Chiếm hữu và sử dụng thuật ngữ chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự 2015
Lương Lê Minh
Lớp CLC39B, Chương trình Đào tạo Chất lượng cao, Đại học Luật Hà Nội
(Bài viết cho Nội san Luật gia trẻ số 2, tháng 04/2016, Đại học Luật Hà Nội)
Chiếm hữu là một học thuyết pháp lí quan trọng của khoa học luật dân sự, có sự chi phối rất lớn đến khoa học pháp lí và hoạt động lập pháp ở nhiều nước trên thế giới. Với một nền tảng lâu đời được xây dựng từ thời La Mã cổ đại, chế định chiếm hữu giữ vị trí quan trọng trong bộ luật dân sự của nhiều nước tiên tiến như Pháp, Đức, Nhật … Tuy nhiên, ở Việt Nam, mà cụ thể là tại Bộ luật Dân sự 2005, và sau đó là Bộ luật Dân sự mới 2015, qui định về chiếm hữu lại có những điểm đặc thù rất khác so với thế giới. Khó có thể đưa ra những lời giải thích cụ thể cho những sự khác biệt này, và càng không thể phủ nhận hoàn toàn những ưu điểm nhất định của các qui định về chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự. Tuy nhiên, cách qui định mới này có thể gây ra nhiều sự nhầm lẫn.
1. Một tình huống về chiếm hữu
PGS-TS Nguyễn Ngọc Điện đã đưa ra một tình huống điển hình về chiếm hữu: A lấy trộm chiếc túi xách của B, khi đi về thì bị một tên cướp chặn đường, giật lấy túi xách. C là anh trai B nhìn thấy đã can thiệp, giành lại chiếc túi xách trả cho A. Rõ ràng, A không phải là chủ sở hữu của chiếc túi xách, nhưng trước mắt C, A thể hiện như một người có quyền sở hữu với tài sản. Do đó, theo lẽ thông thường, khi A bị giật túi xách thì những người xung quanh như C sẽ phải hành động giúp đỡ A giành lại túi xách [1].
Rõ ràng, bên cạnh quyền sở hữu, trong tình huống kể trên có xuất hiện một tình trạng thực tế, được định danh là chiếm hữu (possesion). Trên phương diện học thuật, chiếm hữu được hiểu là việc một người thể hiện bằng những ứng xử cụ thể các quyền năng đối với một tài sản. Chiếm hữu với tư cách chủ sở hữu là việc một người tỏ ra có các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản. Trong chừng mực nào đó, chiếm hữu được coi là biểu hiện bề ngoài của quyền sở hữu. Biểu hiện ấy có thể phản ánh trung thực nội dung bên trong của quyền, nghĩa là người tỏ ra có quyền cũng thực sự là người có quyền đó, nhưng cũng có thể không, như ví dụ kể trên.
Vậy tại sao lại cần thiết phải có chế định chiếm hữu? Ở đây, cần nhìn rõ bản chất vấn đề: Trong bối cảnh cuộc sống hàng ngày, sẽ rất khó có thể xác định được ai là chủ sở hữu thực sự của tài sản. Khi A đang cầm chiếc túi xách đi trên đường, A là người chiếm hữu, có những ứng xử thể hiện mình là người có quyền đối với tài sản. Có thể đó là túi xách của A, có thể đó là túi A được cho mượn, và dĩ nhiên cũng không loại trừ khả năng A ăn trộm chiếc túi. Như vậy, quan hệ chiếm hữu thực tế giữa A và chiếc túi xách có thể không đồng nhất với quan hệ pháp lí về quyền sở hữu. Nghĩa là: A chỉ thể hiện mình là người có quyền, còn trên thực tế là không.
Tuy nhiên, lại cần lật ngược vấn đề: Khả năng A không phải là người có quyền đối với tài sản có cao không? Chắc chắn là không. Lấy ví dụ: Theo thống kê của Cục Cảnh sát Điều tra về trật tự xã hội, Bộ Công an, trong năm 2014 đã xảy ra 27.180 vụ trộm cắp tài sản [2]. Vậy thì xét trên qui mô cả nước với gần 90 triệu dân, khả năng một người đang có ứng xử thể hiện các quyền năng với tài sản là người thực tế không có quyền sẽ là rất thấp. Do đó, để đảm bảo sự ổn định của quan hệ dân sự, nhất thiết phải công nhận một nguyên tắc: Người có những ứng xử bề ngoài thể hiện quyền năng với tài sản được suy đoán là người có quyền năng đó. Đây là nguyên tắc để bảo vệ số đông, và sẽ có sự sai lệch với một số nhỏ trường hợp. Ví dụ: Khi B tình cờ gặp lại A đang cầm chiếc túi xách của mình, thì B cũng chỉ có thể yêu cầu cơ quan chức năng can thiệp để lấy lại tài sản. Luật pháp ngăn cấm B tự tiện giành lại chiếc túi xách bằng vũ lực, vì đó là một phần trong bối cảnh bình yên của xã hội. Cũng giống như tên cướp đã giật túi xách của A, trong mắt những người xung quanh, B sẽ là tên cướp xâm hại đến tài sản của người khác, và do vậy phải bị ngăn chặn. Nếu không có chế định chiếm hữu, sẽ dẫn đến sự hỗn loạn trong quan hệ dân sự, khi mà trên thực tế không ai có thể chứng minh được quyền sở hữu của mình với tài sản.
