Bàn về một số hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2005

Bàn về một số hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2005

(ThanhtraVietnam) – Đã 7 năm kể từ khi Luật DN 2005 có hiệu lực, không thể phủ nhận những giá trị to lớn kể từ khi văn bản này ra đời, tuy nhiên, cùng với sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế, xã hội trong nước, cũng như những biến chuyển của quy định pháp lý trong và ngoài nước thời gian qua thì dường như, có không ít các quy định của văn bản này đã trở nên lỗi thời, lạc hậu hoặc nội dung quy định không rõ ràng gây khó khăn trong quá trình áp dụng Luật.

Thứ nhất, phần các quy định chung

Thứ nhất, phần các quy định chung

* Về trách nhiệm trong việc định giá sai giá trị thực tài sản góp vốn của thành viên.

Hành vi cố ý định giá tài sản góp vốn không đúng giá trị thực tế là một trong các hành vi bị cấm được quy định tại Khoản 4 điều 11 Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp hiện nay không quy định rõ vấn đề trách nhiệm của các chủ thể nếu hành vi cố ý vi phạm điều cấm này như thế nào, Tại khoản 2 Điều 30 Luật Doanh nghiệp quy định: “Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí; nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá.”

Như vậy, căn cứ vào Khoản 2 Điều 30 Luật Doanh nghiệp thì các chủ thể cố tình định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn phải liên đới chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, các thành viên sẽ chịu trách nhiệm liên đới như thế nào!? Trong tình huống này có 2 cách hiểu về trách nhiệm liên đới: hoặc trách nhiệm này được chia đều cho các thành viên đã cố ý định giá sai tài sản góp vốn  đó, hoặc trách nhiệm được chia tương ứng với tỷ lệ vốn góp của mỗi thành viên trong công ty, có nghĩa là sẽ có thành viên chịu trách nhiệm nhiều hơn, thành viên chịu phần trách nhiệm ít hơn tương ứng với phần giá trị vốn góp họ sở hữu hoặc cam kết góp vào công ty. Do đó, cần làm rõ quy định về phạm vi trách nhiệm liên đới trong luật Doanh nghiệp để tiện cho việc áp dụng và nghiên cứu luật pháp của người dân và các nhà đầu tư, cũng như cán bộ công quyền.

Thứ hai, phần công ty Trách nhiệm hữu hạn.

Công ty TNHH là một loại hình doanh nghiệp phổ biến được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn thành lập trong thời gian qua. Tuy nhiên, dưới góc độ cá nhân, tác giả nhận thấy quy chế pháp lý của loại hình doanh nghiệp này trong Luật DN Việt Nam 2005 tồn tại rất nhiều vấn đề cần phải làm rõ.

* Về thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp

Việc thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp được quy định tại Điều 39 của Luật doanh nghiệp, trong đó, tại khoản 3 Điều 39 quy định “Sau khi số vốn còn lại được góp đủ theo quy định tại khoản này, thành viên chưa góp vốn theo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty” là chưa hợp lý. Việc chưa góp vốn đúng với cam kết của thành viên có thể được chia làm 2 trường hợp như sau:

– Trường hợp 1: khi thành lập doanh nghiệp, thành viên cam kết góp vốn nhưng đến thời hạn cam kết vẫn không góp được đồng vốn nào và các thành viên còn lại thỏa thuận góp thay thế số vốn đó thì khi đó, thành viên không góp vốn đương nhiên không còn là thành viên công ty.

– Trường hợp 2: thành viên cam kết góp vốn nhưng không có khả năng góp đủ số vốn đã cam kết thì sau khi các thành viên còn lại góp thay thế phần vốn thiếu đó, thành viên cam kết góp vốn vẫn sẽ là thành viên công ty nhưng công ty phải thông báo lại việc thay đổi tỷ lệ vốn góp của từng thành viên cho cơ quan đăng ký kinh doanh, đồng thời có thể đưa ra biện pháp chế tài đối với hành vi vi phạm cam kết góp vốn của thành viên (quy định tại điều lệ công ty).

* Về thời hạn góp vốn khi thành lập doanh nghiệp

Điều 80 Luật Doanh nghiệp quy định thời hạn góp vốn của cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua trong công ty cổ phần là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trong khi đó, thời hạn góp vốn đối với thành viên của công ty TNHH lại là trong vòng 36 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp(1). Việc quy định thời hạn góp vốn của thành viên công ty TNHH quá dài như trên dẫn đến việc nhiều công ty TNHH không trung thực trong việc góp vốn bằng cách “khai khống”, “khai ảo” vốn điều lệ, lợi dụng kẽ hở này để tham gia các dự án, giao dịch có giá trị lớn, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, luật DN cần sửa đổi theo hướng hạn chế thời hạn góp vốn của các công ty TNHH, có thể áp dụng thời hạn 90 ngày như đối với công ty cổ phần. 

* Về phạm vi và quyền lợi của người được tặng cho phần vốn góp.

