Giáo trình giáo dục học mầm non | Xemtailieu

Giáo trình giáo dục học mầm non

  • doc

  • 297

    trang

GIÁO TRÌNH GIÁO DỤC HỌC MẦM NON

GIÁO TRÌNH

GIÁO DỤC HỌC MẦM NON

(Dành cho hệ Cao đẳng Sư phạm Mầm non)

Tác giả: Đinh Văn Vang

Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG CỦA GIÁO DỤC HỌC

MẦM NON

I. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA GIÁO DỤC HỌC

MẦM NON

“Giáo dục học là khoa học về lí luận và thực tiễn nhằm nghiên cứu

những vấn đề cơ bản như giáo dục, giáo dưỡng, dạy học…”

Như vậy, có thể hiểu một cách khái lược nhất: Giáo dục học là khoa

học về giáo dục con người. Giáo dục học mầm non là một bộ phận, một

chuyên ngành của giáo dục học. Với tư cách là một khoa học, Giáo dục học

mầm non có đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu đặc trưng của

nó.

1. Đối tượng của giáo dục học mầm non

Con người là đối tượng của nhiều ngành khoa học (triết học, văn học,

sử học, xã hội học, sinh lí học, tâm lí học…), trong đó, con người cũng chính

là đối tượng của giáo dục.

Giáo dục học mầm non nghiên cứu bản chất của quá trình hình thành

nhân cách trẻ em. Trên cơ sở đó xác định mục đích, mục tiêu giáo dục, xây

dựng nội dung, chỉ ra phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục thích hợp

nhằm tổ chức tối ưu quá trình hình thành nhân cách trẻ em trong điều kiện và

hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Như vậy, đối tượng của giáo dục học mầm non chính là quá trình giáo

dục trẻ em từ 0– 6 tuổi, được tổ chức và thực hiện một cách có ý thức, có kế

hoạch nhằm hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầu về nhân cách con người

phát triển toàn diện.

2. Nhiệm vụ của giáo dục học mầm non

Giáo dục học mầm non có nhiệm vụ nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn

đề cơ bản sau đây:

 Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo

dục trẻ từ 0– 6 tuổi.

– Xây dựng hệ thống các nguyên tắc giáo dục mầm non.

 Tổ chức các hoạt động giáo dục trong các cơ sở giáo dục mầm non.

– Tìm ra phương hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của quá trình

giáo dục trẻ em.

Ngày nay đường lối đổi mới giáo dục trong thời kì công nghiệp hoá,

hiện đại hoá đất nước đã vạch ra cho khoa học giáo dục nói chung và giáo

dục học mầm non nói riêng những nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu phù hợp,

đáp ứng các yêu cầu xây dựng và phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

Theo xu thế phát triển chung, giáo dục học mầm non cần nghiên cứu

bổ sung, hoàn chỉnh các vấn đề lí luận cũng như thực tiễn giáo dục mầm non,

đảm bảo vừa có giá trị định hướng, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển của hoạt

động giáo dục mầm non theo hướng đa dạng hoá, xã hội hoá, tạo điều kiện

để hoạt động giáo dục mầm non đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội và

có cơ sở, có điều kiện hội nhập, tham gia vào hoạt động giáo dục mầm non

trên thế giới và khu vực.

Sau đây là một số định hướng nghiên cứu của khoa học giáo dục mầm

non trong giai đoạn hiện nay:

– Nghiên cứu tổng thể hiện trạng giáo dục mầm non ở từng khu vực để

đánh giá chính xác tình hình, có giải pháp từng bước giải quyết các mâu

thuẫn, bất cập.

 Nghiên cứu hoàn thiện mục tiêu giáo dục mầm non, đáp ứng yêu cầu

của xã hội trong giai đoạn đổi mới.

 Nghiên cứu nhu cầu của xã hội đối với giáo dục mầm non trong tình

hình hiện nay và xu thế phát triển của nó.

– Nghiên cứu các loại hình giáo dục mầm non, xu thế và khả năng phát

triển của loại hình công lập, bán công, dân lập, tư thục ở từng khu vực.

Nghiên cứu các mô hình khả thi đặc trưng, thích hợp cho từng vùng, miền.

– Nghiên cứu các giải pháp phát triển giáo dục mầm non ở nông thôn,

vùng sâu, vùng xa, ưu tiên xây dựng chính sách đảm bảo công bằng xã hội,

hỗ trợ người nghèo…

 Nghiên cứu các điều kiện đảm bảo duy trì và nâng cao chất lượng

chăm sóc – giáo dục trẻ.

– Nghiên cứu đổi mới công tác quản lí giáo dục mầm non.

– Nghiên cứu các giải pháp đào tạo giáo viên nhằm tăng cường số

lượng và đảm bảo chất lượng.

