Khai quat v tam ly hc hanh vi – Khái quát về tâm lý học hành vi Chương I: Khái quát về Tâm lý học – Studocu

Khái quát về tâm lý học hành vi

Chương I: Khái quát về Tâm lý học hành vi.

I. Lịch sử hình thành.

Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, hình thành hai xu hướng duy tâm chủ quan và duy
tâm khách quan đã tạo nên sự khủng hoảng trong tâm lý học thời kỳ ấy. Trước đòi hỏi của
cuộc sống và sự vận động của bản thân khoa học, càng ngày ý đồ tiếp tục phát triển tâm lý
học trong khuân khổ của tâm lý học duy tâm càng tỏ rõ sự thất bại.
Chính vì thế, cần thiết tìm ra một con đường mới về nguyên tắc để xây dựng khoa học tâm lý.
Dựa trên quan điểm triết học thực chứng của� Comte (1798 – 1857),� chủ trương mọi lập
luận phải được xây dựng trên cơ sở những chứng cứ khách quan, quan sát được, những thành
tựu của các nhà sinh lý học thần kinh và tâm lý học động vật. J. Watson (1878 – 1958) – một
nhà tâm lý học người Mỹ đã hình thành trường phái tâm lý học hành vi� – một khoa học về
hành vi. Các nhà nghiên cứu có xu hướng duy vật trong tâm lý học đã đi theo con đường này.
Và nhờ có cuộc đấu tranh tích cực của Watson và những nhà hành vi mà hành vi đã trở thành
đối tượng chủ yếu và duy nhất của tâm lý học, góp phần xứng đáng xây dựng tâm lý học
khách quan.

Tâm lí học hành vi, với những đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lí học kiệt xuất: J Watson
(1878 – 1958), E (1886 – 1959), E.L (1874 – 1949), B.Phơ (1904 –
1990)… Các nhà tâm lí học theo hướng tiếp cận hành vi phủ nhận việc nghiên cứu ý thứ con
người.

II. Sự phân hóa trong Tâm lý học hành vi.

Năm 1913, tập san tâm lý học Mỹ in bài báo của Watson “Tâm lý học dưới con mắt nhà hành
vi”, là phần đầu bài giảng của ông tại trường Đại học Colombia năm 1912, sự kiện này được
coi như mốc hình thành tâm lý học hành vi. Về sau các quan điểm trình bày trong bài báo còn
được ông đưa ra trong một loạt các công trình từ năm 1913 đến 1930.

Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J. Watson đã dẫn đến phân hoá trường
phái tâm lí học này thành 3 nhánh:

  1. Tâm lí học hành vi bảo thủ, trung thành với các luận điểm ban đầu, có tính cơ giới về hành
    vi trí tuệ con người của J. Watson (thuyết kích thích – phản ứng: S – R), đại biểu là Skinnơ.
  2. Tâm lí học hành vi mới, có ý đồ nghiên cứu cả các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ
    đồ S – R, yếu đố đó chính là quá trình nhận thức (thuyết S – S), đại biểu là E.
  3. Tâm lí học hành vi chủ quan (thuyết “TOTE” – chữ đầu của các từ tiếng Anh. T: Test, O:
    Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử – thao tác – thử – thoát ra). Đại diện thuyết TOTE là
    O. Mille, Galanter, Pribram.

Sự khác nhau giữa các thuyết trên tập trung vào 3 điểm sau:

  • Thứ nhất: nhân tố phát động 1 hành vi. Thuyết hành vi cổ điển cho rằng các phản ứng bên
    ngoài là nhân tố phát động hành vi của con người và con vật. Theo TOTE, nhân tố phát động
    hành vi của con người và con vật là quá trình ở trung ương thần kinh, trí nhớ, tâm thế, sự
    mong đợi…
  • Thứ hai: kết quả học tập. Thuyết (S – R) quan niệm kết quả học tập là kỹ xảo (trật tự nào đó
    của các cử động). Còn theo thuyết (S – S), kết quả học tập là “các cấu trúc nhận thức” (hay là
    sự phản ánh một tình huống nào đó).
  • Thứ ba: phương pháp ứng xử. Thuyết (S – R) cho rằng phương thức thích ứng là “thử và
    sai”, còn theo thuyết (S – S), tính chất và thành công của các hành vi phụ thuộc vào cấu trúc

