Tiểu luận: Biện pháp “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” – 123Luat
TÊN ĐỀ TÀI: “Áp dụng biện pháp xử lý hành chính ‘Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc’ tại Toà án từ thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai“
Độ dài: 35 trang A4. Tài liệu chỉ phục vụ tham khảo trực tuyến.
Xem thêm tài liệu khác:
Ảnh minh họa – 123luat.com
Mục Lục
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là một trong bốn biện pháp xử lý hành chính được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20-6-2012 của Quốc Hội. Theo Điều 102 Hiến pháp 2013 thì “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…”. Theo quy định khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Việc chuyển giao thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính từ Ủy ban nhân dân sang cho Tòa án nhân dân là một bước chuyển đổi về chất. Mục đích của việc chuyển đổi này là hướng tới việc bảo đảm tính công khai, minh bạch, bình đẳng trong quá trình xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, tạo cho các đương sự có nhiều cơ hội để vệ quyền lợi của mình; phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân.
Hiện nay tình hình vi phạm pháp luật hành chính ở nước ta diễn ra ngày càng nhiều, diễn biến khá phức tạp và tinh vi, vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tỉnh Gia Lai cũng như cả nước nói chung còn gặp nhiều khó khăn, các cơ quan khi áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thường kéo dài, tốn kém cả thời gian và công sức nhưng hiệu quả không cao nên cần có những giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm, nâng cao chất lượng hiệu quả của Tòa án khi xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính. Mục đích của việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính không chỉ ngăn ngừa các đối tượng để họ không có điều kiện tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà còn ý nghĩa quan trọng hơn đó là nhằm quản lý, giáo dục để hướng họ đến đời sống lượng thiện, thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Vì vậy, học viên chọn đề tài: Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” tại Toà án từ thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các công trình nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính nói chung các Tác giả như:
Tác giả Vũ Thư với luận án phó tiến sĩ luật học về “Chế tài hành chính – Lí luận và thực tiễn”, bảo vệ thành công tại Viện Nhà nước và pháp luật, 1996;
Tác giả Nguyễn Trọng Bình với luận văn thạc sĩ luật học về “Hoàn thiện các quy định pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính”, bảo vệ thành công tại Trường Đại học Luật Hà Nội, 2002;
Tác giả Nguyễn Ngọc Bích với luận văn thạc sĩ luật học về “Hoàn thiện pháp luật về XLHC với người chưa thành niên”, bảo vệ thành công tại Trường Đại học Luật Hà Nội, 2003;
Tác giả Cao Vũ Minh với luận văn “Vai trò của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc”…
Các công trình khoa học đã được công bố tuy còn hạn chế nhưng ở mức độ khác nhau đã đề cập đến một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tương đối toàn diện về lý luận và thực tiễn về áp dụng pháp các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Mặc dù vậy, các công trình nêu trên là những tài liệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu, làm tiểu luận và góp phần nâng cao trình độ nghiên cứu khoa học, kiến thức chuyên môn của học viên.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
– Về không gian: Phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” tại Toà án từ thực tiễn tại địa phương đối với cá nhân là người Việt Nam hoặc người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài, có hành vi hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài hoặc vi phạm trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
– Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trên địa bàn tỉnh Gia Lai từ năm 2015 đến năm 2017.
4. Phương pháp nghiên cứu
– Tiểu luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, vận dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để thấy rõ sự hình thành, phát triển của pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật và những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm trật tự an toàn xã hội; về tôn trọng quyền con người; về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới.
– Phương pháp nghiên cứu cụ thể ở đề tài này là phương pháp Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, suy luận logic được sử dụng nằm lý giải các vấn đề lý luận, giúp cho mỗi vấn đề được nhìn nhận từ nhiều góc độ, thấy được những điểm hợp lý và chưa hợp lý của các quan điểm, quan niệm đưa ra trong Tiểu luận, từ đó đưa ra được kết luận có tính khoa học và nổi bật về vấn đề; Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh phương pháp tổng kết thực tiễn cũng được sử dụng có hiệu quả để từ những số liệu, tình hình thực tế cụ thể thống kê được có thể phân tích, tổng kết thấy được bức tranh toàn diện về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đó là cơ sở chính xác nhất cho việc đề xuất các giải pháp hợp lý và có tính khả thi hơn trong thực tiễn áp dụng.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của tiểu luận
– Về phương diện lý luận: Kết quả nghiên cứu của tiểu luận góp phần làm phong phú thêm một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc” tại Tòa án nhân dân.
– Về phương diện thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của tiểu luận góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác.
CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH “ĐƯA VÀO CƠ SỞ GIÁO DỤC BẮT BUỘC” TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
Luật Xử lý vi phạm hành chính được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2013. Riêng các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định thì có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2014. So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì Luật Xử lý vi phạm hành chính có nhiều quy định mới về hình thức xử lý, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, thủ tục xử phạt và thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính cũng như mức xử phạt. Và một trong những điểm mới quan trọng của Luật Xử lý vi phạm hành chính là quy định về các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định.