– Xác định rõ những tiêu chí cơ bản trong việc đánh giá, phân loại chất

lượng ở mỗi cơ sở giáo dục mầm non của mỗi địa phương theo chuẩn quốc

gia.

 Nghiên cứu, bổ sung các thuật ngữ trong giáo dục mầm non.

Giáo dục mầm non gắn liền và chịu ảnh hưởng trực tiếp trong sự phát

triển chung của xã hội, không chỉ vì trẻ em là nguồn nhân lực tương lai của

đất nước mà còn vì cha mẹ của các em là nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất

ra của cải vật chất cho xã hội. Bởi vậy, nghiên cứu giáo dục học mầm non

chính là góp phần đổi mới những vấn đề liên quan tới phát triển nguồn nhân

lực – một yếu tố cực kì quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước.

Để thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên, giáo dục học mầm non phải dựa

trên các thành tựu của khoa học hiện đại nghiên cứu về sự phát triển của trẻ

em dưới 6 tuổi và liên kết phối hợp chặt chẽ với nhiều ngành khoa học khác

trong quá trình nghiên cứu về vấn đề này.

3. Phương pháp nghiên cứu giáo dục học mầm non

Khi nghiên cứu giáo dục học mầm non với tư cách là một chuyên

ngành của giáo dục học, chúng ta cần sử dụng các phương pháp nghiên cứu

khoa học giáo dục nói chung, nhưng xuất phát từ đặc điểm của đối tượng,

phải đặc biệt chú ý một số phương pháp sau:

3.1. Phương pháp nghiên cứu lí luận

Các phương pháp ngiên cứu lí luận là những cách thức thu thập và xử

lí thông tin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản tài liệu đã có bằng

các thao tác tư duy lôgic để rút ra kết luận khoa học hoặc xây dựng hệ thống

lí thuyết cho vấn đề nghiên cứu mới.

Những kết luận khoa học hoặc hệ thống lí thuyết mới thường được thể

hiện ở một trong những hướng sau:

– Khẳng định hay phủ định những luận điểm khoa học giáo dục mầm

non đang được bàn luận hay tranh cãi.

 Phê phán những sai lầm, thiếu sót, hạn chế của hệ thống lí thuyết

trước đây.

– Kế thừa, phát triển những chân lí khách quan của những lí thuyết

trước đây.

Trong nghiên cứu khoa học nói chung, khoa học giáo dục mầm non nói

riêng, nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận gồm một số phương pháp sau

đây:

– Phương pháp phân tích – tổng hợp lí thuyết. Đó là phương pháp liên

kết từng mặt, từng bộ phận của thông tin khoa học đã thu thập được nhờ

phân tích các văn bản tài liệu nhằm tạo ra một hệ thống lí thuyết mới đầy đủ

và sâu sắc về lĩnh vực nghiên cứu.

– Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lí thuyết. Đó là phương pháp

sắp xếp tri thức khoa học đã được phân thành từng mặt, từng vấn đề khoa

học có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng phát triển,… thành một hệ

thống nhằm xây dựng một hệ thống lí thuyết mới hoàn chỉnh.

 Phương pháp cụ thể hoá lí thuyết là phương pháp nghiên cứu nhằm

minh hoạ và mô hình hoá lí thuyết làm cho lí thuyết được sáng tỏ.

– Phương pháp giả thuyết là phương pháp nghiên cứu bằng cách dự

đoán những thuộc tính và quy luật phát triển của đối tượng để chỉ đường cho

việc chứng minh những điều dự đoán đó là đúng.

3.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

3.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát sư phạm là phương pháp thu thập các thông tin về đối tượng

nghiên cứu bằng cách tri giác có chủ định đối tượng và các yếu tố liên quan

đến đối tượng.

Ví dụ: Quan sát trẻ mẫu giáo trong giờ chơi để thu thập thông tin về

hứng thú chơi của trẻ.

Phương pháp quan sát sư phạm trong giáo dục mầm non được phân

thành các loại như sau:

– Quan sát trực tiếp – quan sát gián tiếp.

 Quan sát toàn diện – quan sát có bố trí.

– Quan sát lâu dài – quan sát thời gian ngắn.

 Quan sát phát hiện – quan sát kiểm nghiệm.

Muốn quan sát đạt hiệu quả cao cần đảm bảo những yêu cầu:

– Xác định mục đích quan sát rõ ràng (quan sát để làm gì?)

– Xây dựng kế hoạch, tiến trình quan sát.

 Chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: lí luận, thực tiễn, các phương tiện cần

thiết có liên quan đến mục đích quan sát.

– Tiến hành quan sát cẩn thận và có hệ thống.