Pháp luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam từ trước đến nay đều thừa nhận nguyên tắc bình đẳng giữa cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi; không phân biệt giữa con nuôi – con đẻ, cha mẹ đẻ – cha mẹ nuôi (đương nhiên, quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi tôi đề cập ở đây là quan hệ nhận nuôi hợp pháp, đã được pháp luật thừa nhận), tuy nhiên, không rõ cơ sở pháp lý và cơ sở thực tế nào dẫn đến việc Khoản 5, Điều 45, Luật Doanh nghiệp quy định “người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba thì họ đương nhiên là thành viên của công ty” nhưng rõ ràng, việc chỉ sử dụng căn cứ “huyết thống” để xác định phạm vi người được tặng cho và quyền lợi (trở thành thành viên công ty) của người được tặng cho là không hợp lý. Thiết nghĩ, Luật Doanh nghiệp cần sớm xóa bỏ quy định thiếu hợp lý này để góp phần khắc phục phần nào sự mâu thuẫn nội dung quy định giữa các văn bản pháp luật hiện nay.

* Sự khác nhau giữa quyền của chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên là tổ chức và quyền của chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên là cá nhân.

Tại khoản 1 Điều 64 quy định quyền của chủ sở hữu công ty là tổ chức, trong đó, điểm h ghi rõ quyền: “Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác”. Tương ứng với nó, khi xét quyền của chủ sở hữu công ty là cá nhân thì điểm c khoản 2 Điều 64 lại ghi nhận, chủ sở hữu có quyền “Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác”.  Vậy, nếu dựa vào quy định trên của Điều 64 thì trong công ty TNHH 1 thành viên do cá nhân là chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty sẽ không có quyền quyết định việc tăng vốn điều lệ của công ty. Trong khi đó, rõ ràng, Luật doanh nghiệp 2005 chỉ hạn chế quyền giảm vốn điều lệ của chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên và không hề cấm công ty TNHH 1 thành viên nói chung được tăng vốn điều lệ. Mặt khác, theo suy nghĩ chủ quan của tác giả, tăng vốn điều lệ để mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng cơ hội tìm kiếm lợi nhuận là một việc làm hoàn toàn chính đáng và rất cần khuyến khích đối với các doanh nghiệp có khả năng. Do vậy, cần bổ sung quyền “Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty” cho chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên là cá nhân trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 để phù hợp với tinh thần của luật và đáp ứng nhu cầu thực tiễn doanh nghiệp.

* Về việc chuyển nhượng vốn góp

Khác với công ty Cổ phần quy định việc tự do chuyển nhượng vốn góp của các cổ đông, quy chế công ty TNHH tạo ra một số rào cản, hạn chế nhất định đối với việc chuyển nhượng vốn góp của thành viên công ty. Nếu thành viên công ty TNHH muốn chuyển nhượng phần vốn của mình cho người khác thì trước tiên phải đảm bảo rao bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại, khi thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật DN thì việc mua bán phần vốn góp với các chủ thể bên ngoài khác mới được coi là hợp pháp. Tuy nhiên, một điểm lưu ý là luật không quy định rõ việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là thành viên công ty có cần trong cùng điều kiện với việc chuyển nhượng phần vốn đó cho các thành viên công ty hay không.

* Vốn điều lệ trong công ty TNHH một thành viên

Vốn điều lệ trong công ty là gì? Khoản 6, Điều 4 Luật Doanh nghiệp định nghĩa: “Vốn điều lệ là số vốn do các thành viên, cổ đông góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định và được ghi vào Điều lệ công ty.” Trong khi đó, Khoản 1 Điều 63 Luật DN lại định nghĩa: “Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty”. Tuy nhiên, việc gọi vốn kinh doanh trong công ty TNHH một thành viên là vốn điều lệ là không hợp lý. Bởi vốn điều lệ là số vốn do các thành viên góp vào công ty nhưng thực tế, công ty TNHH một thành viên chỉ có một thành viên duy nhất hay chính là một chủ sở hữu công ty, như vậy, vốn này chỉ nên gọi là vốn đầu tư giống Doanh nghiệp tư nhân hay vốn cam kết (cam kết của chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đó) thì sẽ hợp lý hơn.

Thứ 3, đối với công ty Cổ phần

* Về Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ)