Theo quy định tại Phần thứ ba của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì có 4 biện pháp xử lý hành chính, trong đó có biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (Điều 93). Trong đó, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp “… đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc…” (khoản 2 Điều 105). Xét về bản chất thì các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án xem xét, quyết định áp dụng nêu trên là những biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền của người chưa thành niên. Người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính này ít nhiều bị hạn chế tự do và một số quyền lợi khác. Vì vậy, việc áp dụng các biện pháp này cần phải được thực hiện theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, dân chủ, công khai, bảo đảm khách quan, chính xác theo đúng tinh thần “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người” đã được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị. Theo quy định tại Điều 106 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì: “Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc áp dụng các biện pháp … đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc…”.
Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính để lao động, học văn hoá, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc. Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ 06 tháng đến 24 tháng. Để triển khai xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Tòa án nhân dân nói chung, Tòa án nhân nhân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam nói riêng, cần phải nắm vững những nội dung sau:
1. Đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Theo quy định tại Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 5, Điều 12 Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 về việc “Hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại tòa án nhân dân” của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc gồm:
– Đối tượng thuộc trường hợp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính là người đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (đối với người có nơi cư trú ổn định) hoặc chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (đối với người không có nơi cư trú ổn định) mà trong thời hạn 06 tháng họ đã ít nhất 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm tài sản của tổ chức trong nước hoặc nước ngoài; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài hoặc vi phạm trật tự, an toàn xã hội và trong thời hạn 06 tháng đó họ lại thực hiện một trong các hành vi này, nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
– Người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Người đó nhập cảnh vào Việt Nam bằng giấy tờ có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
+ Người đó cư trú ở Việt Nam cho đến khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng thực hiện hành vi vi phạm khi đối tượng đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi vi phạm đó trong 06 tháng (khoản 2 Điều 16 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính Phủ về việc “quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính”).
Không áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các trường hợp sau đây:
+ Người không có năng lực trách nhiệm hành chính;
+ Người chưa đủ 18 tuổi;
+ Nữ trên 55 tuổi, nam trên 60 tuổi;
+ Người đang mang thai có chứng nhận của bệnh viện cấp huyện trở lên;
+ Phụ nữ hoặc người duy nhất đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú xác nhận.
+ Người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam bằng hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp.
2. Thẩm quyền xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
Về thẩm quyền chung: Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính thì biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thuộc thẩm quyền xem xét, quyết định của Tòa án.
Thẩm quyền theo cấp và lãnh thổ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Toà án nhân dân quy định cụ thể hơn, chỉ rõ: “Tòa án có thẩm quyền xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cơ quan đề nghị có trụ sở”.
Như vậy, thẩm quyền của Tòa án phụ thuộc vào cơ quan đề nghị có trụ sở trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án cấp huyện, không phụ thuộc vào nơi cư trú của người bị đề nghị.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét lại quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
3. Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính là khoảng thời gian do pháp luật xử lý vi phạm hành chính quy định mà nếu hết thời hạn đó thì không được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính.
Điểm c khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộcnhư sau: “Thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là 01 năm, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối một trong các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính”.
Trường hợp do hành vi của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có dấu hiệu tội phạm nên Tòa án đã chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đó, nhưng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không khởi tố vụ án hình sự mà chuyển trả hồ sơ vụ việc đề nghị xử lý vi phạm hành chính thì thời gian cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xem xét việc truy cứu trách nhiệm hình sự được tính vào thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Cách tính thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp tại một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính quy định là ngày làm việc. Đây là điểm mới so với cách tính trước đây, thời gian tính theo ngày không được hiểu chung là ngày làm việc, không bao gồm ngày nghỉ. Thời gian ban đêm được tính từ 22 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau.
4. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc do Công an cấp xã có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp thu thập các tài liệu và lập hồ sơ đề nghị quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 101 Luật Xử lý vi phạm hành chính, được thực hiện như sau:
* Lập hồ sơ đề nghị:
– Đối với người vi phạm có nơi cư trú ổn định thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ và các tài liệu khác có liên quan;
– Đối với người không cư trú tại nơi có hành vi vi phạm pháp luật thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phải xác minh; trường hợp xác định được nơi cư trú thì có trách nhiệm chuyển người đó kèm theo biên bản vi phạm về địa phương để xử lý; trường hợp không xác định được nơi cư trú của người đó thì lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Hồ sơ đề nghị gồm có biên bản vi phạm; bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; bản trích lục tiền án, tiền sự; biện pháp giáo dục đã áp dụng (nếu có); bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.
Trường hợp người vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với người đó.
Hồ sơ đề nghị gồm có bản tóm tắt lý lịch; tài liệu về các hành vi vi phạm pháp luật của người đó; biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã áp dụng; bản tường trình của người vi phạm hoặc của người đại diện hợp pháp của họ.
* Thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị:
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Những người này được quyền đọc hồ sơ và ghi chép các nội dung cần thiết trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng hoặc người đại diện của họ đọc xong hồ sơ thì hồ sơ được gửi cho Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện.
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ và chuyển Trưởng Công an cùng cấp.
* Xem xét, quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc:
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Trưởng Công an cấp huyện quyết định việc chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì chuyển lại cơ quan đã lập hồ sơ tiếp tục thu thập tài liệu bổ sung hồ sơ.
* Hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc bao gồm:
– Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc quy định tại Điều 101 và Điều 118 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
– Văn bản của Trưởng Công an cấp huyện về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
– Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc phải được đánh bút lục và được lưu trữ theo quy định của pháp luật về lưu trữ.