– Ghi chép khách quan, chính xác (các sự kiện, hiện tượng, số liệu

đúng như đối tượng bộc lộ).

– Lưu giữ tài liệu quan sát phải cẩn thận và dễ sử dụng.

Phương pháp quan sát sư phạm có khả năng thu thập được nhiều tài

liệu cụ thể, sinh động, tự nhiên, làm cơ sở cho quá trình tư duy khoa học.

Song dây là phương pháp dễ đưa người nghiên cứu rơi vào thế bị động bởi

những yếu tố nhiễu không liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu. Mặt khác, kết

quả nghiên cứu theo phương pháp này phụ thuộc nhiều vào chủ quan của

người quan sát, nếu người quan sát không được trang bị những tri thức và kĩ

năng sử dụng phương pháp này thì sẽ dẫn tới tình trạng tài liệu thu được

thiếu khách quan, không đảm bảo chất lượng.

3.2.2. Phương pháp trò chuyện (đàm thoại)

Trò chuyện là phương pháp đặt ra câu hỏi cho người đối thoại và dựa

vào câu trả lời của họ để thu thập thông tin về vấn đề nghiên cứu.

Ví dụ: Trọ chuyện với giáo viên, trò chuyện với trẻ em.

Trò chuyện được phân thành các loại sau đây:

– Trò chuyện trực tiếp.

 Trò chuyện gián tiếp.

 Trò chuyện thẳng.

– Trò chuyện đường vòng.

 Trò chuyện bổ sung.

 Trò chuyện đi sâu.

 Trò chuyện phát hiện.

– Trò chuyện kiểm nghiệm.

Tuỳ theo mục đích, điều kiện, hoàn cảnh và đặc điểm của đối tượng mà

vận dụng các hình thức trò chuyện cho phù hợp.

Khi trò chuyện, muốn thu được tài liệu có chất lượng phải tôn trọng các

yêu cầu:

– Xác định rõ mục đích, yêu cầu.

 Cần tìm hiểu người đối thoại để lựa chọn cách trò chuyện cho phù

hợp (hiểu tính cách, hứng thú, năng lực, khí chất, hoàn cảnh…).

– Quá trình trò chuyện phải có ý thức khéo léo lái câu chuyện vào đúng

mục đích, tránh tràn lan làm loãng chủ đề.

– Cần tạo không khí tự nhiên, thân mật, cởi mở trong khi trò chuyện.

Không nhất thiết phải ghi chép các câu trả lời của đối tượng.

Phỏng vấn cũng là một dạng của đàm thoại, các câu hỏi phải chuẩn bị

trước và được hỏi theo một trình tự nhất định, các câu trả lời cần được ghi

chép một cách công khai. Trong phỏng vấn, người ta dùng cả phương tiện kỹ

thuật hiện đại như máy ảnh, máy ghi âm hoặc ghi hình để giữ lại tư liệu

nghiên cứu.

3.2.3. Phương pháp điều tra

Điều tra là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một

số lượng đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến của họ về một vấn đề

nào đó.

Ý kiến trả lời có thể được viết ra hoặc trình bày bằng miệng do người

điều tra ghi lại.

Điều tra có thể phân loại như sau:

– Điều tra thăm dò (câu hỏi rộng và nông) nhằm thu thập tài liệu ở mức

sơ bộ về đối tượng.

– Điều tra đi sâu (câu hỏi hẹp và đi sâu) nhằm khai thác sâu sắc một

vài khía cạnh nào đó của đối tượng nghiên cứu.

– Điều tra bổ sung nhằm thu thập tài liệu bổ sung cho các phương pháp

khác.

Căn cứ vào mục đích, tính chất của việc điều tra, người ta có thể sử

dụng nhiều dạng câu hỏi khác nhau:

+ Câu hỏi “đóng” là những câu hỏi có kèm theo phương án trả lời.

Người được trưng cầu ý kiến có thể lựa chọn một hoặc vài ba phương án phù

hợp với mình.

+ Câu hỏi “mở” là những câu hỏi không có phương án trả lời sẵn và

người được trưng cầu ý kiến tự trả lời.

Sử dụng phương pháp điều tra có thể trong một khoảng thời gian ngắn

thu thập được ý kiến của nhiều người ở một phạm vi rộng, tuy nhiên, độ tin

cậy của tài liệu thu được bị hạn chế, bởi vì nó phụ thuộc vào chủ quan của

người trả lời.

Để có tài liệu tương đối chính xác phải điều tra số lượng người đủ lớn.

Các câu hỏi cần xây dựng theo một hệ thống, chúng ràng buộc lẫn nhau,

kiểm tra lẫn nhau để có thể buộc người trả lời phải bộc lộ ý nghĩ thật của

mình.

