Một số đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam. – Nghiên cứu, trao đổi – Trang thông tin tuyên truyền, phổ biến pháp luật

Hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là loại hợp đồng cơ bản nhất trong kinh doanh thương mại. Hợp đồng này xuất hiện rất phổ biến, từ giá trị nhỏ đến rất lớn, ảnh hưởng lớn tới từng doanh nghiệp.

Hoạt động mua bán hàng hóa là một hoạt động trung tâm trong giao lưu thương mại, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Hoạt động này diễn ra hàng ngày, xung quanh chúng ta. Đây là một hoạt động thương mại được diễn ra giữa một bên bán hàng và một bên mua hàng hóa. Trong quan hệ mua bán hàng hóa các bên thường giao kết với nhau bằng các thỏa thuận, điều kiện trong quá trình mua bán. Điều này được thể hiện dưới hình thức pháp lí nhất định là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là loại hợp đồng cơ bản nhất trong kinh doanh thương mại. Hợp đồng này xuất hiện rất phổ biến, từ giá trị nhỏ đến rất lớn, ảnh hưởng lớn tới từng doanh nghiệp. Vậy bản chất của hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là gì? chúng có những đặc trưng cơ bản như thế nào?. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích một số đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam.

1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa

Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận, thống nhất ý chí giữa các bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ mua bán hàng hóa. Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận (Khoản 8 điều 3 Luật thương mại 2005). Hàng hóa thuộc tài sản và có phạm vi hẹp hơn tài sản. Luật thương mại quy định hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản (kể cả động sản hình thành trong tương lai) và những vật gắn liền với đất (Khoản 2 điều 3 Luật thương mại năm 2005). Luật thương mại không định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng có thể xác định bản chất pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại trên cơ sở quy định của Bộ Luật Dân sự về hợp đồng mua bán tài sản. Tại điều 430 Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.

Hợp đồng mua bán nhà ở, mua bán nhà để sử dụng vào mục đích khác được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật nhà ở và luật khác có liên quan”.

Tuy có sự quy định khác nhau giữa hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng mua bán hàng hóa, nhưng bản chất là giống nhau: Người bán phải giao đối tượng được bán và quyền sở hữu đối tượng đó cho người mua và nhận tiền, còn người mua thì nhận đối tượng được mua và trả tiền. Như vậy, có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản, tuy nhiên, trong thương mại, hợp đồng mua bán hàng hóa có những điểm riêng biệt xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa. Từ đó cho thấy, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Điểm phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại và hợp đồng mua bán tài sản là: đối tượng hàng hóa, và mục đích sinh lời.

Căn cứ vào yếu tố chủ thể, đối tượng, nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng mua bán hàng hóa được chia thành hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước và hợp đồng mua bán hàng hóa có yếu tố nước ngoài (hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế). Về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, nó không được định nghĩa trong Luật thương mại 2005, nhưng qua quy định tại Điều 663 Bộ Luật Dân sự 2015 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, có thể suy ra rằng một hợp đồng được coi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khi có một trong các yếu tố sau:

– Căn cứ vào yếu tố chủ thể, hợp đồng được giao kết bởi các bên không cùng quốc tịch.

– Căn cứ vào yếu tố đối tượng, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng đang tồn tại ở nước ngoài.

– Căn cứ vào nơi xác lập và thực hiện hợp đồng, hợp đồng được giao kết ở nước ngoài (nước mà các bên chủ thể giao kết hợp đồng không mang quốc tịch) và có thể được thực hiện ở nước mình hay nước thứ ba.

Điều cần chú ý ở hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là các bên tham gia giao kết hợp đồng sẽ rất dễ gặp phải các rủi ro đặc thù như xung đột pháp luật, do quá trình vận chuyển, thanh toán, thực thi cam kết hợp đồng. Vì vậy, các bên cần thỏa thuận và soạn thảo ra một bản hợp đồng chi tiết. Khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại năm 2005 quy định rằng hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản.

2. Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại

Có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung.

2.1. Đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Thứ nhất, Là hợp đồng ưng thuận – quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thoả thuận với nhau xong về nội dung chủ yếu của Hợp đồng. Trong trường Hợp này, dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết nhưng đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện Hợp đồng. Hay nói cách khác, Hợp đồng ưng thuận là những Hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết.

Thứ hai, có tính đền bù – bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.

Thứ ba, là hợp đồng song vụ – mỗi bên trong hợp đồng đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời lại cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

2.2. Đặc điểm riêng của hợp đồng mua bán hàng hóa

Bên cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán thông thường, hợp đồng mua bán hàng hóa có một số đặc điểm sau:

2.2.1. Về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa: Về chủ thể của hợp đồng. Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Theo quy định tại điều 6 Luật thương mại năm 2005 quy định: thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo Khoản 3 Điều 1 Luật thương mại năm 2005, khi bên không phải là thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa lựa chọn áp dụng luật thương mại.