5. Ra các quyết định
Sau khi nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tài liệu, nếu xét thấy cần thiết, Thẩm phán được phân công có thể tham vấn ý kiến của chuyên gia y tế, tâm lý, giáo dục, xã hội học và đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cư trú để làm rõ tình trạng sức khoẻ, tâm lý, điều kiện sống, học tập của họ.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, căn cứ vào kết quả kiểm tra hồ sơ, Thẩm phán phải quyết định về một trong các nội dung sau đây:
5.1. Yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ
Thẩm phán được phân công yêu cầu cơ quan đề nghị bổ sung tài liệu, chứng cứ trong các trường hợp sau đây:
+ Khi tài liệu chứng minh hành vi vi phạm của người bị đề nghị, tài liệu về nhân thân, tình trạng sức khỏe của người bị đề nghị chưa rõ hoặc có mâu thuẫn mà không thể bổ sung, làm rõ tại phiên họp;
+ Khi phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trình tự, thủ tục đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Văn bản yêu cầu phải nêu rõ tài liệu, chứng cứ cần bổ sung và lý do của việc yêu cầu bổ sung.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, cơ quan được yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ bổ sung cho Tòa án.
Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được tài liệu, chứng cứ bổ sung hoặc kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà cơ quan được yêu cầu không bổ sung tài liệu, chứng cứ, Thẩm phán ra quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
5.2. Đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Thẩm phán được phân công xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính quyết định đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có một trong các căn cứ sau đây:
+ Hết thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
+ Người bị đề nghị đã chết;
+ Người bị đề nghị không thuộc đối tượng áp dụng biện pháp xử lý hành chính quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 92, khoản 1 Điều 94 hoặc khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
+ Người bị đề nghị thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 92, khoản 2 Điều 94 hoặc khoản 2 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
+ Cơ quan đề nghị rút đề nghị (bằng văn bản);
+ Người bị đề nghị đã có bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật đối với hành vi bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
+ Người bị đề nghị đang chấp hành hình phạt tù, đang chờ chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
5.3. Tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi có một trong các căn cứ sau đây:
+ Hành vi của người bị đề nghị có dấu hiệu tội phạm và Tòa án phải chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự xem xét hoặc người bị đề nghị đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi đó;
+ Khi phát sinh tình tiết mới về tình trạng sức khỏe, tâm thần của người bị đề nghị và cần yêu cầu cơ quan đề nghị tiến hành trưng cầu giám định;
+ Người bị đề nghị đang bị bệnh hiểm nghèo có xác nhận của bệnh viện từ cấp huyện trở lên.
5.4. Mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp (theo mẫu số 03 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao), Toà án phải mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Quyết định mở phiên họp phải có các nội dung chính sau đây:
+ Họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, nghề nghiệp, nơi cư trú của người bị đề nghị;
+ Cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên;
+ Tên cơ quan đề nghị;
+ Biện pháp xử lý hành chính được đề nghị áp dụng;
+ Ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp;
+ Họ và tên Thẩm phán và Thư ký phiên họp;
+ Họ và tên người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị;
+ Họ và tên người phiên dịch;
+ Họ và tên những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp.
6. Phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
6.1. Gửi quyết định mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (sau đây gọi là quyết định mở phiên họp)
Chậm nhất là 03 ngày làm việc trước khi mở phiên họp, quyết định mở phiên họp phải được gửi cho: người bị đề nghị; cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên; cơ quan đề nghị; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị; người phiên dịch; những người khác được yêu cầu tham gia phiên họp; Viện kiểm sát cùng cấp.
Người thực hiện việc tống đạt quyết định mở phiên họp phải trực tiếp chuyển giao cho người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; cha, mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên (sau đây gọi chung là người được tống đạt). Người được tống đạt phải ký nhận vào biên bản hoặc sổ giao nhận quyết định mở phiên họp.
Việc tống đạt quyết định mở phiên họp qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người được tống đạt. Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho Tòa án. Thời điểm để tính thời hạn tống đạt quyết định mở phiên họp là ngày người được tống đạt xác nhận là họ đã nhận được quyết định mở phiên họp do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.
Quyết định mở phiên họp được tống đạt đến địa chỉ của người được tống đạt. Trường hợp người được tống đạt đã chuyển đến nơi cư trú mới và đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú thì phải tống đạt theo địa chỉ nơi cư trú mới của họ.
Trường hợp người được tống đạt từ chối nhận quyết định mở phiên họp thì người thực hiện việc tống đạt phải lập biên bản, trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc (sau đây gọi chung là tổ trưởng tổ dân phố) hoặc đại diện công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận quyết định mở phiên họp.
Trường hợp người được tống đạt vắng mặt thì người thực hiện việc tống đạt phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố để thực hiện việc ký nhận và yêu cầu người này cam kết giao lại tận tay ngay cho người được tống đạt.
Trường hợp người được tống đạt vắng mặt mà không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì người thực hiện việc tống đạt phải lập biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố hoặc đại diện công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết bản chính quyết định mở phiên họp tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được tống đạt; niêm yết bản sao quyết định mở phiên họp tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được tống đạt.
Việc tống đạt, niêm yết quyết định mở phiên họp phải bảo đảm thời hạn tống đạt, niêm yết theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Pháp lệnh. Các biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ việc.