Liên quan đến triệu tập ĐHĐCĐ, đối với các công ty đại chúng có vài nghìn, thậm chí là vài triệu cổ đông thì việc triệu tập toàn bộ cổ đông là việc không hề đơn giản. Trước việc số lượng cổ đông quá lớn như trên, thời gian qua thực tế đã có một số công ty Cổ phần tự đưa ra quy chế của riêng mình, trong đó quy định chỉ cổ đông sở hữu một số lượng cổ phần nhất định mới được quyền tham dự ĐHĐCĐ, quy định này là trái với quy định của pháp luật doanh nghiệp hiện hành, tuy nhiên, đã và đang có những doanh nghiệp áp dụng vì nó phù hợp với thực tế của doanh nghiệp. Ngược lại, có những doanh nghiệp lớn để đảm bảo thực hiện đúng yêu cầu pháp luật, hàng năm tổ chức ĐHĐCĐ, công ty vẫn gửi thông báo dự họp đến tất cả các cổ đông, tuy nhiên, thực tế cũng chứng minh rằng: số cổ đông đến dự họp chỉ bao gồm các cổ đông lớn, những cổ đông nhỏ lẻ dường như rất ít quan tâm đến cuộc họp này vì cho rằng lượng cổ phần mình sở hữu không đáng bao nhiêu giá trị trước các quyết định của ĐHĐCĐ. Xuất phát từ thực tế đó, Luật Doanh nghiệp cần bổ sung cơ chế để đảm bảo cho việc họp ĐHĐCĐ được thuận lợi hơn. Quy định nhóm các cổ đông riêng lẻ sở hữu tỷ lệ cổ phần dưới một tỷ lệ nhất định bắt buộc phải ủy quyền dự họp đối với công ty cổ phần có trên 100 cổ đông cũng là một giải pháp có thể cân nhắc đến.

* Về việc thành lập ban kiểm soát khi công ty cổ phần có cổ đông là tổ chức

Cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần được quy định tại Điều 95 Luật Doanh nghiệp, trong đó yêu cầu việc thành lập Ban kiểm soát: “…đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty” Quy định này chưa rõ ràng bởi sẽ có hai cách hiểu: một là, chỉ khi công ty có một cổ đông là tổ chức nắm giữ trên 50% tổng số cổ phần của công ty mới cần thành lập Ban kiểm soát; hai là, gộp tất cả số cổ đông là tổ chức của công ty, nếu nắm trên 50%  tổng số cổ phần của công ty thì khi đó công ty mới cần thành lập Ban kiểm soát.

Thứ tư, đối với doanh nghiệp tư nhân (DNTN)

* Về trách nhiệm của chủ DNTN khi cho thuê doanh nghiệp.

Điều 144 Luật Doanh nghiệp quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình… Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp”.

Vấn đề đặt ra là phạm vi trách nhiệm của chủ doanh nghiệp trong trường hợp này nên được hiểu như thế nào, toàn bộ hay một phần trách nhiệm. Nếu hiểu theo văn từ thì mặc dù đã cho thuê, chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm như không hề có sự thuê mướn này. Đây là một điều trái với nguyên tắc pháp lý thông thường trong việc cho thuê tài sản. Sự thực chủ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về tài sản cho thuê và không chịu trách nhiệm về công việc khai thác tài sản này. Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ bảo đảm cho người thuê sử dụng ổn định cơ sở kinh doanh. Nghĩa vụ này bao gồm: bảo đảm cho người thuê không bị quấy nhiễu trong thời gian thuê, bảo đảm các hư hỏng của cơ sở kinh doanh.

* Về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp tư nhân

Bên cạnh chuyển đổi qua lại công ty TNHH và công ty cổ phần theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, thì nay nhà đầu tư còn được phép chuyển đổi từ doanh nghiệp tư nhân sang công ty TNHH (một thành viên hoặc hai thành viên trở lên). Quy định này, theo tôi, cần phải được xem xét trên các góc độ sau:

Một là, việc cho phép DNTN chuyển đổi sang mô hình công ty TNHH được quy định tại Nghị định số 102/2010/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật DN là mâu thuẫn với Luật Doanh nghiệp 2005, vì Điều 154 Luật Doanh nghiệp chỉ cho phép chuyển đổi qua lại giữa công ty TNHH và công ty cổ phần, không có trường hợp chuyển đổi giữa doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH. 

Hai là, việc cho phép doanh nghiệp tư nhân được chuyển đổi sang công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên nhưng lại không cho phép doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi thành công ty cổ phần lại chưa thực sự hợp lý. Nếu đã cho phép doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi thành công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên, thì cũng nên cho phép doanh nghiệp tư nhân chuyển đổi sang thành công ty cổ phần nếu họ đáp ứng được các yêu cầu về số lượng cổ đông, tổ chức quản lý… theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, điều đó sẽ tiết kiệm được cho nhà đầu tư được thời gian, công sức vì nhà đầu tư không cần phải giải thể doanh nghiệp tư nhân để thành lập mới công ty cổ phần hay đi đường vòng như: chuyển đổi DNTN sang công ty TNHH rồi lại chuyển công ty TNHH sang công ty Cổ phần.

 Pháp luật nói chung và Luật doanh nghiệp nói riêng với vai trò là cơ sở để bảo đảm cho các loại hình doanh nghiệp được phát triển một cách bình đẳng, đem lại lợi ích cho nhà nước, lợi ích công và cho bản thân Doanh nghiệp. Vì vậy, trước những biến chuyển của nền kinh tế, xã hội trong nước và quốc tế trong thời gian qua, trải qua thực tiễn hơn 7 năm áp dụng, thiết nghĩ Luật Doanh nghiệp đã đến lúc cần được rà soát lại, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp và yêu cầu của quản lý nhà nước.

Ths. Lưu Thị Tuyết

 Giảng viên Học viện Chính sách và Phát triển