2.2.2. Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa: hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thoả thuận giữa các bên với nhau, dưới góc độ pháp lý việc tuân thủ hình thức của hợp đồng sẽ là bắt buộc một khi pháp luật có sự ghi nhận về vấn đề đó với mục đích hạn chế các rủi ro cho các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng. Theo quy định Bộ Luật Dân sự 2015 thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể thực hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác định bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Hình thức văn bản bao gồm cả điện báo, telex, Fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác.

Về mặt hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa. Đây là một trong những điều cần lưu ý nhằm tránh làm vô hiệu hợp đồng. Khi nêu căn cứ để xác lập hợp đồng mua bán thì đó phải là những căn cứ đang có hiệu lực. Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết.

Trong một số trường hợp nhất định, pháp luật bắt buộc các bên phải giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản, ví dụ như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế – phải được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương như điện báo, telex, fax hay thông điệp dữ liệu.

Tại điều 24 Luật Thương Mại năm 2005 cũng quy định rõ về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa. “1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó”.

2.2.3. Về đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa: hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Theo Luật thương mại 2005, hàng hóa là đối tượng của quan hệ mua bán có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại.

2.2.4. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa

Nội dung của hợp đồng nói chung là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa.

Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào là tùy thuộc vào quy định của pháp luật từng quốc gia. Việc pháp luật quy định nội dung của hợp đồng mua bán có ý nghĩa hướng các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện và phòng ngừa các tranh chấp có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Luật thương mại Việt Nam không quy định hợp đồng mua bán hàng hóa phải bao gồm nội dung bắt buộc nào. Tuy nhiên, ta có thể thấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm nhận giao hàng cụ thể như sau: 

– Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá: Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá. Hàng hoá là những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thoả mãn nhu cầu của con người. Hàng hoá có thể là vật, là sức lao động của con người, là các quyền tài sản. Khoản 2 điều 3 năm Luật Thương mại năm 2005 đã mở rộng hàng hoá hơn. Theo đó hàng hoá bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, khái niệm về hàng hoá vẫn còn sự hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong quy định này hàng hoá chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình. Như vậy, các loại tài sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ chưa được thừa nhận là hàng hoá.

– Giá hàng hóa: Giá của hợp đồng mua bán hàng hoá là số tiền mà người mua phải trả cho người bán, được các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do người thứ ba xác định theo yêu cầu của các bên. Các bên tự thỏa thuận giá nhưng giá đó phải được xác định và ghi vào hợp đồng (đối với hợp đồng được giao kết dưới hình thức văn bản), các bên có thể xác định giá bằng một lượng tiền chính xác theo một đơn vị cụ thể.

– Phương thức thanh toán: Phương thức thanh toán là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng. Theo quy định tại điều 398 Bộ Luật Dân sự năm 2015, thì phương thức thanh toán do các bên thỏa thuận. Bởi phương thức thanh toán rất đa dạng như thanh toán trực tiếp, chuyển tiền, nhờ thu, ghi sổ, … Vì thế, bên bán và bên mua có thể thỏa thuận áp dụng phương thức thanh toán nào mà mình cho là tiện lợi, dễ dàng và phù hợp với tính chất của hợp đồng. Tuy nhiên, tại điều 433 Bộ Luật Dân sự năm 2015 có quy định thêm trường hợp pháp luật quy định phương thức thanh toán phải theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì thỏa thuận của các bên phải phù hợp với quy định đó.

– Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá : Thời hạn thực hiện hợp đồng là một trong những nội dung cơ bản của hợp đồng, vì nó có liên quan đến vấn đề thực hiện hợp đồng và trách nhiệm dân sự của các bên, nên thời gian phải được xác định một cách cụ thể. Chính vì vậy, tại khoản 1 điều 434 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định rất rõ ràng. “Thời hạn thực hiện hợp đồng mua bán do các bên thỏa thuận. Bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý.”. Điều này có nghĩa, các bên có thể thực hiện hợp đồng mua bán ngay sau khi giao kết hợp đồng hoặc một thời gian sau đó.

– Chất lượng của tài sản mua bán hàng hoá: Chất lượng hàng hoá là vấn đề quan tâm của các bên khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Hàng đúng chất lượng phải đảm bảo khả năng sử dụng, bảo đảm đúng phẩm chất, bao bì đóng gói, quy cách, chủng loại của sản phẩm theo tiêu chuẩn hoặc theo sự thoả thuận của các bên.

– Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá : Căn cứ vào việc thực hiện hợp đồng của các bên mà Bộ Luật Dân sự năm 2015 có các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, nhằm đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa. Quyền và nghĩa vụ của bên bán: Quyền của bên bán chủ yếu xoay quanh quyền được bên mua thanh toán. Bên bán có quyền nhận tiền bán hàng theo thỏa thuận  trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Nếu bên bán chậm nhận được hoặc không nhận được tiền bán hàng do lỗi của bên mua thì bên bán có quyền áp dụng các biện pháp do Luật Thương mại năm 2005 quy định để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình. Theo điều 306 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”

 Như vậy trong trường hợp bên mua vi phạm hợp đồng bên bán có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, bên bán có thể áp dụng các biện pháp chế tài theo Luật Thương mại năm 2005.

