Cơ Sở Lý Luận Về Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai – Khái ni m hòa gi i tranh chấấp đấất đaiệả Khái ni m – Studocu

Cơ Sở Lý Luận Về Hòa Giải Tranh Chấp Đất Đai

1. Khái niệm hòa giải tranh chấpấ đấất đai

1.1. Khái niệm vềề tranh chấấp đấất đai

Thực tiễn cuộc sống tồn tại nhiêu loai tranh châp khac nhau, tuy theo lĩnh vực mà phát mà nó có thể được gọi là tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại hay tranh chấp hành chính… Trong quan hệ quản lý nhà nước về đất đai có thể phát sinh tranh chấp đất đai, đó có thể là tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với người sử dụng đất hoặc có thể là tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau.

Hiện nay có rất nhiều khái niệm có liên quan đến tranh chấp đất đai, điều này được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, quan điểm cá nhân, góc độ học thuật thì khái niệm về tranh chấp đất đai được ghi nhận.

Theo Từ điển tiếng Việt – nhà xuất bản Đà Nẵng ghi nhận “tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên”1(<>) (Viện Ngôn ngữ học, 2002).

Trên cơ sở đó thì một loạt khái niệm về tranh chấp đất đai được ghi nhận như sau:

Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh ghi nhận: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai… các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai.

Theo giáo trình trường Đại học Luật tỉnh Bình Dương ghi nhận: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định. Tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính…

1 Từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học – nhà xuất bản Đà Nẵng

Như vậy có thể nói rằng đứng trên các quan điểm, góc độ khác nhau mà khái niệm về tranh chấp đất đai được hình thành khác nhau. ranh chấp đất đai là những tranh chấp về quyền sử dụng đất. Tranh chấp đất đai là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính, mục đích sử dụng đất.

Tuy nhiên, Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2013 nhằm thống nhất định nghĩa về vấn đề này thì đã ghi nhận khái niệm: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Có thể thấy khái niệm tranh chấp đất đai được nêu trong Luật đất đai là một khái niệm bao hàm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính.

1.2. Khái niệm hòa giải tranh chấấp đấất đai

Thực tiễn cuộc sống tồn tại nhiêu loai tranh châp khac nhau, tuy theo lĩnh vực mà phát mà nó có thể được gọi là tranh chấp dân sự, tranh chấp thương mại hay tranh chấp hành chính… Trong quan hệ quản lý nhà nước về đất đai có thể phát sinh tranh chấp đất đai, đó có thể là tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với người sử dụng đất hoặc có thể là tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau.

Hiện nay có rất nhiều khái niệm có liên quan đến tranh chấp đất đai, điều này được nhìn nhận dưới góc độ pháp lý, quan điểm cá nhân, góc độ học thuật thì khái niệm về tranh chấp đất đai được ghi nhận.

Theo Từ điển tiếng Việt – nhà xuất bản Đà Nẵng ghi nhận “tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên”2(<>) (Viện Ngôn ngữ học, 2002).

Trên cơ sở đó thì một loạt khái niệm về tranh chấp đất đai được ghi nhận như sau:

Theo giáo trình của Trường Đại học Luật Hồ Chí Minh ghi nhận: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai… các chủ thể tranh chấp đất đai chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có quyền sở hữu đối với đất đai.

Theo giáo trình trường Đại học Luật tỉnh Bình Dương ghi nhận: Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định. Tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính…

Như vậy có thể nói rằng đứng trên các quan điểm, góc độ khác nhau mà khái niệm về tranh chấp đất đai được hình thành khác nhau. ranh chấp đất đai là những tranh chấp về quyền sử dụng đất. Tranh chấp đất đai là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính, mục đích sử dụng đất.

Tuy nhiên, Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai 2013 nhằm thống nhất định nghĩa về vấn đề này thì đã ghi nhận khái niệm: Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Có thể thấy khái niệm tranh chấp đất đai được nêu trong Luật đất đai là một khái niệm bao hàm cả tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về địa giới hành chính.

2 Từ điển tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học – nhà xuất bản Đà Nẵng

2. Lý luận vềề hòa giải tranh chấpấ đấất đai

2.1. Hệ thốấng quy định pháp luật vềề hòa giải tranh chấấp đấất đai

Sự can thiệp của Nhà nước đối với chính sách về hòa giải tranh chấp đất đai thể hiện qua các chính sách quản lý vĩ mô, qua hệ thống văn bản pháp luật. Các chính sách quản lý vừa trực tiếp, vừa gián tiếp tác động tới việc triển khai chính sách hòa giải tranh chấp đất đai. Sự tác động trực tiếp thể hiện qua những chính sách trực tiếp liên quan tới hoạt động này. Đó là những quy định về nội dung quản lý, phương pháp, điều kiện, tiêu chuẩn…Sự tác động gián tiếp thể hiện ở chỗ các chính sách quản lý nhà nước có tạo ra môi trường thuận lợi hay khó khăn cho công tác kiểm soát thực thi chính sách về hòa giải tranh chấp đất đai.