của tình huống khách quan quy định. Vì vậy, tổ chức (cấu trúc) tình huống quy định sự hoạt
hoá của cá thể, nó quy định sự nắm bắt các quan hệ bản chất của tình huống. Ngược lại,
thuyết TOTE, đề cao hình ảnh, kế hoạch của các phản ứng. Nói các khác, theo TOTE, những
kinh nghiệm, tri thức đã có về hành vi, sự chỉ dẫn quá trình tiến hành hành vi đó sẽ quy định
chất lượng của hành vi ứng xử.

Chương II: Tâm lý học hành vi cổ điển.

I. Những cương lĩnh đầu tiên của thuyết hành vi.

Những cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa hành vi do Watson xây dựng lên, sau đây là nội
dung cụ thể của những cương lĩnh ấy:

  1. Tâm lý học hành vi tuyên bố không quan tâm đến việc mô tả, giảng giải các trạng thái tâm
    lý của ý thức mà chỉ quan tâm đến hành vi của tồn tại người, đối tượng của tâm lý học hành vi
    là hành vi con người. Hành vi được xem là tổ hợp các� phản ứng của cơ thể trước các kích
    thích của môi trường bên ngoài.
  2. Theo Watson có 4 loại hành vi: hành vi bên ngoài, hành vi bên trong, hành vi tự động minh
    nhiên và hành vi tự động mặc nhiên. Theo ông, mọi việc con người làm kể cả suy nghĩ đều
    thuộc một trong bốn loại hành vi này. Nghiên cứu dùng các phương pháp khoa học khách
    quan, sử dụng phương pháp ghi chép các sự kiện kiểm soát được về quá trình cơ thể, thích
    nghi với môi trường.
  3. Trong tâm lý học hành vi cổ điển, hành vi của động vật và người bị giản đơn hóa thành
    những cử động cơ thể. Nhờ những cử động đó với tính cách là “một cơ quan biết phản ứng”
    hay “một hệ thống vật lý” thích nghi với môi trường để đảm bảo sự sống còn. Quan sát cũng
    như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S – R.� Trong đó S là kích thích, R là
    phản ứng. Kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện
    bên trong nào đó của sinh vật, phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và nó bao gồm rất
    nhiều thứ.
  4. Với công thức S – R, Watson đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao cả là điều khiển hành
    vi động vật và con người. Lấy nguyên tắc “thử – sai” làm nguyên tắc khởi thuỷ điều khiển
    hành vi. Hành vi chỉ là mối liên hệ trực tiếp “cơ thể – môi trường”; theo đó, tâm lý, ý thức
    chẳng qua chỉ là những hiện tượng thừa. Tâm lý học với tư cách là khoa học về khoa học về
    hành vi có trách nhiệm vứt bỏ toàn bộ các thuật ngữ của tâm lý học cấu trúc và tâm lý học
    chức năng như ý thức, trạng thái và quá trình ý thức, lý trí và hình ảnh…

Do lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu và dùng phương pháp khoa học tự nhiên, tâm lý học
lần đầu tiên có dáng dấp tâm lý học khách quan.

II. Hành vi và con người.

Nghiên cứu hành vi của con người, điều ấy có nghĩa là đưa cuộc sống của con người trở thành
đối tượng của tâm lý học. Chẳng cần phải nói, ai cũng có thể thấy hành vi là cái gì và nó tồn
tại trong hiện thực một cách khách quan. Nếu như trong tâm lý học truyền thống chỉ tìm hiểu
nội quan thì tâm lý học hành vi lại là một bước tiến đáng kể, nghiên cứu nguồn gốc sinh ra
“tâm hồn”, “hồn”, “tâm lý”. Khái niệm hành vi được xây dựng trên nền móng của sự chứng
thực có thể quan sát từ phía ngoài.