2. Chiếm hữu trong tư pháp La Mã cổ đại
Là một nền tư pháp phát triển rực rỡ thời kì cổ đại, tư pháp La Mã đã sớm có những qui định về chiếm hữu. Theo đó, người La Mã phân định rất rõ ràng sở hữu và chiếm hữu. Quyền sở hữu (proprietas) được cấu thành từ ba yếu tố là quyền sử dụng (ius utendi), quyền hưởng lợi (ius fruendi) và quyền định đoạt (ius abutendi)[3], là quyền tuyệt đối của chủ sở hữu với vật (tài sản) [4]. Còn chiếm hữu (possession) được xây dựng bằng hai yếu tố căn bản: yếu tố vật chất khách quan (corpus) là việc thực hiện trên thực tế các hành vi mang tính chất thể hiện quyền năng đối với tài sản và yếu tố ý chí chủ quan (animus) là thái độ tâm lí thể hiện thành cung cách cư xử phù hợp với các quyền năng mà người chiếm hữu tự cho là có được đối với tài sản [5]. Việc chiếm hữu có thể là hợp pháp hoặc không hợp pháp. Song cũng sẽ có những trường hợp chiếm hữu không hợp pháp nhưng ngay thẳng (ví dụ người mua phải của gian mà không biết). Người đang thực tế nắm giữ tài sản sẽ được suy đoán là người chiếm hữu. Đồng thời, người chiếm hữu không có nghĩa vụ phải chứng minh sự chiếm hữu của mình. Người xâm phạm đến sự chiếm hữu sẽ không thể dựa vào quyền sở hữu tài sản của mình để biện minh cho hành vi xâm phạm. Vụ kiện xâm phạm sở hữu sẽ được tách bạch hoàn toàn với vụ kiện xâm hại chiếm hữu. Ngoài ra, luật La Mã cũng thừa nhận một số trường hợp chiếm hữu đặc biệt (chiếm hữu phái sinh) không có đủ hai yếu tố cấu thành corpus và animus, ví dụ như người nắm giữ tài sản cầm cố, người thứ ba nắm giữ tài sản đang tranh chấp …
Cũng cần lưu ý, hình thức chiếm hữu được nêu ở trên được gọi là chiếm hữu luật định (possessio civilis hay possessio ad interdictae). Ý chí chiếm hữu theo hình thức này (animus) thường gặp ở một số người như: chủ sở hữu, người lầm tưởng mình là chủ sở hữu, người có được tài sản từ giao dịch với kẻ gian tự xưng mình là chủ sở hữu, kẻ trộm tuy biết tài sản không phải của mình nhưng cố ý lấy trộm. Điểm chung của những người này là đều thể hiện ý chí coi tài sản chiếm hữu là tài sản của chính mình. Ngược lại, có một số đối tượng như người thuê tài sản, mượn tài sản cũng có sự nắm giữ thực tế tài sản corpus, song không có ý chí chiếm hữu animus, vì họ chỉ coi đó là tài sản của người khác mà mình mượn được, thuê về sử dụng. Như vậy, họ chỉ được coi là người chiếm giữ thực tế (detentores). Hình thức chiếm hữu này được gọi là chiếm hữu tự nhiên (possessio naturales). Người chiếm giữ thực tế sẽ không được bảo vệ sự chiếm hữu như những người chiếm hữu theo luật định, mà sẽ phải dựa vào chủ sở hữu tài sản [6]. Còn người chiếm hữu theo luật định sẽ có phương thức bảo vệ riêng là điều quan cấm (interdictio). Đó là những chỉ định của quan tòa về việc chấm dứt không chậm chễ những hành vi xâm phạm đến trật tự xã hội và lợi ích cá nhân. Một trong những đặc trưng của việc bảo vệ chiếm hữu này là trong quá trình xét xử không đòi hỏi phải chứng minh quyền đối với vật bị chiếm hữu. Để việc chiếm hữu được bảo vệ chỉ cần xác định sự kiện chiếm hữu và sự kiện xâm phạm chiếm hữu. Trong tranh chấp về chiếm hữu, nếu một bên chứng minh được mình đang chiếm giữ vật trên thực tế thì cho phép suy đoán là anh ta có ý chí chiếm hữu và phía bên kia phải chứng minh rằng người đó chiếm giữ vật mà không dựa trên cơ sở pháp lí về chiếm hữu [7].