3.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Tổng kết kinh nghiệm giáo dục là phương pháp đi từ thực tiễn giáo dục,

dùng lí luận phân tích thực tiễn, từ phân tích thực tiễn mà rút ra lí luận.

Trong khoa học giáo dục nói chung và giáo dục học mầm non nói riêng,

tổng kết kinh nghiệm, tức là dùng cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin,

đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, dùng tri thức về khoa học giáo dục

mầm non và các khoa học khác để tìm hiểu, phân tích, đánh giá các kinh

nghiệm có tác dụng tích cực trong thực tiễn giáo dục, từ đó rút ra những bài

học mang tính lí luận, lí luận đó được chỉ đạo trở lại thực tiễn giáo dục.

Ví dụ: Kinh nghiệm phòng chống trẻ suy dinh dưỡng ở trường mầm

non; kinh nghiệm huy động trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo; kinh nghiệm của các

điển hình tiên tiến trong công tác chăm sóc – giáo dục trẻ; kinh nghiệm quản lí

của hiệu trưởng trường mầm non…

Khi sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục cần đảm bảo

một số yêu cầu sau:

 Phát hiện xác định đúng đối tượng nghiên cứu. Tức là kinh nghiệm có

thật và đang tồn tại chứ không phải là những dự định sẽ làm hoặc đã làm

nhưng chưa tới mức gọi là kinh nghiệm. Muốn vậy phải kiểm tra kĩ và đánh

giá chính xác hiệu quả đã đạt được do kinh nghiệm mang lại.

– Khi thu thập, xử lí các số liệu phải hết sức khách quan. Muốn vậy

phải thu thập, xử lí thông tin từ nhiều nguồn và bằng nhiều phương pháp khác

nhau như: Phương pháp trò chuyện, phương pháp quan sát, phương pháp

điều tra.

 Những lí luận tổng kết từ kinh nghiệm cần tiếp tục khẳng định và phát

triển, đồng thời phải đem ứng dụng vào thực tế để “nhân” kinh nghiệm bằng

cách chỉ đạo điểm hoặc thực nghiệm khoa học.

3.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp tìm hiểu con người

thông qua sản phẩm do họ tạo ra.

Ví dụ: Nghiên cứu sản phẩm nặn, vẽ, xé, dán của trẻ mẫu giáo 5 tuổi

để hiểu đặc điểm và khả năng sáng tạo của trẻ. Hoặc nghiên cứu sản phẩm

của giáo viên mầm non để hiểu về chính họ.

Khi nghiên cứu sản phẩm hoạt động cần nắm được đầy đủ điều kiện và

quá trình hoạt động của con người đưa đến sản phẩm. Tức là chúng ta không

chỉ tìm hiểu con người làm ra cái gì, mà quan trọng hơn là làm như thế nào?

Bởi vì các sản phẩm và năng lực của con người thường bộc lộ qua những

điều kiện và quá trình làm ra sản phẩm.

3.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp nghiên cứu một cách chủ động,

có hệ thống một hiện tượng giáo dục nhằm xác định mối quan hệ giữa tác

động giáo dục với hiện tượng giáo dục cần được nghiên cứu trong những

điều kiện đã được khống chế.

Nét đặc trưng của phương pháp thực nghiệm sư phạm là nhà nghiên

cứu chủ động tạo ra điều kiện nghiên cứu và khi cần thiết có thể lặp lại nhiều

lần điều kiện đó.

Thường có hai loại thực nghiệm: thực nghiệm tự nhiên và thực nghiệm

trong phòng thí nghiệm.

– Thực nghiệm tự nhiên là những thực nghiệm được tiến hành trong

điều kiện bình thường của quá trình sư phạm.

– Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm là nhân thực nghiệm được tiến

hành trong điều kiện khống chế nhằm xác định mặt định tính, định lượng và

bản chất của hiện tượng giáo dục.

Phương pháp thực nghiệm cho phép người nghiên cứu tìm hiểu sâu

bản chất của hiện tượng giáo dục để từ đó phát hiện ra cái mới, nhưng đây là

phương pháp đòi hỏi sự chuẩn bị công phu cả về lí luận cũng như công việc

và trang thiết bị kĩ thuật khi tiến hành thực nghiệm.

Thực nghiệm sư phạm có thể được tiến hành theo các bước sau đây:

Bước 1: Xác định được vấn đề thực nghiệm với mục đích rõ ràng.

Bước 2: Nêu giả thuyết và xây dựng đề cương thực nghiệm.

Bước 3: Tổ chức thực nghiệm

Gồm các công việc:

– Chọn mẫu thực nghiệm.

 Bồi dưỡng cộng tác viên.

– Theo dõi thực nghiệm: quan sát, ghi chép, đo đạc.

Bước 4: Xử lí kết quả thực nghiệm, rút ra kết luận khoa học.

Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển mạnh, nhiều phương tiện kĩ

thuật hiện đại được sử dụng trong nghiên cứu khoa học giáo dục. Máy vi tính

là một phương tiện hiện đại giúp cho việc xử lí kết quả thực nghiệm nhanh,

chính xác và tiện lợi.

Yêu cầu nghiêm ngặt của thực nghiệm sư phạm là khi tiến hành thực

nghiệm sư phạm không được làm đảo lộn hoạt động bình thường của quá

trình sư phạm, và chỉ tiến hành trong những điều kiện và tiêu chuẩn nghiêm

ngặt với luận cứ khoa học để đảm bảo việc đưa những cái mới đã được kiểm

tra vào quá trình sư phạm.

4. Mối liên hệ giữa giáo dục học mầm non với các khoa học khác

Giáo dục học mầm non là khoa học nghiên cứu việc giáo dục con

người ở độ tuổi từ 0 đến 6 tuổi, có liên quan mật thiết với nhiều ngành khoa

học như triết học, sinh lí học, tâm lí học, xã hội học, đạo đức học, điều khiển

học v.v…

4.1. Với triết học

Triết học là khoa học nghiên cứu các quy luật chung nhất của thế giới

về sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Giáo dục học mầm

non lấy triết học duy vật biện chứng làm cơ sở phương pháp luận để có cách

tiếp cận đúng đắn với con người trong việc xây dựng lí luận khoa học và tổ

chức khoa học quá trình giáo dục trẻ em.

4.2. Với sinh lí học

Sinh lí học được coi là cơ sở tự nhiên của giáo dục học. Việc nghiên

cứu giáo dục học mầm non phải dựa vào các dữ kiện của sinh lí học về sự

phát triển của hệ thần kinh cấp cao, về đặc điểm của hệ thống tín hiệu thứ

nhất và thứ hai, về sự phát triển của các cơ quan cảm giác và vận động, về

nhu cầu của cơ thể v.v…

Chẳng hạn, từ đặc điểm phát triển của trẻ em từ 0 – 6 tuổi mà chúng ta

xây dựng chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ, chế độ dinh dưỡng, học tập,

vận động một cách khoa học.

Những thành tựu khoa học mới về sinh lí trẻ em làm thay đổi cả lí luận

và thực tiễn giáo dục mầm non.

4.3. Với tâm lí học

Tâm lí học trang bị cho giáo dục học cơ sở khoa học về việc xây dựng lí

luận và tổ chức hoạt động thực tiễn giáo dục trẻ em theo các thời kì, với

những đặc điểm phát triển tâm lí theo lứa tuổi.

Hiểu một cách ngắn gọn thì tâm lí học là cơ sở khoa học của giáo dục

học. Chỉ có hiểu biết tâm lí trẻ em mới có thể tổ chức khoa học quá trình giáo

dục trẻ em và tránh được sự áp đặt đối với trẻ.

4.4. Với điều khiển học

Điều khiển học là khoa học điều khiển tối ưu các hệ thống động phức

tạp. Là khoa học nghiên cứu lôgic của những quá trình trong tự nhiên và xã

hội, xác định những cái chung, quy định những điều kiện vận hành các quá

trình đó.

Dựa vào lí thuyết điều khiển học, chúng ta có thể điều khiển quá trình

dạy học và giáo dục đạt hiệu quả tối ưu.

4.5. Với đạo đức học và mĩ học

Đạo đức học, mĩ học giúp cho việc xây dựng cơ sở phương pháp luận

và xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức giáo

dục thẩm mĩ cho trẻ mầm non.

Tóm lại: Giáo dục học mầm non có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khoa

học khác nhau và dựa trên các thành tựu nghiên cứu về con người của các

ngành khoa học, giáo dục học mầm non để từng bước hoàn thiện lí luận khoa

học của mình và ngày càng đem đến hiệu quả cao cho công tác bảo vệ, chăm

sóc và giáo dục trẻ em.

II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA GIÁO DỤC MẦM NON

1. Mục tiêu giáo dục mầm non

Như chúng ta đã biết, mục đích giáo dục là mô hình nhân cách tổng thể

đón trước sự phát triển của mỗi học sinh – mỗi người lao động tương lai của

đất nước phải đạt được trong một giai đoạn lịch, sử cụ thể, ứng với một nền

sản xuất nhất định. Mục đích giáo dục nói chung được thực hiện từng phần,

từng mức độ ở từng lứa tuổi, từng cấp học qua từng giai đoạn phát triển nhất

định của mỗi người. Mục đích giáo dục bộ phận được gọi là mục tiêu giáo

dục, ví dụ: mục tiêu giáo dục mầm non, mục tiêu giáo dục tiểu học, mục tiêu

giáo dục trung học, mục tiêu giáo dục đại học và trung học chuyên nghiệp –

dạy nghề…

Mục tiêu giáo dục mầm non thể hiện ở việc xác định mục tiêu chung và

những yêu cầu chủ yếu đối với việc phát triển nhân cách mà trẻ em Việt Nam

đến 6 tuổi (trước khi bước vào lớp Một) phải đạt được qua việc nhận sự giáo

dục của gia đình và trường mầm non.