Tâm lý (của cả người và con vật ) chỉ là các dạng hành vi khác nhau. Hành vi là tập hợp các
phản ứng ® của cơ thể đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài (S). Nhiệm vụ của nhà
tâm lí học là mô tả và lượng hoá các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong tình huống xác

cả những cái di truyền lẫn những cái tự tạo làm đối tượng nghiên cứu. Đây chính là việc
nghiên cứu con người từ khi bào thai cho đến khi chết. Hành vi được coi là mối liên hệ trực
tiếp giữa kích thích và phản ứng đáp lại kích thích ấy. Kích thích thuộc về thế giới tác động,
còn hành vi là do cơ thể làm ra. Watson định nghĩa con người là “tồn tại xã hội”, đó là cơ thể
làm việc và nói năng phải thích nghi với môi trường xung quanh; từ đó tạo ra một tổ hợp phản
ứng phức tạp, tổ hợp lại thành các tập hợp phản ứng, và với các nhà hành vi cổ điển thì các
tập hợp ấy được thực hiện chung bởi hệ thống chung của các kỹ xảo. Chính vì thế mà Watson
coi con người như là “một cơ thể phản ứng” hay là “một cái máy sinh học nghiêm túc”, “một
cái máy hữu cơ nghiêm túc, sẵn sàng hoạt động”, đó là những duy vật máy móc về con người.

Các nhà hành vi chủ nghĩa coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên
ngoài trong việc tạo ra các phản ứng. Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành
vi trí tuệ (cho cả động vật và con người) được quy về việc nghiên cưu tạo ra môi trường các
kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá
trình “điều kiện hoá hành vi”.
Watson phát biểu: “hãy cho tôi một tá trẻ em khỏe mạnh và bình thường và một ngôi trường
chuyên biệt mà ở đó tôi có thể giáo dục chúng, thì tôi bảo đảm bất kỳ một em nào trong đó
cũng có thể trở thành bác sĩ, một luật gia, một nghệ sĩ, một cửa hàng trưởng, thậm chí nếu các
bạn muốn, một người cục cằn hoặc một tên kẻ cắp không cần kể đến tài năng, xu hướng, chí
hướng, nguyện vọng và dòng giống ông cha”. Ông muốn thực hiện một trong những nhiệm vụ
hàng đầu của tâm lý học là điều khiển hành vi con người sao cho thỏa mãn nhu cầu của xã
hội. Với Watson, “con người được xây dựng nên, chứ không phải tự sinh ra”. “Nhân cách là
sự sáng tạo của con người, chứ không phải là so trời phú cho”. Ngôn ngữ và tư duy chỉ là các
dạng kỹ năng, cơ sở của kỹ năng là những cở động giản đơn hay còn gọi là bẩm sinh. Kỹ xảo
được giữ gìn trong trí nhớ.

Chương III: Chủ nghĩa hành vi mới.

I. Lịch sử xuất hiện.

Vào ngay những năm đầu của thập kỷ thứ ba thế kỷ XX đã bắt đầu xuất hiện khủng hoảng
tâm lý học kiểu Watson.

Các đại biểu xây dựng lên thuyết hành vi mới là E (1886-1959), K (1884-1952).
Thuyết hành vi mới ở chỗ, trong công thức S-R truyền thống, những nhà hành vi mới đưa
thêm vào các biến số trung gian làm khâu gián tiếp dẫn đến các kích thích và phản ứng.

Theo chủ nghĩa hành vi mới, năm 1922, trong “Công thức mới của thuyết hành vi” đã cho
rằng “tâm lý học hành vi S-R” thuần túy của Watson chỉ là sinh lý học về hành vi, vì thế đã đề
ra “thuyết hành vi không sinh lý học” và gọi nó là “thuyết hành vi mới”. Năm 1929, báo cáo
“giải thích phản xạ có điều kiện theo chức năng” của Hull đưa ra đã tạo thêm điều kiện thúc
đẩy thuyết hành vi mới phát triển.