3. Chiếm hữu trong pháp luật châu Âu hiện đại
Trên nền tảng lí luận của luật La Mã, nhiều nước châu Âu đã xây dựng chế định riêng về chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự của mình.
Bộ Dân luật Napoleon 1804 chịu nhiều ảnh hưởng của trường phái chiếm hữu chủ quan (subjective possession) do Savigny – nhà triết học pháp lí người Đức sáng lập. Trường phái này đề cao yếu tố ý chí chiếm hữu animus, chỉ khi người đang nắm giữ tài sản tự xưng mình là chủ sở hữu tài sản thì mới được coi là có tình trạng chiếm hữu, còn trong trường hợp người đó thể hiện vị thế không phải là chủ sở hữu, chẳng hạn như người thuê, mượn tài sản thì Bộ luật Dân sự Pháp chỉ thừa nhận tình trạng chiếm hữu tạm thời (détention précaire). Rõ ràng, Bộ luật Dân sự Pháp thể hiện dấu ấn rất lớn của quan niệm phân loại chiếm hữu luật định và chiếm giữ thực tế trong luật La Mã.
Ngược lại, Bộ luật Dân sự Đức lại chịu ảnh hưởng của trường phái chiếm hữu khách quan (objective possession) do Ihering – nhà triết học pháp lí người Đức sáng lập, đề cao yếu tố hành vi nắm giữ thực tế corpus. Tất cả những ai thực hiện việc nắm giữ tài sản để phục vụ lợi ích của riêng mình đều được thừa nhận có tư cách người chiếm hữu. Bởi vậy, chỉ không coi là có quan hệ chiếm hữu những trường hợp nắm giữ tài sản bởi những người hoàn toàn phụ thuộc vào mệnh lệnh của người khác, như người lái xe cho chủ, người quản gia, thủ quỹ… Trong khi đó, người thuê, mượn tài sản, người nhận kí gửi đều được trao tư cách người chiếm hữu [8].
Theo đánh giá của PGS-TS Nguyễn Ngọc Điện, dù có những khác biệt nhất định, nhưng qui định về chiếm hữu được thừa nhận ở ba điểm đáng chú ý nhất. Thứ nhất là tạo ra sự suy đoán có lợi cho người chiếm hữu mỗi khi có tranh chấp về quyền với tài sản. Nghĩa là: Khi mà vấn đề về quyền sở hữu không được đặt ra, thì người chiếm hữu đương nhiên được suy đoán là có quyền với tài sản, và do đó đương nhiên được pháp luật bảo vệ. Thứ hai, người chiếm hữu sẽ được hưởng sự bảo vệ chống lại mọi sự quấy nhiễu bên ngoài. Thứ ba, người chiếm hữu sẽ có thể được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu, kể cả với một số trường hợp chiếm hữu không ngay tình. Dĩ nhiên, thời hiệu để xác lập quyền sở hữu với trường hợp này sẽ dài hơn nhiều so với chiếm hữu ngay tình, tuỳ theo sự đánh giá của nhà làm luật về chất lượng đạo đức của sự chiếm hữu không ngay tình [9].
4. Về sử dụng thuật ngữ “chiếm hữu” trong Bộ luật Dân sự 2015
Giống như điều 164 của Bộ luật Dân sự 2005, điều 158 của Bộ luật Dân sự 2015 cũng qui định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo qui định của pháp luật.” Rõ ràng, trong khi Bộ luật Dân sự của các nước châu Âu tiên tiến như Pháp hay Đức đều qui định chiếm hữu (possession) độc lập với sở hữu (ownership), thì trong Bộ luật Dân sự Việt Nam, yếu tố chiếm hữu lại gắn chặt với quyền sở hữu.
Có thể thấy rằng, cách qui định này rất giống với khoản 1, điều 209 Bộ luật Dân sự 1995 của Liên bang Nga: “Chủ sở hữu có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của mình.” (Собственнику принадлежат права владения, пользования и распоряжения своим имуществом). Trong khi đó, Bộ luật Dân sự của Pháp và Đức lại có qui định hoàn toàn khác. Điều 544, Dân luật Napoleon 1804 đưa ra định nghĩa quyền sở hữu là “quyền hưởng dụng và định đoạt tài sản một cách tuyệt đối nhất” (La propriété est le droit de jouir et disposer des choses de la manière la plus absolue). Như vậy thì nội dung quyền sở hữu của Bộ luật Dân sự Pháp giống như nội dung quyền sở hữu proprietas của luật La Mã, bao gồm quyền sử dụng, hưởng lợi và định đoạt, còn quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 lại bao gồm cả quyền chiếm hữu possession và quyền sở hữu proprietas.
