng tác thực tế vẫn là làm việc trong một guồng máy
riêng do Nhà nước tổ chức, và bởi họ chỉ làm những việc có liên quan
đến sáng tác nên vẫn có thể nói họ thuộc loại người viết chuyên
nghiệp mà các thế kỷ trước không có.
3. Vai trò chỉ
đạo của một nguyên tắc thi pháp khác trước. Bút pháp của
văn học cổ điển về căn bản là sùng cổ và ước lệ, tức xa lạ với tinh
thần thiết thực và chỉ có quan hệ xa xôi với thực tại đời sống đương
thời. Cố nhiên, để văn chương cử tử sang một bên, cũng còn
những áng văn chương cổ ở đó phập phồng những vui buồn đau khổ của
con người. Nhưng nếu muốn tìm những tình cảnh con người được
phác hoạ, những phong cảnh được miêu tả, những phong tục được khảo
sát v.v… chỗ nào rõ chất Việt Nam thì ngay cả ở Truyện
Kiều, hoặc Chinh phụ ngâm cũng không tìm thấy. Có
điều đó không phải là lỗi của người viết, mà là do quy phạm của thời
đại quy định. Về phần nhà văn thế kỷ XX, việc hướng về đời
thực, dùng những phương cách biểu hiện vay mượn từ đời thực lại là
những lề luật bắt buộc, và chính điều này mở ra cho ngòi bút của họ
một trường hoạt động rộng rãi. Một khi các ngành nghệ thuật
nghe nhìn dựa trên kỹ thuật hiện đại như điện ảnh truyền hình phát
triển, việc ghi chép đời sống lại do chính văn chương đảm nhiệm.
4. Hệ thống thể
loại gần với châu Âu. Văn, thơ phú lục là những thể chính
trong sáng tác thời xưa. Chúng có một mục đích chung là cốt để
giúp tác giả nói chí mình (ngôn chí) nói tình cảm mình
(mạn hứng), chuyên chở tư tưởng (tải đạo). Điều đó phù
hợp với thi pháp sùng cổ ước lệ như trên vừa nói. Còn trong
văn chương thời nay, người ta thấy nổi lên những thể tài mới.
Kịch nói là thể hoàn toàn ngoại nhập. Tiểu thuyết thì ngày xưa
thấp thoáng cũng có, nhưng theo một quy phạm riêng và ngày nay ngả
hẳn sang quy phạm của tiểu thuyết phương Tây. Nói chung, trong
hệ thống thể loại mới, văn xuôi đóng vai trò chủ đạo, chính nó, với
khả năng phong phú vốn có, sẽ diễn tả đầy đủ các sắc thái đa dạng
của thực tại, kể cả cái “chất văn xuôi” tức là cái chất phàm tục của
đời sống đương thời. Đây chính là một đặc điểm quán xuyến
trong toàn bộ đời sống văn học thế kỷ XX, nó làm cho hệ thống thể
loại có một trọng tâm khác hẳn trước.10
5. Ngôn ngữ văn
học. Một bộ phận lớn của văn học từ thế kỷ XIX trở về
trước được viết bằng chữ Hán. Việc sử dụng một thứ văn tự xa
lạ với tiếng nói thông thường khiến cho các sáng tác lúc ấy chưa
đóng góp được nhiều cho sự phát triển ngôn ngữ dân tộc như lễ ra có
thể có. Đến các tác phẩm viết bằng chữ nôm cũng bị hạn chế,
ngày nay đọc lại các tuyện nôm, chúng ta thấy ngoại trừ những kiệt
tác như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm v.v… thì ở phần
lớn trường hợp còn lại, ngôn ngữ văn học thường có phần thô thiển,
khi nôm na, dông dài, khi lúng túng học đòi và không tiêu hoá tốt
những ảnh hưởng của tiếng Hán. Bước sang thế kỷ XX, ngôn ngữ
văn học nhờ tiếp thu được sự trong sáng và khúc chiết của tiếng
Pháp, nên trở thành thanh thoát và linh hoạt hơn hẳn. Điều
quan trọng nhất là từ đây, nó hướng về đời thực, muốn có được cái vẻ
tự nhiên và đa dạng của ngôn ngữ hàng ngày. Xu hướng này của
sự tìm tòi vốn đã có từ nửa đầu thế kỷ XX, đến thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, càng được thúc đẩy mạnh mẽ, nó làm cho tiếng Việt trở
nên chắc khoẻ, mà cũng linh hoạt hơn bao giờ hết và đây chính là
đóng góp của ngôn ngữ văn học đối với ngôn ngữ dân tộc nói chung.