Theo chủ nghĩa hành vi mới, các biến số trung gian hiểu theo tinh thần thuyết tạo tác, cụ thể là
các kiến tạo lý luận có khả năng xác lập các quy luật chủ yếu của hành vi. Chính nhờ các
“kiến tạo lý luận”, “các yếu tố trung gian”, “các biến số can thiệp” và dùng các thuật ngữ của
tâm lý học chủ quan mà có thể phân tích một cách khoa học các sự kiện thu thập được và giải
thích chúng một các chính xác, nhờ vậy, theo các nhà hành vi mới đã định, có thể đưa thuyết
hành vi ra khỏi tình trạng khủng hoảng.

II. Lý thuyết của Tolman.

Theo Tolman, thuyết hành vi cùng lúc có mấy tên gọi: thuyết hành vi tổng thể, thuyết hành vi
có ý định, thuyết hành vi tạo tác. Lý thuyết của Tolman là sự hỗn hợp của thuyết hành vi,
thuyết Ghestan, thuyết tạo tác, thuyết ý định.

Theo ông, hành vi của cơ thể là tổng hòa chứ không phải là từng trả lời của cơ thể. Các cử
động hành vi có cả các sự kiện vật lý và sinh học, cũng như những thuộc tính cá nhân của bản
thân. Hành vi là một động tác trọn vẹn có một loạt các thuộc tính: tính định hướng tới mục
đích, tính dễ hiểu, tính linh hoạt, tính so sánh. Tolman hình thành học thuyết về “các biến số
trung gian” với tư cách là khâu trung gian can thiệp vào sơ đồ S-R. Trong học thuyết này bao
gồm toàn bộ thực chất của tâm lý học khách quan và hành vi chủ nghĩa.

Hành vi theo Tolman là các cử động hành vi chứ không phải là những trả lời trực tiếp đối với
các kích thích. Hành vi đáp lại bao giờ cũng nhằm tới các khách thể chuyên biệt có lợi cho cơ
thể, các khách thể này là mục đích của cơ thể. Tolman gọi khả năng tiếp thu là khả năng định
tính chủ ý, ông cho rằng có thể có tính chủ ý mà không có khả năng tiếp thu đi theo. Tính chủ
ý là một hiện tượng trong hành vi và là hiện tượng cơ bản hơn khả năng tiếp thu, tính chủ ý
dường như là vốn tự có trong bản thân cơ thể. Tolman phủ nhận tiêu chuẩn chủ quan ý định,
tính chất chủ quan thể hiện ở chỗ thấy trước cử động cuối cùng. Trong hệ thống của ông, cái
gọi là tính tích cực chỉ là tính kiên trì đạt tới mục đích, và tính tích cực này được xem xét
trong mối quan hệ nhân quả với khách thể – mục đích.

Ông đưa ra hai loại biến số để làm cái quy định hành vi:

  1. Các biến cố xa hay biến số khởi thủy: bao gồm các kích thích từ ngoại giới vào các trạng
    thái sinh lý ban đầu: Chế độ sử dụng(M); hình loại và dạng thức các kích thích có dự kiến
    trước cho phù hợp với khách thể – mục đích(G); Các loại hình của những trả lời vận động cần
    thiết®; Bản chất tổng hòa và số lần thử cần thiết để đạt tới mục đích đúng(∑OBO). Ngoài S,
    M và G cũng đều là kích thích quy định hành vi.
  2. Các biến số thường xuyên bao gồm các biến số trung gian và các biến số can thiệp.
    Theo ông, các cử động hành vi bao giờ cũng phải dựa vào ‘những điểm tựa vật thể”. Điều đó
    có nghĩa là mọi cử động hành vi diễn ra dưới dạng vận động đều sẽ vô nghĩa, nếu như đặt
    chúng ra ngoài các thuộc tính vật lý của một nơi chốn nào đó. Quá trình phân biệt và quá trình
    cầm nắm sự vật được xem như là các quá trình hình thành cử động hành vi chờ đợi hay yêu
    cầu, quá trình này được hình thành do có học tập trước đó. Cả sự chờ đợi lẫn các giả định mà
    ông quan sát thấy đều dựa vào các vật thể, các vật thể này làm vai trò chỉ dẫn nhằm thỏa mãn
    nhu cầu cơ thể.