Tuy nhiên, bên cạnh việc qui định quyền chiếm hữu như một nội hàm của quyền sở hữu (giống như quyền ius dententio trong dân luật La Mã cổ đại), Bộ luật Dân sự 2015 lại có thêm chương XII về chiếm hữu. Thực chất, đây chính là các qui định về tình trạng chiếm hữu (tức possession). Tuy nhiên, việc cả hai khái niệm này đều được gọi bằng “chiếm hữu” sẽ gây ra khó khăn rất lớn cho việc áp dụng pháp luật trên thực tế. Điều 182 Bộ luật Dân sự 2005 chỉ định nghĩa đơn giản: “Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lí tài sản”. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự 2015 lại không đưa ra định nghĩa về quyền chiếm hữu dưới góc độ nội hàm của quyền sở hữu, mà lại chỉ định nghĩa về trạng thái chiếm hữu – hay “việc chiếm hữu” – “là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản”. Phân tích định nghĩa này, rất khó có thể có căn cứ để phân định rõ ràng đâu là quyền chiếm hữu, và đâu là trạng thái chiếm hữu. Có chăng chỉ là cụm từ “như chủ thể có quyền đối với tài sản”, cho thấy trạng thái này có thể có ở bất cứ ai chứ không phải những người có quyền về mặt pháp lí đối với tài sản.
Một số qui định về chiếm hữu trước đây nằm ở Mục 1, Chương XII: Nội dung quyền sở hữu của Bộ luật Dân sự 2005 như chiếm hữu liên tục, chiếm hữu công khai, chiếm hữu ngay tình … đã được chuyển sang qui định tại Chương XII: Chiếm hữu của Bộ luật Dân sự 2015. Điều này có thể cho thấy sự thay đổi về tư duy lập pháp khi xác lập hai khái niệm: trạng thái chiếm hữu và quyền chiếm hữu nằm trong quyền sở hữu. Qui định tại điều 184 về suy đoán chiếm hữu, điều 185 về bảo vệ việc chiếm hữu là những qui định rất mới và tiến bộ, phù hợp với xu hướng lập pháp thế giới.
Tuy nhiên, những thay đổi này nếu muốn đi vào cuộc sống, trước hết cần được gọi tên một cách rõ ràng để dễ phân biệt. Có thể tham khảo cách biên dịch hai từ possessio thành “chiếm hữu” và dententio thành “chiếm giữ” của PGS-TS Bùi Đăng Hiếu, để từ đó qui định về chiếm hữu như một trạng thái nắm giữ, chi phối tài sản của chủ thể được suy đoán là có quyền với tài sản, còn chiếm giữ sẽ là một nội hàm nằm trong quyền sở hữu tài sản. Cần thiết phải có sự minh định về từ ngữ, nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống.
[1] Nguyễn Ngọc Điện, Quyền sở hữu và quyền chiếm hữu – bài học về tình huống luật xa rời thực tiễn, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 2+3/2013.
[2] Theo báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh điện tử: http://www.congan.com.vn
[3] George Mousourakis, Fundamentals of Roman private law, Nxb. Springer, 2012, tr.126
[4] Theo PGS-TS Bùi Đăng Hiếu, đến thời cộng hòa La Mã, khái niệm quyền sở hữu đã được mở rộng, bao gồm: quyền chiếm hữu tự nhiên (hay quyền chiếm giữ – ius dententio), quyền sử dụng (ius utendi), quyền hưởng dụng lợi ích (ius fruendi), quyền định đoạt (ius abutendi), quyền kiện đòi vật từ tay người khác (ius vindicandi).
Xem thêm: Bùi Đăng Hiếu, Quá trình phát triển khái niệm quyền sở hữu, Tạp chí Luật học số 5/2003.
[5] Nguyễn Ngọc Điện, Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14/2010.
[6] Có thể lí giải về qui định này dưới thời La Mã là để nhằm gia tăng sự phụ thuộc của nông dân lĩnh canh vào chủ đất
[7] Nguyễn Thị Quế Anh, Khái luận về quyền chiếm hữu, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 2/2013
[8] Nguyễn Ngọc Điện, Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14/2010
[9] Nguyễn Ngọc Điện, Xây dựng lại chế định chiếm hữu bằng chất liệu khoa học phù hợp, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 14/2010


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