1.1. Mục tiêu giáo dục mầm non

Giáo dục mầm non là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Giáo dục mầm non nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi

đến sáu tuổi (Điều 21– Luật Giáo dục 2005).

Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất,

tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho

trẻ em vào lớp Một (Điều 22– Luật Giáo dục 2005).

Mục tiêu giáo dục mầm non được chia làm hai giai đoạn: giai đoạn tuổi

nhà trẻ và giai đoạn tuổi mẫu giáo. Mục tiêu của mỗi giai đoạn được xác định

là cái đích mà cuối giai đoạn đó trẻ phải đạt được nhờ sự chăm sóc, giáo dục

của người lớn. Những mục tiêu này được thể hiện trong Quyết định số:

5205/QĐ–BGD&ĐT ngày 19 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và

Đào tạo. Cụ thể là:

1.1.1. Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi nhà trẻ

a) Phát triển thể chất

 Trẻ khoẻ mạnh, cơ thể phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm

trong kênh A.

– Thực hiện được các vận động cơ bản.

– Thích nghi với môi trường sinh hoạt ở trường mầm non.

– Có một số thói quen tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh cá nhân.

b) Phát triển nhận thức

– Thích tìm hiểu thế giới xung quanh.

 Có sự nhạy cảm của các giác quan: vị giác, khứu giác, xúc giác, thính

giác, thị giác.

– Nhận biết được về bản thân, một số sự vật, hiện tượng quen thuộc

gần gũi.

– Có khả năng quan sát, chú ý, ghi nhớ, phát triển tư duy trực quan–

hành động và tư duy trực quan– hình ảnh.

c) Phát triển ngôn ngữ

– Nghe, hiểu được các yêu cầu đơn giản bằng lời nói của người khác.

– Diễn đạt được các nhu cầu đơn giản bằng lời nói.

– Có khả năng hỏi và trả lời một số câu hỏi đơn giản.

d) Phát triển tình cảm – xã hội

– Mạnh dạn giao tiếp với những người gần gũi.

– Biết được một số việc được phép làm và không được phép làm.

 Biết thể hiện cảm xúc trước cái đẹp. Thích múa, hát, đọc thơ, nghe kể

chuyện, vẽ, nặn, lắp ghép, xếp hình…

– Thích tự làm một số công việc đơn giản.

1.1.2. Mục tiêu giáo dục mầm non ở cuối tuổi mẫu giáo

a) Phát triển thể chất

– Trẻ khoẻ mạnh, cơ thể phát triển cân đối. Cân nặng và chiều cao nằm

trong kênh A.

– Thực hiện được các vận động cơ bản một cách vững vàng, đúng tư

thế.

– Có khả năng phối hợp các giác quan và vận động; vận động nhịp

nhàng, biết định hướng trong không gian.

– Thực hiện được một số vận động của đôi tay một cách khéo léo.

 Có một số thói quen, kỹ năng tốt về giữ gìn sức khoẻ, vệ sinh cá

nhân, vệ sinh môi trường và biết cách đảm bảo sự an toàn.

b) Phát triển nhận thức

 Ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi những sự vật hiện tượng xung

quanh.

– Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý và ghi

nhớ có chủ định. Nhận ra một số mối liên hệ đơn giản của các sự vật hiện

tượng xung quanh.

– Có một số hiểu biết ban đầu về bản thân, môi trường tự nhiên và xã

hội.

c) Phát triển ngôn ngữ

– Nghe và hiểu được lời nói trong giao tiếp.

– Có khả năng diễn đạt bằng lời nói rõ ràng để thể hiện ý muốn, cảm

xúc của mình và của người khác.

– Có một số biểu tượng về việc đọc và việc viết để vào học lớp Một.

d) Phát triển tình cảm – xã hội

– Mạnh dạn, hồn nhiên, tự tin, lễ phép trong giao tiếp.

– Nhận ra một số trạng thái cảm xúc và thể hiện tình cảm phù hợp với

đối tượng và hoàn cảnh cụ thể.

 Thực hiện một số quy định đơn giản trong sinh hoạt. Có ý thức tự

phục vụ, kiên trì thực hiện công việc được giao.

– Yêu quý gia đình, trường lớp mầm non và nơi sinh sống.

 Quan tâm, chia sẻ, hợp tác với những người gần gũi.

