Cơ sở dữ liệu Quốc gia Văn bản quy phạm pháp luật

Trường hợp trong một vụ việc 01 người thực hiện 3 hành vi vi phạm, đã bị cơ quan điều tra, công an huyện bắt và khởi tố đối với 01 trong 03 hành vi đó, còn 02 hành vi còn lại, sau khi xem xét cho thấy không đủ cơ sở để khởi tố, cơ quan công an huyện đã chuyển hồ sơ sang UBND huyện để xử phạt hành chính 02 hành vi còn lại. Theo quy định tại khoản 1 Điều 63 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì nếu vụ việc đã bị cơ quan khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì chỉ khi nào có 01 trong 04 quyết định được nêu thì mới chuyển vụ việc sang để xử lý VPHC. Cho em hỏi, căn cứ vào quy định nào để tách hành vi vi phạm để xử lý như vậy? Em xin chân thành cảm ơn.

Trả lời có tính chất tham khảo

1. Khoản 1 và khoản 2 Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định:
“1. Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định, cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
2. Việc xử phạt vi phạm hành chính được căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến.
Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xác minh thêm tình tiết để làm căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính”.
Theo quy định nêu trên, đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết, nhưng sau đó lại có quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án, nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính, thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải chuyển các quyết định nêu trên kèm theo hồ sơ, tang vật, phương tiện của vụ vi phạm và đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đến người có thẩm quyền xử phạt. Khi đó, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính sẽ tiến hành xử phạt căn cứ vào hồ sơ vụ vi phạm do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chuyển đến theo Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 mà không cần lập biên bản vi phạm hành chính.
2. Đối với vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thụ lý, giải quyết chuyển sang mà vụ việc đó không thể ra các quyết định như: quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự căn cứ vào các quy định có liên quan của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 để chuyển hồ sơ vụ việc và đề nghị người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tiến hành xử phạt đối với hành vi vi phạm.
Cụ thể, khoản 1 Điều 3 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính như sau:
“a) Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;
b) Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật”.
Điều 14 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về trách nhiệm đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính như sau:
“1. ……
2. Khi phát hiện vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
3. Cá nhân, tổ chức có trách nhiệm phát hiện, tố cáo và đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính”.
 Đối với trường hợp xử phạt này, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính không căn cứ Điều 63 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 mà căn cứ vào các quy định pháp luật khác có liên quan (như Điều 58, Điều 59, Điều 60, Điều 61, Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012,…) để ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc ra quyết định tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nếu vụ việc thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Điều này có nghĩa là, trong trường hợp này, khi thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vẫn phải thực hiện đầy đủ các bước như lập biên bản vi phạm hành chính (nếu không thuộc trường hợp xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản), xác minh các tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính (nếu có),…
Như vậy, đối chiếu với trường hợp trong 01 vụ việc, 01 người thực hiện 3 hành vi vi phạm và đã bị cơ quan tiến hành tố tụng hình sự khởi tố đối với 01 hành vi vi phạm, 02 hành vi vi phạm còn lại không đủ cơ sở để khởi tố và có dấu hiệu vi phạm hành chính thì cơ quan tiến hành tố tụng hình sự vẫn thực hiện việc chuyển hồ sơ và đề nghị người có thẩm quyền xử phạt tiến hành xử phạt đối với 02 hành vi nêu trên theo quy định của pháp luật.