Bên bán có nghĩa vụ cơ bản là: nghĩa vụ giao tài sản và nghĩa vụ đảm bảo quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua bán. Bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua đúng thời hạn đã thỏa thuận; bên bán chỉ được giao tài sản trước hoặc sau thời hạn nếu được bên mua đồng ý (Khoản 1 Điều 434 Bộ Luật Dân sự năm 2015). Ngoài ra, bên bán phải giao tài sản cho bên mua đúng số lượng, đồng bộ, đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng. Nếu bên bán vi phạm thì bên bán phải chịu trách nhiệm và có nghĩa vụ:

Quyền và nghĩa vụ của bên mua: hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá là một hợp đồng song vụ. Vì thế, mỗi bên chủ thể tham gia vừa là người có quyền vừa là người có nghĩa vụ. Do vậy, trong hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá, quyền của chủ thể tham gia đối lập tương ứng với nghĩa vụ của chủ thể tham gia hợp đồng kia và ngược lại. Như vậy, quyền của bên bán sẽ là nghĩa vụ của bên mua và nghĩa vụ của bên bán sẽ là quyền của bên mua. Nhận hàng là một nghĩa vụ pháp lý của người mua mà việc vi phạm nghĩa vụ đó có thể kéo theo một số hậy quả pháp lý được quy định trong Luật Thương mại năm 2005. Nếu người bán đã sẵn sàng giao hàng mà người mua không nhận thì người bán phải có nghĩa vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo quản tài sản và yêu cầu bên mua thanh toán chi phí hợp lý. Người mua phải chịu rủi ro từ thời điểm chậm tiếp nhận hàng. Luật Thương mại năm 2005 đã bổ sung Điều 56 về nghĩa vụ nhận hàng của bên mua nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên bán: “Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng”. Người mua phải thanh toán tiền mua hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu người mua chậm thanh toán tiền thì người bán có quyền đòi tiền lãi trên số tiền trả chậm theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả. Nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc pháp luật không quy định khác.  

– Hình thức của hợp đồng mua bán hàng hóa : Hình thức của hợp đồng là sự biểu hiện ra bên ngoài của nội dung hợp đồng, gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện để thể hiện và công bố ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng và là biểu hiện cho sự tồn tại của hợp đồng. Theo Điều 24 của Luật Thương mại năm 2005, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể. Tuy nhiên, đối với những trường hợp pháp luật quy định phải lập thành văn bản thì bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải tuân theo. Ví dự như đổi với hợp đồng mua bán hàng hóa đặc biệt như vật gắn liền với đất đai (nhà cửa, cây cối, công trình xây dựng) thì còn chịu sự điều chỉnh của Luật đất đai 2013 và Luật nhà ở 2014.   

– Thực hiện chuyển quyền sở hữu và thời điểm chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa :Đặc trưng của hợp đồng mua bán hàng hóa đó là sự chuyển quyền sở hữu từ bên bán sang bên mua. Nội dung này được quy định cụ thể tại điều 62 Luật Thương mại năm 2005.  Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá

Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao”.

 Đây là quy định quan trọng, nhằm xác định thời điểm kết thúc quyền sở hữu đối với tài sản của một chủ thể và bắt đầu quyền sở hữu đối với cùng một tài sản đó của một chủ thể khác (từ thời điểm được pháp luật công nhận bắt đầu quyền sở hữu, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm về tài sản của mình). Vì vậy, xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá của hợp đồng mua bán hàng hóa là việc rất cần thiết. Trong thực tiễn mua bán hàng hóa có thể xảy ra những sự kiện khách quan làm mất mát, hư hỏng hàng hóa như bị trộm cắp, do thiên tai, địch họa… Trong những trường hợp đó, yêu cầu rất quan trọng đặt ra là phải xác định trách nhiệm gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa. Về nguyên tắc chung, việc xác định trách nhiệm rủi ro đối với hàng hóa trước hết cần căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng. trong trường hợp các bên không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của pháp luật. Luật Thương mại năm 2005 quy định về cách xác định trách nhiệm về rủi ro đối với hàng hóa như sau:

Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định (điều 57 Luật Thương mại năm 2005): Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá.

Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định (điều 58 Luật Thương mại năm 2005): Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển (điều 59 Luật Thương mại năm 2005): Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây: Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá; Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.

Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển (điều 60 Luật Thương mại năm 2005): Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.

Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác (điều 61 Luật Thương mại năm 2005): Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định như sau: ngoài các trường hợp đã phân tích ở trên thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng; Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào khác.

Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ bị ràng buộc bởi những điều khoản đã thỏa thuận với nhau mà còn chịu sự ràng buộc bởi những quy định của pháp luật, tức là những điều khoản pháp luật có quy định nhưng các bên không thỏa thuận trong hợp đồng. Từ những phân tích trên chúng ta thấy được những đặc trưng của loại hợp đồng mua bán hàng hóa để từ đó nghiên cứu khi xây dựng các thỏa thuận hợp đồng trên cơ sở các quy định khung của pháp luật để tránh các tranh chấp phát sinh khi khi thực hiện hợp đồng.

 

Lê Tâm