  • Ở nước ta thì việc thực thi chính sách về hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại các văn bản pháp lý như sau:
  • – Luật hòa giải cơ sở 2013
  • -Chính phủ (2014), Nghị định 15/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hòa giải cơ sở, Hồ Chí Minh;
  • Trong nội dung của Luật hòa giải cơ sở và văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định về phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc, Hòa giải viên, tổ hòa giải và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hoạt động hòa giải ở cơ sở. Với 33 điều thì Luật hòa giải cơ sở và 20 điều của Nghị định 15/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật hòa giải cơ sở đã tạo nền tảng quan trọng trong quá trình tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai.

    2.2. Các hình thức hòa giải tranh chấấp đấất đai

    Hiện nay, hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai tại cấp chính quyền cơ sở được thực hiện theo phương thức, bao gồm các phương thức như sau:

    Một là, hình thức giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải của Tổ hòa giải được thành lập tại các địa phương. Tổ hòa giải này đa phần được thành lập tại các phường nên hoạt động hòa giải trong tranh chấp đất đai.

    Hai là, hình thức giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoạt động hòa giải của UBND cấp huyện. Hoạt động này được thực hiện thông qua hoạt động hòa giải và tổ hòa giải do UBND cấp huyện trực tiếp thực hiện thông qua hoạt động cử hòa giải viên để tiến hành hòa giải tại cấp chính quyền cơ sở.

    2.3. Các yều cấều đặt ra trong hòa giả tranh chấấp đấất đai

    Hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai là một hoạt động quan trọng và được thực hiện tuân thủ các quy định trong quá trình hòa giải, cụ thể như sau:

    Một là, hoạt động hòa giải TCĐĐ cần thiết phải được thực hiện bởi người có kinh nghiệm và phải linh hoạt về thủ tục.

    Hai là, yêu cầu về linh hoạt, nhanh chóng, đúng quy định pháp luật trong hoạt động diễn ra hòa giải tranh chấp đất đai.

    Ba là, yêu cầu trong quá trình hòa giải tranh chấp đất đai chính là đặt con người, đặt quyền và lợi ích các chủ thể ở vị trí trung tâm.

    Bốn là, trong quan hệ hòa giải tranh chấp đất đai thì hoạt động hòa giải còn đặt trọng tâm vào khía cạnh duy trì mối quan hệ.

    Năm là, trong quan hệ về giải quyết tranh chấp về đất đai phải đảm bảo yêu cầu về bảo mật. Điều này thể hiện thông qua hoạt động tổ chức về phiên họp hòa

    2.4. Nội dung hòa giải tranh chấấp đấất đai

    2.4.1. Các căn cứ quy định về hòa giải tranh chấp đất đai

    Việc hòa giải ở cơ sở được tiến hành đối với các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật, việc tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành trên cơ sở. Hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai đạt được hiệu quả, phát huy vai trò ở cấp cơ sở, UBND xã, phường, thị trấn Luật Hòa giải cơ sở, Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều Luật đất đai đã quy định thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai và Luật hòa giải cơ sở 2013 và Nghị định 15/2014/NĐ-CP ngày 27/2/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật Hòa giải cơ sở. Theo đó, căn cứ hòa giải tranh chấp đất đai được thực hiện theo các căn cứ sau:

    Một là, một bên hoặc các bên yêu cầu hòa giải về giải quyết tranh chấp đất đai. Hoạt động tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành theo quy định khi một hoặc các bên tiến hành nộp đơn và tiến hành yêu cầu hòa giải tại cấp chính quyền cơ sở. Thông qua đó, hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai là hóa giải những mâu thuẫn giữa những người sử dụng đất với nhau.

    Thứ hai là khi hòa giải viên chứng kiến hoặc biết vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải;

    Ba là, theo phân công của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Khi nhận được vụ việc về TCĐĐ thì hòa giải tiến hành hòa giải các tranh chấp đất đai. Việc thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai được thực hiện trên cơ sở quyết định phân công hòa giải tranh chấp đất đai của các cơ quan chính quyền địa phương (Điều 16 Luật Hòa giải cơ sở).