Theo Tolman, hành vi được xem xét trong mối quan hệ nhân quả trực tiếp “thông số độc lập –
thông số phụ thuộc”. Điều này phản ánh trong sơ đồ hành vi do dộng vật tạo ra dưới góc độ
lựa chọn:

Thông số độc lập – thông số trung gian – thông số phụ thuộc – hành vi

Các thông số này được đưa vào với tư cách là các kiến tạo lý luận để giải thích các sự kiện
thấy được bằng quan sát trực tiếp. Hệ thống của Tomal hạn chế ở chỗ, nó hoàn toàn tập trung
chú ý vào ý định và nhận thức, và quẳng mất các quá trình thần kinh diễn ra trong não và
không do quan sát mà thấy được.
Tolman sinh vật hóa toàn bộ hoạt động của con người, giải thích tất cả các động cơ của hoạt
động này bằng các loại nhu cầu khác nhau, và các loại nhu cầu cuối cùng được quy về nhu

của các thử nghiệm khác nhau.

Hành vi chủ quan coi hành vi của con người một cách phi xã hội, quan niệm về con người phi
lịch sử – đặc trưng đã làm cho hành vi chủ quan không phát hiện ra thực chất về tâm lý con
người và chức năng thực sự của tâm lý trong cuộc sống, trong hoạt động của con người.

Chương IV: Thuyết hành vi xã hội và Tâm lý học hành vi
tạo tác của Skinner

Skinner là một đại biểu tiêu biểu nhất của một trong các xu thế của thuyết hành vi cấp tiến.
Skinner đổi mới thuyết hành vi cũ của Watson, hình thành thuyết hành vi tạo tác của mình,
thực nghiệm trong cái hộp chứ danh đã khiến ông “hành vi hóa” được quan niệm về con
người và hành vi người và xã hội. Một phần đó đã tạo nên thuyết hành vi xã hội của Skinner.
Skinner đã hình thành tư tưởng “công nghệ hành vi”, ông đưa ra triết lý “hãy vứt bỏ tự do và
nhân phẩm” và nó đã trở thành cơ sở của toàn bộ thuyết hành vi xã hội của ông.

I. Tạo tác.

Skinner vẫn trung thành đi theo chủ nghĩa hành vi cổ điển của Watson, nhưng ông đã có thay
đổi đôi chút. Trong hệ thống của skinner, hành vi có một đặc điểm mới và một tên gọi mới là
“tạo tác”. Nó có ba dạng: hành vi vô điều kiện, có điều kiện và hành vi tạo tác. Ba loại này có
ba cơ sở tương ứng là: bẩm sinh, phản xạ có điều kiện và quá trình điều kiện tạo tác.

Theo “tạo tác”, nhiều trả lời do cơ thể làm ra không phải do một kích thích không điều kiện
nào đó gây ra, mà do từ cơ thể phóng ra, đáp ứng những kích thích kiểu đó, Skinner gọi là S.
Còn trong trường hợp hành vi tạo tác, thì cơ thể khi vào một hoàn cảnh nào đó sẽ có những
tạo tác (cử động) ngẫu nhiên, trong đó cái đúng sẽ được củng cố, và các phản ứng kiểu đó
skinner gọi là R và được gọi là hành vi tạo tác. Với loại S, một kích thích này được thay bằng
một kích thích khác là ở chỗ tín hiệu hóa, và trong tạo tác cũng thay thế, nhưng không có quá
trình tín hiệu hóa, loại kích thích R không chuẩn bị để nhận một kích thích củng cố mà tạo ra
kích thích củng cố. Và đây là một ý kiến có ý nghĩa. Và trong luận điểm của Skinner, cơ sở
của hành vi có cùng một nguyên tắc hoạt động phản xạ của hệ thần kinh. Từ đây chính thức
đưa phản xạ trong thuyết hành vi thành một đơn vị phân tích để nghiên cứu hành vi một cách
trực quan.