– Quan tâm chăm sóc vật nuôi, cây trồng và bảo vệ môi trường.

e) Phát triển thẩm mĩ

– Cảm nhận được vẻ đẹp trong thiên nhiên, cuộc sống và trong tác

phẩm nghệ thuật.

– Có nhu cầu, hứng thú khi tham gia vào các hoạt động hát, múa, vận

động theo nhạc, đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch… và biết thể hiện cảm xúc

sáng tạo thông qua các hoạt động đó.

1.2. Những yêu cầu cần đạt được đối với trẻ em từng độ tuổi trong

lứa tuổi mầm non

Trên đây là mục tiêu chung – mục tiêu khái quát đến 6 tuổi trẻ em cần

đạt được. Điều này được cụ thể hoá theo từng độ tuổi với từng mức độ yêu

cầu khác nhau (6 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng… cho đến 6 tuổi).

Căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của từng địa phương, yêu cầu

phát triển của nền kinh tế – xã hội ở từng địa phương mà các nhà giáo dục

mầm non cần thực hiện mọi yêu cầu đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo trong

Chương trình giáo dục mầm non ban hành theo Quyết định số:

5205QĐ/BGDĐT ngày 19 tháng 9 năm 2006.

2. Nhiệm vụ của giáo dục mầm non

Trong giai đoạn hiện nay, giáo dục mầm non có những nhiệm vụ cơ bản

sau đây:

– Không ngừng đổi mới nội dung và phương pháp chăm sóc – giáo dục

nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ.

– Thu hút ngày càng nhiều trẻ em trong độ tuổi vào các loại hình chăm

sóc – giáo dục trẻ thích hợp, trong đó nòng cốt là các nhà trẻ, trường mầm

non để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục mầm non mà Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã ban hành.

– Kết hợp chặt chẽ với gia đình và các tổ chức xã hội trong công tác

chăm sóc – giáo dục trẻ em.

III. BẬC HỌC MẦM NON TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN

1. Cơ Cấu hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

Theo Luật Giáo dục 2005, hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam hiện

nay gồm bốn bậc giáo dục sau đây:

 Giáo dục mầm non: Thực hiện việc chăm sóc và giáo dục trẻ em từ 3

tháng tuổi đến 6 tuổi. Bậc học mầm non gồm các cơ sở sau:

+ Nhà trẻ, nhóm trẻ: Nhận trẻ em từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi.

+ Trường, lớp mẫu giáo: Nhận trẻ em từ 3 tuổi đến 6 tuổi.

+ Trường mầm non: là cơ sở kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em

từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi.

– Giáo dục phổ thông: Nhận giáo dục trẻ em từ 6 tuổi đến 18 tuổi. Giáo

dục phổ thông được chia làm ba bậc nhỏ:

+ Giáo dục tiểu học: Được thực hiện trong 5 năm học, từ lớp 1 đến lớp

5. Tuổi của học sinh lớp 1 là 6 tuổi.

+ Giáo dục trung học cơ sở: Thực hiện trong 4 năm, từ lớp 6 đến lớp 9.

Học sinh vào lớp 6 phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là 10 tuổi.

+ Giáo dục trung học phổ thông: Thực hiện trong 3 năm, từ lớp 10 đến

lớp 12. Học sinh vào lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi

là 15 tuổi.

– Giáo dục nghề nghiệp: Nhận đào tạo công nhân và cán bộ thực hành

cho các lĩnh vực kinh tế và văn hoá xã hội. Bậc giáo dục nghề nghiệp gồm hai

loại trường:

+ Trường trung cấp chuyên nghiệp: Tiếp nhận học sinh tốt nghiệp trung

học cơ sở hoặc trung học phổ thông để đào tạo. Mục tiêu của trường trung

cấp chuyên nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kĩ năng thực hành

cơ bản một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sáng tạo, ứng dụng

công nghệ vào công việc.

+ Trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, lớp dạy nghề, nhằm

đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực

thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.

– Giáo dục đại học: Tiếp nhận những học sinh khá, giỏi được sàng lọc

qua các kì thi tuyển sinh để đào tạo thành những chuyên gia cho các lĩnh vực

khoa học và nghiệp vụ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển

đất nước. Giáo dục đại học gồm 4 trình độ đào tạo:

+ Trình độ cao đẳng đào từ 2 đến 3 năm học tuỳ theo ngành nghề đào

tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT hoặc có bằng tốt nghiệp trung cấp;

từ 1,5 năm đến 2 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng

chuyên ngành.

+ Trình độ đại học được thực hiện từ 4 đến 6 năm học tuỳ theo ngành

nghề đào tạo đối với người có bằng tất nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp

trung cấp; từ 2,5 năm đến 4 năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung

cấp cùng chuyên ngành; từ 1,5 năm đến 2 năm học đối với người có bằng tốt

nghiệp cao đẳng cùng chuyên ngành.