    2.4.2. Hình thức và trình tự thủ tục thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai Theo căn cứ quy định tại Điều 202, Luật Đất đai năm 2013, thì:

    “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở”. Trường hợp tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp huyện nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp huyện được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Điều này được thực hiện thông qua biểu đồ tác giả ghi nhận dưới đây:

    Trình tự thủ tục khi nhận được đơn như sau:

    Bước 1: Khi nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:

  • a) Thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất;
  • b) Thành lập Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
  • c) Tổ chức cuộc họp hòa giải có sự tham gia của các bên tranh chấp, thành viên Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt. Trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành.
  • 2. Kết quả hòa giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản, gồm có các nội dung: Thời gian và địa điểm tiến hành hòa giải; thành phần tham dự hòa giải; tóm tắt nội dung tranh chấp thể hiện rõ về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đang tranh chấp, nguyên nhân phát sinh tranh chấp (theo kết quả xác minh, tìm hiểu); ý kiến của Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai; những nội dung đã được các bên tranh chấp thỏa thuận, không thỏa thuận.

    Biên bản hòa giải phải có chữ ký của Chủ tịch Hội đồng, các bên tranh chấp có mặt tại buổi hòa giải, các thành viên tham gia hòa giải và phải đóng dấu của Ủy ban nhân dân cấp xã; đồng thời phải được gửi ngay cho các bên tranh chấp và lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã.

  • 3. Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
  • 4. Trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới sử dụng đất, chủ sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết theo quy định tại Khoản 5 Điều 202 của Luật Đất đai.
  • Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo.

    1.2.4.3. Chủ thể tham gia hòa giải tranh chấp đất đai

    Hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại điều 202 – Luật Đất đai 2013, điều 88 – Nghị định 43/2014/NĐ-CP cụ thể:

    Thứ nhất, Hội đồng hòa giải tranh chấp đất đai để thực hiện hòa giải. Thành phần Hội đồng gồm: Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND là Chủ tịch Hội đồng; đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn; tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó; cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

    Thứ hai, về người tiến hành hoà giải: Việc hoà giải có thể do một hòa giải viên hoặc một số người trong tổ hoà giải tiến hành. Hòa giải viên ở cơ sở sẽ tiến hành hòa giải khi có một trong những căn cứ nên trên, tuy nhiên nhiều khi các bên không thống nhất lựa chọn được hòa giải viên thì Tổ trưởng tổ hòa giải sẽ phân công hòa giải viên tiến hành hòa giải. Đồng thời, Tổ trưởng tổ hòa giải không phân công hòa giải viên tiến hành hòa giải nếu có căn cứ cho rằng hòa giải viên có quyền, lợi ích, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc hòa giải hoặc có lý do khác dẫn đến không thể bảo đảm khách quan, công bằng trong hòa giải. Trong quá trình hòa giải, nếu hòa giải viên vi phạm nguyên tắc hoạt động hòa giải hoặc nghĩa vụ khác của hòa giải viên thì tổ trưởng tổ hòa giải phân công hòa giải viên khác thực hiện việc hòa giải.

    Tổ viên Tổ hoà giải có thể mời người ngoài Tổ hoà giải thực hiện việc hoà giải hoặc cùng tham gia hoà giải. Người được mời có thể là người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội và có uy tín đối với các bên tranh chấp. Trong từng trường hợp cụ thể, người được mời có thể là người thân thích, bạn bè, người hàng xóm của một hoặc các bên, người cao tuổi, người biết rõ nguyên nhân tranh chấp. Trong trường hợp các bên tranh chấp ở các cụm dân cư có các tổ hoà giải khác nhau, thì các tổ hoà giải đó phối hợp để thực hiện việc hoà giải. Việc phối hợp hoà giải do Tổ trưởng hoặc người được Tổ trưởng phân công hoà giải thực hiện. Các tổ viên là người thực hiện việc hoà giải có thể trực tiếp phối hợp với nhau, nhưng phải báo cáo ngay với Tổ trưởng về việc phối hợp thực hiện việc hoà giải. Trong trường hợp không thể tiếp tục tiến hành hoà giải, tổ viên Tổ hoà giải có trách nhiệm báo cáo kịp thời cho Tổ trưởng và bàn giao công việc cho tổ viên khác được Tổ trưởng phân công ( Điều 18 Luật Hòa giải cơ sở).

    2.5. Các yềấu tốấ ảnh hưởng đềấn hòa giải tranh chấấp đấất đai

    Hiệu quả giải quyết tranh chấp là những kết quả đạt được trong quá trình các bên có liên quan giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình hòa giải tranh chấp đất đai

    Có thể nói rằng vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai, đang có vai trò quan trọng trong thiết chế pháp luật của mỗi một quốc gia. Đồng thời, đây cũng chính là điều hết sức quan trọng nhằm góp phần xây dựng và hoàn thiện thị trường bất động sản. Bởi lẽ, xuất phát từ bản chất và tầm quan trọng của hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai giữ một vị trí cốt lõi cho bảo đảm cho sự phát triển bền vững của tất cả các quốc gia. Cùng với sự quan tâm của các quốc gia trên thế giới thì trong xu thế ấy, Việt Nam cũng đang tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai.