Đến đây, có thể tóm tắt:
a) Khái niệm văn học
hiện đại trong nghiên cứu văn học, theo chúng tôi nên dành để
chỉ văn học Việt Nam thế kỷ XX.
b) Ở đâu kia, ở thời điểm
nào kia, hiện đại có thể có nghĩa khác, nhưng xét chung trong vòng
hơn một thế kỷ nay, một nền văn học hiện đại là một nền văn học xây
dựng theo mẫu hình phương Tây. Cố nhiên ở mỗi dân tộc, việc
này được làm theo một cách riêng, với sự sáng tạo riêng.
Nói như Naguib Mahfouz, nhà văn Ai Cập được giải Nobel văn chương
1988: “Những trào lưu văn hoá phương Tây đã được chúng tôi tích nhập
vào đất đai phong thổ của chúng tôi vào nền văn hoá của chúng tôi
nhuần nhuyễn đến nỗi không phân biệt được nữa. Sự đồng hoá đạt
đến nỗi tưởng như những trào lưu ấy vẫn có ở nước chúng tôi vậy”.”11
c) Để chuyển dịch cả một
nền văn học (và rộng hơn cả nền văn hoá) từ mô hình trung đại sang
mô hình hiện đại, cần có cả một quá trình. Đó là quá trình
hiện đại hoá văn học khởi động từ đầu thế kỷ, và đến 1945, coi như
đã hoàn thành một chặng cơ bản (Còn như tới những năm tám mươi, chín
mươi, một quá trình hiện đại hoá lại đang xảy ra, thì đó là một việc
khác, có sắc thái khác).
d) Quá trình hiện đại hoá
đồng thời cũng là quá trình trong đó các xu thế dân tộc hoá, và dân
chủ hoá đóng vai trò những định hướng liên tục và ổn định. So
với văn học trung đại, nền văn học Việt Nam hiện đại thực sự trở
thành một nền văn học dân tộc, với nghĩa đầy đủ của từ này.
Mặt khác cũng chỉ đến giai đoạn hiện đại, tinh thần dân chủ vốn sẵn
có trong văn chương các thế kỷ trước, mới được hoàn thiện. Bề
nào mà xét thì văn học hiện đại cũng là cả một bước tiến lớn lao và
chúng ta chỉ hình dung ra một cách đầy đủ trong sự so sánh với quá
khứ.
2001
Đã in Tạp chí Văn học
2002 , số 1
1
“Các nhà văn hiện đại mà tôi sẽ nói đến sau này là những nhà
văn có những tác phẩm xuất bản trong khoảng ba mươi năm gần
đây”. Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại, Nxb Khoa
học xã hội, H.1989, tr.11
2
Tạp chí Tiên phong số 3, 16-12-1945, tr. 25-27,
in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên phong, Nxb Hội Nhà
văn, 1996, tr.127
3
Bản của Nxb Bốn phương, S.1951, tr.275-278
5
Lưu Đức Trung chủ biên, Văn học Đông Nam Á Nxb
Giáo dục, 1998, các trang 15-16.
6
Tạp chí Tiên phong, số 4-5 (Nguồn sống mới)
tr.76-80, in lại trong Sưu tập trọn bộ Tiên phong
tlđd, tr.225-227
7
Sách do Viện Thông tin khoa học xã hội, Trung tâm khoa học
xã hội nhân văn quốc gia Việt Nam biên soạn và xuất bản.
Bài Sự hưng khởi… lấy ở tạp chí Lịch sử nghiên cứu
viết bằng chữ Hán, số 5, 1998, tr.150-171. Tác giả bài
viết là một giáo sư và một phó giáo sư khoa Sử, Đại học Bắc
Kinh
8
Khoruzhenko K.M. Văn hoá học Từ điển Bách khoa.
( tiếng Nga ) ,RostovnaDon, Feniks, 1997, tr.313.
9
Tham khảo thêm
Trần Thị Mai Nhi Văn học hiện đại Văn học Việt Nam – giao
lưu gặp gỡ, Nxb Văn học, 1994.
10
Xem thêm Trần Đình Hượu: Thực tại cái thực và vấn đề chủ
nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam trung cận đại, in
trong Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb
Văn hoá thông tin, 1995.


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


