NỘI DUNG ĐỌC HIỂU

GỚI Ý

1. Phân biệt tài nguyên phục hồi và tài nguyên không phục

hồi.

 – Tài nguyên thiên nhiên có thể bị hao kiệt là những vật thể và hiện

tượng tự nhiên mà số lượng và chất lượng của chúng thay đổi một cách căn bản

trong quá trình sử dụng. Tài nguyên có thể bị hao kiệt được phân thành tài

nguyên có thể phục hồi và tài nguyên không phục hồi lại được.

+ Tài nguyên phục hồi là các tài nguyên mà thiên nhiên có thể tạo ra liên

tục và được con người sử dụng lâu dài. Hoặc có thể được định nghĩa một cách đơn

giản là tài nguyên có thể duy trì, hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được

quản lí một cách khôn ngoan (S.E. Jorgenson. 1981) như: rừng, động vật, độ phì

của đất, nước ngọt….Các tài nguyên phục hồi nếu được khai thác và sử dụng hợp

lí thì không những không bị hao hụt đi trong quá trình sử dụng mà còn có thể

giàu thêm. Chẳng hạn, việc bón phân, canh tác hợp lí và trồng cây họ đậu làm

tăng độ phì của đất; việc lai tạo và chuyển đổi gen làm tăng số lượng loài sinh

vật…

+ Tài nguyên không có khả năng phục hồi là những tài nguyên có giới hạn

về khối lượng, bị hao hụt dần trong quá trình sử dụng và không thể bổ sung

được. Đó là toàn bộ khoáng sản và nhiên liệu. Chúng được hình thành trong lịch

sử địa chất lâu dài. Vì vậy, cần phải hết sức tiết kiệm trong quá trình sử dụng

chúng.

2. Liệt kê các loại khoáng sản và các dạng năng lượng.

1/ Khoáng sản được chia làm bốn nhóm:

– Khoáng sản nhiên liệu: dầu mỏ, than, khí đốt, đá chảy, quặng phóng xạ…

– Khoáng sản kim loại: quặng sắt, đồng, thiếc, nhôm, ti tan, măng gan…

– Khoáng sản không kim loại: secpentin, phốtphorit, apatít.

– Vật liệu xây dựng: đá vôi, cát, đá hoa…

 

2/ Tài nguyên năng lượng của Trái Đất có thể được phân thành một số dạng cơ

bản sau:

– Các dạng tài nguyên năng lượng tái tạo và vĩnh cửu: bức xạ Mặt Trời,

năng lượng gió, dòng chảy và sóng biển và năng lượng sinh khối.

– Các dạng năng lượng không tái tạo và vĩnh cửu: năng lượng địa nhiệt,

năng lượng nguyên tử và hạt nhân.

– Các dạng năng lượng không tái tạo và có giới hạn: năng lượng của nhiên

liệu (than, dầu mỏ, khí đốt, đá chảy…)

– Năng lượng điện.

3. Trình bày vai trò của đất và

rừng đối với môi trường và xã hội.

 Đất có các chức năng cơ bản sau đây:

– Là môi trường để con người và sinh vật trên cạn sinh trưởng và phát

triển.

– Là địa bàn cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải khoáng

và hữu cơ.

– Là nơi cư trú cho các động, thực vật trong đất.

– Là địa bàn để xây dựng các công trình kinh tế, cư trú, văn hóa, an

ninh, quốc phòng.

– Là địa bàn để lọc và cung cấp nước.

Tài nguyên rừng có vai trò rất lớn đối với con người và môi trường:

– Rừng là nguồn cung cấp gỗ dùng làm nhiên liệu, vật liệu xây dựng và

nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác nhau: gỗ trụ mỏ, làm giấy, chất dẻo,

sơn. Người ta có thể chưng gỗ để thu nhựa, meetanon, axit axêtic, dầu, sản xuất

đường và các sản phẩm khác từ gỗ. Thủy phân 1 tấn gỗ có thể thu được 550 – 650

kg đường gỗ, và từ đường gỗ có thể chế biến thành rượu (220 – 240 lít) hoặc sử

dụng để cấy nấm men (50kg) giàu prôtêin và vitamin B. Rừng còn là nơi cung cấp

các giống cây trồng, vật nuôi và nguồn dược liệu quý cho con người.

– Ngoài ý nghĩa về tài nguyên động, thực vật, rừng có vai trò cực kì quan

trọng, tạo cảnh quan và có tác động mạnh mẽ đến khí hậu, đất đai và thủy văn. Chính

vì vậy, rừng không chỉ có chức năng trong phát triển kinh tế – xã hội, mà còn có

ý nghĩa đặc biệt trong bảo vệ môi trường.

– Rừng ảnh hưởng đến nhiệt độ, độ ẩm không khí, thành phần khí quyển và

điều hòa khí hậu. Rừng là vật cản trên đường vận chuyển của gió và thông qua đó

làm thay đổi các nhân tố khác của hoàn cảnh sinh thái. Rừng làm sạch không khí

và có ảnh hưởng đến vòng chu trình cacbon trong tự nhiên. Rừng được xem như một

nhà máy lọc bụi khổng lồ. Trung bình hàng năm, 1 ha rừng thông có khả năng hút

36,4 tấn bụi không khí. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, nước mưa ở những nơi không

có rừng chứa các chất phóng xạ cao hơn gấp 2 lần so với nước mưa trong rừng.

Rừng góp phần làm giảm tiếng ồn, làm cân bằng hàm lượng O2 và CO2

trong khí quyển.

– Hiện tượng thoát hơi nước trong sinh học từ rừng có tác dụng điều tiết

khí hậu, tạo mây, mưa. Rừng tạo ra một tiểu khí hậu có tác dụng tốt đến sức

khỏe con người. Rừng làm giảm nhiệt độ và tăng độ ẩm không khí. Đặc biệt có

nhiều loại cây tiết ra các chất phitonxit có tác dụng diệt khuẩn như thông,

long não, bạch đàn, quế.

Rừng có vai trò bảo vệ nguồn nước, ngăn chặn nước lũ tập trung quá nhanh.

Rừng bảo vệ đất, chống xói mòn, cung cấp hàng loạt chất dinh dưỡng khoáng, mùn

cho đất và do đó làm tăng độ phì của đất.

 4. Trình bày vai trò của biển và đại dương đối với con người

và môi trường.

 

Biển và đại dương có vai trò quan trọng trong chu trình nước, hóa học của

khí quyển, tạo nên khí hậu và thời tiết, là nhân tố góp phần hình thành dải đất

và các quá trình địa mạo, ven bờ và từ lâu đã gắn bó với con người.