Theo Skinner, cơ thể con người luôn nằm trong vòng của kích thích củng cố và chỉ có thể.
Đây là một cái nhìn tiêu cực hay nói cách khác là mù quáng trong cách nhìn của ông.

Tạo tác là mối liên hệ chức năng giữa các tác động trực tiếp vào cơ thể và các cử động trả lời
trực tiếp nhằm tránh những củng cố âm và nhận những củng cố dương.

II. Các luận điểm chính của Skinner.

  1. Cơ thể

Cơ thể theo Skinner được hiểu như là cái tạo ra một hành vi tạo tác nào đó tương ứng với một
hoàn cảnh nào đó. Với ông, con người và động vật không có một sự khác biệt nào cả như theo
thuyết hành vi cổ điển, vì thế mà mang những kết luận thu được ở động vật áp dụng vào con
người. Đây là một luận điểm sai lệch hoàn toàn và nó cũng là một trong những nguyên nhân
rất lớn đẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa hành vi.

Cơ thể là một con người thực hiện một loại hành vi đồng bộ, trong đó có cả hành vi ngôn ngữ
và các loại hành vi khác. Cơ thể vừa đóng vai trò kích thích, vừa là một củng cố. Với ông,
quan hệ qua lại giữa người với người chỉ là quan hệ qua lại giữa một cơ thể với một cơ thể
khác, và luận điểm này thống trị trong suốt thời kỳ tồn tại của chủ nghĩa hành vi. Và đây là
một khuyết điểm nữa của Skinner. Theo ông, con người chỉ là cơ thể cá thể, kẻ mang quá trình
hành vi được hình thành nhờ có hoàn cảnh tác động, trong đó có cả môi trường; ông còn phân
biệt ra môi trường vật lý và môi trường sinh vật. Skinner đã hành vi hóa tất cả quá trình và
thuộc tính tâm lý người, kết quả, con người chỉ là một hệ thống tạo ra được hành vi, hệ thống
ấy không có lý tưởng, không có mục đích, không có kế hoạch… Tôi thực sự phê phán ý đồ
hành vi hóa ấy, và xã hội cũng đã chứng minh những luận điểm sai lầm của Skinner nói riêng
và chủ nghĩa hành vi nói chung.

  1. Văn hóa

Khái niệm văn hóa là một trong những khái niệm cơ bản tạo dựng nên thuyết hành vi xã hội
của Skinnner. Trong việc hình thành hành vi người, văn hóa có vai trong quyết định. Theo
ông, văn hóa không phải là cốt lõi của tri thức, không phải là tổ hợp hay dòng tư tưởng, không
phải là chiều hướng suy nghĩ dễ xảy ra nhất, không phải là kết quả của mọi thành tựu hay tư
liệu cần thiết cho sự suy nghĩ. Văn hóa – ấy là môi trường xã hội, rồi đến với cá thể nó sẽ quy
về hoàn cảnh xã hội, mà đó là một mớ ngẫu nhiên được củng cố mà người này được nhận từ
người kia.

Văn hóa nằm ngoài hành vi của cá thể, và cá thể ủng hộ văn hóa bằng thực tiễn của mình, văn
hóa bao gồm các hành động của người khác. Hành vi do hoàn cảnh tạo ra, đó là tư tưởng của
nền văn hóa, các củng cố xuất hiện trong đó chính là giá trị của văn hóa.