Trường hợp Tòa án đã tống đạt trực tiếp quyết định mở phiên họp cho người được tống đạt, nhưng do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng xảy ra đối với họ vào trước thời điểm Tòa án mở phiên họp hoặc ngay trong thời điểm họ đang trên đường đến Tòa án để tham gia phiên họp (như do thiên tai, hỏa hoạn, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết v.v…) nên họ không thể có mặt tại phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án và Tòa án đã nhận được thông báo từ phía người được tống đạt thì Tòa án phải hoãn phiên họp. Trường hợp người được tống đạt vắng mặt không phải do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng thì Tòa án vẫn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo thủ tục chung.
6.2. Thành phần phiên họp
6.2.1. Thành phần phiên họp gồm
Để bảo đảm việc xem xét kịp thời, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu về tính dân chủ, công khai, minh bạch trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân, trong đó có quyền của người chưa thành niên, Pháp lệnh quy định việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án được thực hiện thông qua phiên họp gồm các thành phần sau:
– Người tiến hành phiên họp gồm có Thẩm phán và Thư ký phiên họp.
– Người tham gia phiên họp gồm có: Đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên, người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị.
– Trường hợp cần thiết, Tòa án yêu cầu đại diện cơ quan Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện, người giám định, người phiên dịch, chuyên gia y tế, giáo dục, tâm lý, đại diện của nhà trường nơi người bị đề nghị là người chưa thành niên học tập, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị đề nghị cư trú hoặc những người khác tham gia phiên họp để trình bày ý kiến về các vấn đề có liên quan.
6.2.2. Sự tham gia của Viện kiểm sát trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án là hoạt động tư pháp (do Tòa án tiến hành) mà theo quy định của pháp luật thì Viện kiểm sát có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp; bởi vậy, Điều 4 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân quy định sự tham gia của Viện kiểm sát trong việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ nhưng không ảnh hưởng đến nguyên tắc “Khi xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”:
– Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị nhằm bảo đảm việc giải quyết kịp thời, đúng pháp luật.
– Viện kiểm sát tham gia các phiên họp; tham gia việc xét hoãn, miễn, giảm, tạm đình chỉ việc chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Pháp lệnh này.
– Sau khi nhận được thông báo thụ lý hồ sơ của Tòa án cùng cấp, Viện kiểm sát có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ việc tại Tòa án đã thụ lý vụ việc đó.
6.2.3. Những trường hợp phải từ chối, thay đổi Thẩm phán, Thư ký phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính
– Là người thân thích của người bị đề nghị;
– Đã tiến hành xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong cùng vụ việc đó;
– Đã tiến hành việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong cùng vụ việc đó;
6.2.4. Quyền và nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp
– Quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính
+ Kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý cho đến thời điểm Tòa án mở phiên họp, người bị đề nghị, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên; người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án đã thụ lý.
+ Việc cung cấp tài liệu, chứng cứ có thể được thực hiện tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện.
– Quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp
+ Yêu cầu thay đổi người tiến hành phiên họp.
+ Được biết, đọc, ghi chép, sao chụp và xem tài liệu trong hồ sơ đề nghị.
+ Cung cấp tài liệu, chứng cứ, giải trình, tranh luận tại phiên họp theo quy định của Pháp lệnh này.
+ Ủy quyền bằng văn bản cho luật sư hoặc người khác đại diện cho mình tham gia phiên họp đối với trường hợp là người bị đề nghị.
+ Được nhận các quyết định của Tòa án.
+ Được khiếu nại theo quy định của Pháp lệnh này.
+ Phải có mặt tại phiên họp theo yêu cầu của Tòa án.
+ Tôn trọng Tòa án, chấp hành nội quy phiên họp.
+ Chấp hành quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
+ Quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
6.3. Sự có mặt của những người tham gia phiên họp
– Người tham gia phiên họp phải có mặt tại phiên họp; trường hợp đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên vắng mặt thì Thẩm phán được phân công phải hoãn phiên họp.
– Người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị vắng mặt có lý do chính đáng thì Thẩm phán được phân công có thể hoãn phiên họp; trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có yêu cầu xem xét vắng mặt thì Thẩm phán được phân công vẫn tiến hành phiên họp.
– Trường hợp người phiên dịch vắng mặt mà Tòa án không thể thay thế ngay được thì Thẩm phán được phân công phải hoãn phiên họp.
– Thời hạn hoãn phiên họp không quá 05 ngày làm việc, kể từ ngày có thông báo hoãn. Thẩm phán được phân công phải thông báo về việc hoãn phiên họp cho những người tham gia phiên họp và nêu rõ lý do hoãn, thời gian mở lại phiên họp.
Tòa án phải thông báo cho những người tham gia phiên họp về việc hoãn phiên họp, lý do hoãn và thời gian mở lại phiên họp. Đối với những người vắng mặt tại phiên họp thì ngay sau khi hoãn phiên họp, Tòa án phải thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do hoãn, thời gian mở lại phiên họp cho họ biết.