+ Trình độ thạc sĩ được thực hiện từ 1 đến 2 năm học đối với người có

bằng tốt nghiệp đại học.

+ Trình độ tiến sĩ được thực hiện trong 4 năm học đối với người có

bằng tốt nghiệp đại học, từ 2 đến 3 năm học đối với người có bằng thạc sĩ.

Các trường đại học đào tạo cán bộ có trình độ cao đẳng, trình độ đại

học (đào tạo trình độ đại học là chủ yếu); đào tạo cán bộ có trình độ thạc sĩ,

trình độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao.

2. Bậc học mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên – bậc học nền tảng trong hệ

thống giáo dục quốc dân. Như đã trình bày trên đây, mục tiêu của giáo dục

mầm non là xây dựng cơ sở ban đầu về nhân cách con người phát triển toàn

diện. Những cơ sở ban đầu này ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách

sau này. Giáo dục mầm non chưa cần phải trang bị cho trẻ một cách đầy đủ

và hoàn chỉnh những gì mà một người cần có để tham gia vào đời sống xã

hội như một người lớn thực thụ. Nhiệm vụ cơ bản của giáo dục mầm non là

hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu về nhân cách con người mới, làm

cho trẻ phát triển toàn diện, hài hoà và cân đối, tạo điều kiện tốt cho những

bước phát triển sau này; xây dựng cho mỗi đứa trẻ một nền tảng nhân cách

vừa khoẻ khoắn, vừa mềm mại, đầy sức sống về cả thể chất lẫn tinh thần. Có

nghĩa là giáo dục mầm non một mặt cần làm cho trẻ hồn nhiên, vui tươi tích

cực, chủ động,… mặt khác giáo dục mầm non lại phải ngay từ đầu hướng sự

phát triển của trẻ vào việc hình thành những tiền đề nhân cách con người

mới, chuẩn bị cho trẻ khả năng học tập tốt, sống và làm việc phù hợp với xã

hội mới.

Bậc học mầm non là một bậc học đặc biệt trong hệ thống giáo dục quốc

dân. Đối tượng của bậc học này là những trẻ nhỏ (từ 0 đến 6 tuổi). Đây là thời

kì phát triển mạnh mẽ nhất trong cuộc đời về cả thể chất lẫn tâm lí, tinh thần.

Phương thức giáo dục ở lứa tuổi này vừa mang màu sắc gia đình vừa mang

màu sắc nhà trường. Quan hệ giữa người dạy và người học vừa mang màu

sắc thầy – trò vừa mang màu sắc mẹ – con (“cô giáo như mẹ hiền”). Phương

châm giáo dục chủ đạo ở lứa tuổi này là: “Học mà chơi, chơi mà học”. Nội

dung giáo dục ở lứa tuổi này mang tính tích hợp.

CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Hãy nêu đối tượng và nhiệm vụ của giáo dục học mầm non.

2. Hãy trình bày các phương pháp nghiên cứu của giáo dục học mầm

non.

3. Phân tích khái niệm mục đích, mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục

mầm non.

4. Chứng minh rằng bậc học mầm non là bậc học nền tảng của hệ

thống giáo dục quốc dân.

BÀI TẬP THỰC HÀNH

1. Dựa vào xu thế phát triển của xã hội và thời đại rút ra nhận xét về

chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam hiện hành.

2. Theo dõi, ghi chép, mô tả về quá trình hình thành và phát triển nhân

cách của một trẻ em mà bạn gần gũi.

Chương 2. NHIỆM VỤ GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA TUỔI MẦM NON

I. NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC GIÁO DỤC TRẺ EM LỨA

TUỔI MẦM NON

1. Cơ sở triết học

Cũng như các lĩnh vực khoa học khác, triết học duy vật biện chứng là

cơ sở phương pháp luận của khoa học giáo dục nói chung và khoa học giáo

dục mầm non nói riêng. Ở đây, triết học duy vật biện chứng cung cấp cơ sở

khoa học cho việc xác định bản chất con người, nguồn gốc của ý thức và mối

quan hệ giữa quá trình giáo dục với các quá trình khác, chỉ ra nguyên lí của

sự phát triển nhân cách con người… Trên cơ sở này, các nhà giáo dục xây

dựng mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục thích hợp nhằm nâng cao

hiệu quả giáo dục mầm non.

Trước hết, về bản chất con người, các nhà triết học duy vật biện chứng

khẳng định rằng, con người không phải do Thượng đế sinh ra mà con người

vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội. “Bản chất con người

không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của mỗi cá nhân riêng lẻ. Trong tính