Hành vi tốt, hành vi xấu, đúng hay sai không quy vào lòng tốt hay ác ý, không quy về tính
cách tốt hay xấu không quy về những tri thức về cái đúng cái sai. Mà nó được quy về các
hoàn cảnh bao gồm một số lớn các củng cố bằng lời nói ngôn ngữ khai quá “tốt”, “xấu”,
“đúng”, “sai”. Điều này khiến con người có thể rũ bỏ mọi trách nhiệm về hành vi của mình,
đồng thời vứt bỏ mọi quan niệm về đạo đức ra người thực tế. Theo nguyên tắc phản ứng của
Skinner, con người trở thành con rối, tất thảy chỉ thực hiện hành vi của môi trưởng mà thôi.
Cuộc sống thực chỉ cần các hoàn cảnh như: thực phẩm, nước, các kích thích ngôn ngữ… chứa
đựng các củng cố đối với hành vi tạo tác của cá thể. Skinner còn nói, “đấu tranh giai cấp là
một con đường con người kiểm tra con người một cách thô bạo”.

  1. Công nghệ hành vi.

Trong học thuyết tạo tác của mình, Skinner lập ra mộ loại quy trình “công nghệ hành vi”. Đây
là bước cuối cùng trong việc hành vi hóa con người. Quy trình của công nghệ hành vi là do
cuộc sống của con người và xã hội quy định. Đây là một lập luận chính xác.

Theo lý thuyết của Skinner, công nghệ hành vi là:
a. Quan niệm con người trước hết là cơ thể cá thể hay một hệ thống vật lý với nghĩa là một hệ
thống phức tạp, hệ thống này tiến hành hành vi theo một cách nhất định.
b. Công cụ trung tâm là khái niệm tạo tác.
c. Phân tích chức năng là phương pháp xây dựng và vận hành của công nghệ hành vi. Cái tôi
là một chương trình hành vi phù hợp với hoàn cảnh mà “tôi” có. Sơ đồ của nguyên tắc này
vẫn là S-R
d. Cơ chế của tất cả các quá trình công nghệ hành vi người nằm trong sự kiểm tra chế độ củng
cố.
e. Về mặt đạo đức, công nghệ hành vi mang tính trung lập, tức toàn bộ thực chất của tất cả các

trong việc xây dựng tâm lý học khách quan.

Lần đầu tiên trong lịch sử tâm lý, tâm lý học hành vi đưa hành vi con người, đời sống xã hội
của con người trở thành đối tượng của tâm lý học. Kiên quyết chông lại những trường phái
tâm lý học duy tâm trước đó. Xây dựng một lý thuyết tâm lý học khách quan hoàn toàn mới.

Bên cạnh đó, chủ nghĩa hành vi đã đưa ra nhiều lập luận có giá trị cho việc giáo dục, đào tạo
con người. Đưa ra những luận điểm có ý nghĩa trong việc xây dựng tâm lý học xã hội, nghiên
cứu hành vi của con người.
Đặc biệt, học thuyết hành vi đã được nghiên cứu và áp dụng rất thành công trong tâm lý học
hiện đại khi được chỉnh sửa và kết hợp với những trường phái khác. Đóng góp rất lớn trong tư
vấn tâm lý: tiếp cận thân chủ, trị liệu hành vi, trị liệu tâm lý, quản lý nhân sự, điều hành con
người, phương pháp giáo dục..ị liệu hành vi được ứng dụng khá rộng rãi trong trị liệu,
tham vấn, đặc biệt với với những người mong muốn thay đổi hành vi không phù hợp. Những
trường hợp thường được sử dụng trị liệu hành vi có hiệu quả cao như: rối loạn ám sợ; stress,
trẻ em với những rối nhiễu tâm lý, cảm giác tuyệt vọng; rối nhiễu tình dục… Người ta hay sử
dụng nó trong những vấn đề liên quan đến lão khoa, nhi khoa, hoá giải stress, điều chỉnh hành
vi. Trong một số lĩnh vực khác như kinh doanh quản lý hay giáo dục cũng có thể sử dụng liệu
pháp này. Thời gian can thiệp bằng liệu pháp này không dài nhưng có thể đem lại những kết
quả mong muốn do vậy nó được ứng dụng rộng rãi.