6.4. Trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp
– Trước khi khai mạc phiên họp, Thư ký phiên họp tiến hành các công việc sau đây:
+ Phổ biến nội quy phiên họp;
+ Kiểm tra sự có mặt của những người được Toà án yêu cầu tham dự phiên họp; nếu có người vắng mặt thì phải làm rõ lý do và báo cáo Thẩm phán để xem xét tiếp tục tiến hành phiên họp hoặc hoãn phiên họp.
– Thủ tục phiên họp được tiến hành như sau:
+ Thẩm phán tuyên bố khai mạc phiên họp;
+ Thẩm phán phải giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp. Trường hợp có yêu cầu thay đổi Thẩm phán thì Thẩm phán phải xem xét; nếu có căn cứ thì tạm dừng phiên họp và báo cáo Chánh án Toà án xem xét, quyết định. Nếu phải thay đổi Thẩm phán mà không có Thẩm phán khác thay thế thì phải hoãn phiên họp.
Điểm b khoản 2 Điều 20 của Pháp lệnh quy định: “Trường hợp có yêu cầu thay đổi Thẩm phán thì Thẩm phán phải xem xét; nếu có căn cứ thì tạm dừng phiên họp và báo cáo Chánh án Tòa án xem xét, quyết định”; do đó, nếu có yêu cầu thay đổi Thẩm phán và Thẩm phán xét thấy mình thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh thì Thẩm phán tạm dừng phiên họp và báo cáo Chánh án Tòa án xem xét, quyết định việc thay đổi Thẩm phán; nếu Thẩm phán xét thấy việc yêu cầu thay đổi Thẩm phán là không có căn cứ thì không chấp nhận và tiếp tục xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Thời hạn hoãn phiên họp được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 19 của Pháp lệnh.
+ Đại diện cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
+ Người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của cơ quan đề nghị;
+ Người tham gia phiên họp trình bày ý kiến về điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nhân thân của người bị đề nghị; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; hình thức, biện pháp đã giáo dục; đề nghị hoặc không đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
+ Đại diện cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị tranh luận về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
+ Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Sau khi những người tham gia phiên họp kết thúc tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và ý kiến của Viện kiểm sát về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
+ Thẩm phán công bố quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nếu thuộc trường hợp quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
6.5. Biên bản phiên họp
Biên bản phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm mở phiên họp; thành phần tham gia phiên họp; nội dung, diễn biến phiên họp; quyết định của Thẩm phán.
Sau khi kết thúc phiên họp, Thẩm phán được phân công phải kiểm tra biên bản, cùng với Thư ký phiên họp ký vào biên bản. Kiểm sát viên, người bị đề nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cha mẹ hoặc người giám hộ của người bị đề nghị là người chưa thành niên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị, đại diện cơ quan đề nghị được xem biên bản phiên họp, có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên họp và ký xác nhận.
7. Ban hành, cấp, gửi quyết định phiên họp
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị; ý kiến của những người tham gia phiên họp, Thẩm phán phải xem xét và ra một trong các quyết định sau đây:
– Quyết định áp dụng (không áp dụng) biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc (Mẫu số 08 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao).
– Quyết định đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Mẫu số 05 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao).
Trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Pháp lệnh thì Tòa án trả hồ sơ đề nghị cho cơ quan đề nghị và xóa sổ thụ lý.
– Quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính (Mẫu số 06 ban hành kèm theo Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao).
Trường hợp Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Pháp lệnh thì Tòa án sẽ mở lại phiên họp để xem xét, quyết định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính khi căn cứ tạm đình chỉ không còn. Thời gian tạm đình chỉ không tính vào thời hạn xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
Trong thời hạn 2 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, Thẩm phán được phân công phải gửi quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính cho những người sau đây:
+ Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
+ Trưởng Công an cấp huyện và Trưởng phòng Lao động – Thương binh và Xã hội cấp huyện nơi đã gửi hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính;
+ Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cư trú;
+ Cơ quan thi hành quyết định;
+ Viện kiểm sát cùng cấp.
Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định, Thẩm phán được phân công phải gửi quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ việc xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính cho cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, những người có liên quan và Viện kiểm sát cùng cấp.
8. Các quy định khác liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
– Tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (Điều 115 Luật xử lý vi phạm hành chính):
Theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định tạm thời đưa người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính ra khỏi nơi chấp hành biện pháp đó để tham gia tố tụng trong các vụ án có liên quan đến người đó. Thời gian tạm thời đưa ra khỏi nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính được tính vào thời hạn chấp hành biện pháp đó.
– Chuyển hồ sơ của đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 116 Luật xử lý vi phạm hành chính):
+ Khi xem xét hồ sơ của đối tượng để quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu xét thấy hành vi vi phạm của người đó có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền.
+ Đối với trường hợp đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nếu sau đó phát hiện hành vi vi phạm của người bị áp dụng biện pháp này có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án nhân dân đã ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính phải huỷ quyết định đó và trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày huỷ quyết định phải chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền. Trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì thời hạn đối tượng đã chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù; 1,5 ngày chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được tính bằng 01 ngày chấp hành hình phạt tù.
– Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội được thực hiện trước hoặc trong thời gian chấp hành biện pháp xử lý hành chính (Điều 117 Luật xử lý vi phạm hành chính):
Trường hợp phát hiện người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đã thực hiện hành vi phạm tội trước hoặc trong thời gian chấp hành quyết định, thì theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc Hiệu trưởng trường giáo dưỡng, Giám đốc cơ sở giáo dục bắt buộc, Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đối với người đó và chuyển hồ sơ của đối tượng cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; trường hợp bị Toà án xử phạt tù thì người đó được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính; nếu hình phạt được áp dụng không phải là hình phạt tù thì người đó có thể phải tiếp tục chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
– Xử lý trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Điều 118 Luật xử lý vi phạm hành chính):
+ Trường hợp người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
+ Trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Cơ sở giáo dục bắt buộc thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này.
+ Trong giai đoạn cắt cơn, phục hồi, đối tượng đang chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc nếu có hành vi vi phạm các quy định tại Điều 94 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.
Giám đốc cơ sở cai nghiện bắt buộc tiến hành lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng có hành vi quy định tại Điều 94 Luật xử lý vi phạm hành chính trên cơ sở hồ sơ hiện có và biên bản về hành vi vi phạm mới gửi Trưởng Công an cấp huyện nơi có cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trưởng Công an cấp huyện có trách nhiệm lấy ý kiến của Trưởng phòng Tư pháp về tính pháp lý của hồ sơ trước khi xem xét, gửi hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân nơi có cơ sở cai nghiện bắt buộc quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Thủ tục xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với các đối tượng này thực hiện theo quy định của pháp luật.
CHƯƠNG II
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội của thành phố Pleiku.
Thành phố Pleiku là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội của tỉnh Gia Lai; có tổng diện tích tự nhiên là 26.199,3ha; dân số 233.069 người, có 23 xã, phường; 254 thôn, làng, tổ dân phố, toàn thành phố có 27 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 12,24%, phần lớn là người Jarai và người Banar, còn lại các dân tộc thiểu số khác đến cư trú và lập nghiệp.
2. Thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku từ năm 2014 đến năm 2017.
Thực hiện quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/06/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; Pháp lệnh số 09/2014/UNTVQH 13 ngày 20/01/2014 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong ba năm kể từ năm 2015 đến 30/9/2017, các Toà án nhân dân cấp huyện trong toàn tỉnh Gia Lai đã thụ lý, xem xét ra 303 quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắc buộc, đưa vào trường giáo dưỡng. Kết quả diễn biến từng năm được thể hiện qua bảng số liệu sau:
Bảng 2.1: Tổng hợp số liệu tình hình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Gai Lai từ năm 2014 đến năm 2017
STTĐơn vịĐưa vào cơ sở cai nghiệnĐưa vào cơ sở giáo dục bắt buộcĐưa vào Trường giáo dưỡng1TA TP. Pleiku136112TA TX.An Khê7013TA TX.Ayun Pa1014TA H. Chư Păh9495TA H. Chư Sê19056TA H. Chư Prông3017TA H. Đức Cơ10008TA H. Ia Pa0019TA H. Phú thiện00210TA H. Krông Pa120111TA H. Đăk Đoa180112TA H. Mang Yang40013TA H. Đak Pơ30014TA H. Kong Chro00115TA H. K’Bang30416TA H. Ia Grai350117TA H. Chư Pưh504Tổng số2650533Số liệu: Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai
Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu tình hình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku từ năm 2015 đến năm 2017
BIỆN PHÁP ÁP DỤNG201520162017TỔNGĐưa vào trường giáo dưỡng1001Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc0011Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc16471136Tổng cộng26472138Số liệu: Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân thành phố Pleiku
Bảng thống kê 2.2 trên cho chúng ta thấy, trong ba năm từ 2015 đến năm 2017, trên địa bàn thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với tổng số 138 đối tượng. Trong đó, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có số lượng cao nhất với 136 đối tượng; biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và biện pháp đưa vào Trường giáo dưỡng, mỗi biện pháp 01 đối tượng.
Việc áp dụng thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính và đặc điểm người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cũng có sự khác nhau, điều này được thể hiện cụ thể tại bảng số liệu dưới đây:
Bảng 2.3: Số liệu thời hạn áp dụng và đặc điểm người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Số liệu: Báo cáo tổng kết của Toà án nhân dân thành phố Pleiku
– Về thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc: Bảng số liệu thống kê trên cho chúng ta thấy thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc đối với đối tượng bị áp dụng từ 18 tháng đến 24 tháng là 01 đối tượng; độ tuổi của đối tượng bị áp dụng từ 18 tuổi trở lên là 01 đối tượng; đối tượng nữ là 11 người (chiếm tỷ lệ 7,9%), nam là 127 người (chiếm tỷ lệ) 92,1%; đối tượng là người dân tộc thiểu số là 4 (chiếm tỷ lệ 2,8%).
Việc xem xét, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân là nhiệm vụ mới theo quy định của pháp luật, nhưng thực tế cho thấy các đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku có số lượng tương đối lớn, tập trung chủ yếu vào biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện. Số lượng hồ sơ đã thụ lý đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc để xem xét, giải quyết chưa nhiều, chưa phản ánh đúng yêu cầu thực tế của việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân đối với biện pháp hành chính này do nhiều nguyên nhân khác nhau xuất phát từ tình hình thực tế tại địa bàn thành phố.