    Để vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai thì cần có các yếu tố đảm bảo làm nền tảng cơ bản cho quá trình thực hiện đạt hiệu quả cao. Cụ thể là:

    Một là, yếu tố về hệ thống văn bản pháp luật: hành vi vi phạm pháp luật về trong quá trình thực hiện hòa giải tranh chấp đất đai cần được quy định rõ trong các văn bản pháp luật. Hệ thống pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai cần đảm bảo quy định rõ ràng, chi tiết và có hướng dẫn cụ thể về phương thức, trình tự, thủ tục, chế tài, đảm bảo thực hiện bằng các công cụ như thế nào…Ngoài ra, hệ thống văn bản cần mang tính chất dự báo, các quy định mang tính chất điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh rộng và hiệu quả.

    Vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai hiện nay đã và đang trở thành vẫn đề được các quốc trong khu vực và trên thế giới quan tâm, chú trọng. Đối với vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai nói nói riêng ở nước ta hiện nay đã và đang trở thành vấn đề nhận được nhiều quan tâm của các cơ quan NN có thẩm quyền và toàn xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của lĩnh vực này, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước cũng như điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội phát sinh thì pháp luật ngày càng được sửa đổi, bổ sung một cách hoàn thiện hơn, trong đó có nội dung về đề hòa giải tranh chấp đất đai.

    Ở nước ta hiện nay, tại Hiến pháp 2013 – luật cơ bản của nhà nước có giá trị pháp lý cao nhất là cơ sở pháp lý cơ bản cho văn bản luật và dưới luật triển khai chi tiết quy định về vấn đề này. Luật hòa giải cơ sở và Luật đất đai 2013 về hòa giải tranh chấp đất đai được quy định làm nền tảng cơ bản và tạo ra cơ chế xử lý tương đối hoàn thiện đối với những mâu thuẫn tranh chấp đất đai. Thông qua các quy định trên đã thể hiện rõ nét sự tiến bộ của Nhà nước ta trong việc quan tâm đến vấn đề hòa giải tranh chấp đất đai ở nước ta hiện nay. Văn bản pháp lý này đã quy định nhiều nội dung phù hợp tạo điều kiện tối đa để cho việc hòa giải tranh chấp đất đai ở nước ta trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Ngoải ra, Luật Hòa giải 2013, Luật đất đai 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã và đang góp phần trong hoạt động hòa giải tranh chấp đất đai hiện nay.

    Hai là, yếu tố về cơ cấu tổ chức các cơ quan có thẩm quyền trong việc hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện pháp luật về vấn đề này. Việc kiện toàn bộ máy tổ chức từ Trung ương xuống địa phương, tổ chức mang tính chất hệ thống chính là điều kiện tiên quyết trong việc bắt buộc các chủ thể có hành vi vi phạm phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật quy định.

    Ba là, yếu tố về con người trong quá hòa giải tranh chấp đất đai cũng góp phần quan trọng không thể tách rời trong hoạt động nói trên. Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, môi trường làm việc, trình độ năng lực của các cán bộ, công chức, Tham khảo miễn phí các tài liệu khác tại luanvantot.com

    cơ sở vật chất là những yếu tố căn bản cho việc hòa giải tranh chấp đất đai. Môi trường làm việc tốt của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong hòa giải tranh chấp đất đai là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của cán bộ, công chức cũng như quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong lĩnh vực này nói riêng và thi hành pháp luật nói chung. Thực tế cho thấy không ít cơ quan, tổ chức, đơn vị có môi trường làm việc, năng lực trình độ của các cán bộ, công chức không tốt dẫn đến những hậu quả có thể nhìn thấy được như: chất lượng, hiệu quả làm việc kém; mất đoàn kết; thậm chí cán bộ, công chức có trình độ, năng lực xin thôi việc hoặc chuyển công tác…

    Bốn là, yếu tố về kinh tế, vật chất đảm bảo cho hoạt động thi hành của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là điều kiện không thể thiếu ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cũng như thực thi pháp luật. Cuối cùng, yếu tố về ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hòa giải tranh chấp đất đai là điều kiện nền tảng cho hoạt động chấp hành pháp luật trong thực tiễn. Chấp hành pháp luật tốt hay không đều xuất phát từ mỗi ý thức của cá nhân, tổ chức nói chung. Việc xác định các yếu tố có liên quan trong quá trình hòa giải tranh chấp đất đai có tác động qua lại, tương hỗ và phối hợp lẫn nhau. Do vậy, trong quá trình thực hiện thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các chủ thể có liên quan cần vận dụng và thực hiện một cách hợp lý nhằm đảm bảo để có kết quả cao trong thực tiễn thi hành.