3. Hạn chế, vướng mắc của thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
Thực tiễn giải quyết hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku trong thời gian qua đã mắc phải những khó khăn, vướng mắc sau:
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Tại khoản 3, khoản 5 Điều 90 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định điều kiện áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn là “02 lần trở lên trong 06 tháng” có hành vi vi phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính, có nghĩa là từ lần vi phạm thứ 2 có thể lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường thị trấn. Tuy nhiên tại khoản 1, khoản 2 Điều 16 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định: “ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính đó trong 06 tháng”; điểm c, đ khoản 2 Điều 4 Nghị định số 111/2013/NĐ-CP quy định: “trong 06 tháng đã ít nhất hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi…”. Tại khoản 3 Điều 4 Thông tư số 48/2014/TT-BCA đã nói rõ: Trong 06 tháng bị bị xử phạt vi phạm hành chính 2 lần, nếu còn tiếp tục có hành vi vi phạm hành chính từ lần thứ 3 trở đi mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì không ra quyết định xử phạt hành chính tại lần vi phạm này mà lập biên bản vi phạm và lập hồ sơ áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn…Quy định tại các văn bản trên đang khiến các địa phương lúng túng, chưa có sự thống nhất cả về nhận thức và phối hợp thực hiện.
Thứ hai, Khoản 2 Điều 99 Luật xử lý vi phạm hành chính: Trong trường hợp người chưa thành niên vi phạm do cơ quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng theo quy định tại Điều 92 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người đó. Các đối tượng vi phạm thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo quy định tại Điều 94 Luật lý vi phạm hành chính cũng được quy định tương tự như vậy. Tuy nhiên Nghị định số 02/2014/NĐ-CP, Thông tư số 43/2014/TT- BCA lại không quy định cụ thể việc giao đối tượng bị lập hồ sơ cho gia đình, tổ chức quản lý trong quá trình lập hồ sơ sau khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam (nếu có) thuộc về đơn vị và cấp nào.
Thứ ba, khoản 2 Điều 118 Luật xử lý vi phạm hành chính, quy định trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Trường hợp người nghiện ma túy thuộc loại côn đồ hung hãn thì áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Cơ sở giáo dục bắt buộc thực hiện việc cai nghiện cho đối tượng này. Tuy nhiên đến nay chưa có văn bản nào quy định cụ thể thế nào là hành vi côn đồ hung hãn.
Thứ tư, theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ quan lập hồ sơ phải thông báo về việc lập hồ sơ cho người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ để đọc hồ sơ, ghi chép nội dung cần thiết. Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này trên thực tế cho thấy người bị đề nghị áp dụng hoặc người đại diện hợp pháp của họ thường không đến nên cơ quan Công an gặp rất nhiều khó khăn trong công tác lập, hoàn thiện hồ sơ đề nghị, hoặc họ lợi dụng việc được thông báo để bỏ trốn. Đây là một trong những nguyên nhân gây nhiều khó khăn trong việc triển khai thực hiện biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc.
Thứ năm, về phối hợp thực hiện các quy định về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hiện nay, việc thực hiện quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc do nhiều cơ quan khác nhau thực hiện vào các giai đoạn khác nhau từ khi lập hồ sơ đề nghị áp dụng đến thi hành các biện pháp này và đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, tổ chức xã hội và các cơ quan. Tuy nhiên, trên thực tế Luật xử lý vi phạm hành chính chưa quy định nên việc phối hợp gặp nhiều khó khăn như: công tác phối hợp trong việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ, việc chuyển hồ sơ xem xét, quyết định.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, hội nhập quốc tế, pháp luật xã hội chủ nghĩa ngày càng thể hiện vai trò to lớn, là công cụ hàng đầu để quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của cá nhân, cơ quan tổ chức và của Nhà nước.
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận để đánh giá một cách khách quan việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc nói riêng và các biện pháp xử lý hành chính khác tại Toà án nhân dân thành phố Pleiku từ năm 2015 đến tháng 9 năm 2017, thấy rằng việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trên của Tòa án nhân dân đã đạt được những kết quả nhất định; nhưng bên cạnh đó vẫn còn những bất cập hạn chế trong việc thực hiện pháp luật.
Trong phạm vi nghiên cứu tiểu luận đã nêu, dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Toà án nhân dân thành phố Pleiku. Thực tế xem xét, quyết định áp dụng, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Từ đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu làm cơ sở để hoàn thiện về mặt lý luận; góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả áp dụng pháp luật trong xem xét, quyết định áp dụng các các biện pháp xử lý hành chính tại Toà án.
2. Kiến nghị các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
Để nâng cao chất hượng hiệu quả việc xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân nói chung, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku nói riêng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện quy trình lập hồ sơ tại cơ quan hành chính. Quy trình lập hồ sơ tại cơ quan hành chính gồm các giai đoạn: lập hồ sơ đề nghị, kiểm tra hồ sơ và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân. Về cơ bản, Luật xử lý vi phạm hành chính đã quy định chi tiết các giai đoạn của quy trình lập hồ sơ. Tuy nhiên, một số nội dung cần được quy định chi tiết như:
– Xác định độ tuổi của người bị đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính.
– Xác định thời điểm tiến hành lập hồ sơ đối với đối tượng có hành vi vi phạm 02 lần trở lên trong 6 tháng. Theo các Điều 90, 92, 94 Luật xử lý vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền lập hồ sơ đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và người từ đủ 18 tuổi trở lên thực hiện hành vi xâm phạm tài sản của cơ quan, tổ chức; tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân hoặc người nước ngoài; vi phạm trật tự, an toàn xã hội 02 lần trở lên trong 06 tháng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được tiến hành khi nào, có nghĩa là các hành vi vi phạm này đã bị xử phạt hành chính hay chưa, vi phạm lần thứ hai đã bị lập hồ sơ hay là vi phạm lần thứ ba mới lập. Theo học viên, nên quy định rõ những hành vi này trước đó đã bị xử phạt hành chính và chỉ lập hồ sơ khi trong 06 tháng người vi phạm đã bị xử phạt 02 lần mà vẫn tiếp tục vi phạm.
Hai là, từng bước hạn chế các đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án để giảm sự quá tải của Tòa án khi phải xét xử những vụ việc hành chính là một giải pháp có tính chất chiến lược, tiến tới xóa bỏ một số biện pháp xử lý hành chính không còn áp dụng phù hợp với đời sống xã hội.
Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh áp dụng đối với gái mại dâm và người nghiện ma túy đến nay đã được bãi bỏ khi Quốc hội ban hành Luật xử lý vi phạm hành chính thay thế cho Pháp lệnh xử lý hành chính, còn đối tượng là người nghiện ma túy, Luật phòng chống ma túy năm 2000 quy định người nghiện ma túy phải bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc (như cai nghiện tại cộng đồng, tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc, không phải là biện pháp xử lý hành chính nữa. Về mặt chính sách hình sự, hiện nay nhà nước ta không coi người sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm. Như vậy, nghiện ma túy là một căn bệnh, nhà nước cần có biện pháp giúp họ cai nghiện.
Đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là một biện pháp xử lý hành chính, có thể nói là nghiêm khắc nhất trong các biện pháp xử lý hành chính, cũng có thể nghiên cứu loại bỏ, các đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc cần được xử lý theo đúng bản chất vốn có của họ. Như chúng ta đã biết, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là những người đã thành niên, có nhân thân phức tạp, phần lớn là lưu manh chuyên nghiệp, côn đồ hung hãn, nhiều đối tượng đã từng tham gia băng nhóm tội phạm, hoạt động theo kiểu “xã hội đen”, có nhiều tiền án, tiền sự hoạt động phạm pháp nhiều lần, chủ yếu là trộm cắp, lừa đảo, cướp tài sản, gây thương tích, gây rối trật tự công cộng… Với nhân thân như vậy mà thực hiện hành vi phạm pháp như trộm cắp, cướp giật tài sản, gây thương tích, gây thương tích, gây rối trật tự công cộng thì hoàn toàn có thể xử lý hình sự… Theo Bộ luật Hình sự, các tội trộm cắp, lừa đảo, hủy hoại tài sản…tuy chưa đủ định lượng để cấu thành tội phạm nhưng đối tượng đã bị xử lý hành chính hoặc có án tích về các tội chiếm đoạt thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Ba là, tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm pháp luật tại Tòa án. Việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính có sự tham gia của nhiều tổ chức, cơ quan, cá nhân với vai trò khác nhau, bao gồm: Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; cơ quan đề nghị như Phòng lao động thương binh và xã hội cấp huyện, Công an huyện, phòng tư pháp cấp huyện; người có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án; Pháp luật đã quy định rõ nghĩa vụ của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan từ quy trình xây dựng hồ sơ, thẩm định hồ sơ đến chuyển giao hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án giải quyết theo thẩm quyền. Vì thế, cần tăng cường mối quan hệ giữa Tòa án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong giải quyết áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, nhưng vẫn phải đảm bảo tính độc lập của từng cơ quan trên cơ sở quy định của pháp luật.
Tóm lại, việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án là hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt của Tòa án, nhằm giải quyết đúng đắn các hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tiểu luận còn có những hạn chế và thiếu sót nhất định, song phần nghiên cứu kèm theo các kiến nghị mà học đã nêu trong đề tài là những đóng góp nhỏ mang tính sáng kiến pháp luật để giải quyết những tồn tại theo hướng hoàn thiện các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án, nhằm nâng nâng cao hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2002), Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội.
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.
4. Chính phủ, Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
5. Chính phủ, Nghị định số 02/2014/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cơ sở giáo dục bắt buộc.
6. Cao Vũ Minh (2015):“Vai trò của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc”. Tạp chí Tòa án nhân dân số 8 năm 2015.
7. Đặng Thanh Sơn: “Các biện pháp xử lý hành chính khác và việc bảo đảm quyền con người”.
8. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
9. Học viện Tòa án (2016): Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử – phần kỹ năng giải quyết vụ án hành chính (Tập bài giảng cho Khóa 3). Nhà xuất bản Công an nhân dân.
10. Lương Nguyễn Thắng (2015): “Kiến nghị hoàn thiện quy định về áp dụng các biện pháp xử lý hành chính”. Tạp chí Tòa án nhân dân số 4 tháng 2 năm 2015.
11. PGS. TS. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
12. Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật xử lý vi phạm hành chính, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia.
13. Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Báo cáo tổng kết công tác năm, 2015, 2016 và 2017.
14. Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, Báo cáo tổng kết công tác năm 2015, 2016 và 2017.
15. Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH quy định trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia.
5/5 – (1 bình chọn)


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


