Bài tập Business Analysis Cá nhân – Statement Analysis – Studocu
BÀI TẬP
CÁ NHÂN
1)
Analyzing
the
external
environment:
PESTLE
analysis
or
Porter
’
s
Five
Forces model
PESTLE analysis
Political (Chính trị):
–
Cơ
chế
chính
trị
tác
động
đến
tất
cả
các
khâu
từ
đầu
vào
đến
quá
trình
đào
tạo
và
đầu
ra
của các trường cao đẳng, đại học.
–
Cơ
chế,
chính
sách
của
nhà
nước
ảnh
hưởng
rất
lớn
đến
sự
phát
triển
của
giáo
dục
đại
học,
cao
đẳng
và
đào
tạo
nghề
cả
về
quy
mô,
cơ
cấu
và
chất
lượng
đào
tạo.
Sự
tác
động
của
cơ
chế,
chính
sách
của
nhà
nước
đến
chất
lượng
đào
tạo
nghề
thể
hiện
ở
các
khía
cạnh sau:
+
Khuyến
khích
hay
kìm
hãm
mức
độ
cạnh
tranh
trong
đào
tạo,
tạo
ra
môi
trường
bình
đẳng
cho
các
cơ
sở,
các
trường
đại
học
đào
tạo
cùng
phát
triển
nâng
cao
chất
lượng.
Khuyến
khích
hay
kìm
hãm
việc
huy
động
các
nguồn
lực
để
cải
tiến
nâng
cao
chất
lượng
cũng
như
mở
rộng
liên
kết,
hợp
tác
quốc
tế
trong
công
tác
đào
tạo.(
Luật
GDĐH
sửa
đổi
phân
ra
HĐT
ở
các
trường
công
lập
và
tư
thục
trong
hai
điều
mục
riêng
:
chủ
tịch
HĐT
không
được
kiêm
nhiệm
các
chức
vụ
quản
lý
trong
trường
(không
chỉ
giới
hạn
trong
vị
trí
hiệu
trưởng/phó
hiệu
trưởng
như
trước
đây);
và
thành
viên
HĐT
bao
gồm
25%
trên
tổng
số
là
giảng
viên,
30%
là
người
ngoài
trường.
Đây
là
một
điểm
tiến
bộ
đáng
ghi
nhận,
thể
hiện
đúng
tinh
thần
“trường
đại
học
là
một
tổ
chức
của
nhiều
bên
liên
quan”.
Mô
hình
“các
bên”
có
mục
tiêu
nâng
cao
hiệu
quả
hoạt
động
trên
cơ
sở
tương
tác
giữa
các
bên,
phù
hợp
với
bản chất của trường đại học).
+
Các
chính
sách
về
đầu
tư,
về
tài
chính
đối
với
các
cơ
sở
đào
tạo,
hệ
thống
đánh
giá,
kiểm
định,
các
chuẩn
mực
đánh
giá
chất
lượng
đào
tạo,
quy
định
về
quản
lý
chất
lượng
đào
tạo
và
cơ
quan
chịu
trách
nhiệm
giám
sát
việc
kiểm
định
chất
lượng
đào
tạo.(Tỷ
lệ
chi
ngân
sách
cho
giáo
dục
hàng
năm
của
Việt
Nam
ở
mức
xấp
xỉ
20%,
tương
đương
5%
GDP
.
Đây
là
mức
rất
cao
so
với
nhiều
nước
trên
thế
giới,
kể
cả
các
nước
có
trình
độ
phát
triển
kinh tế cao hơn Việt Nam rất nhiều).
+
Các
chính
sách
về
lao
động,
việc
làm
và
tiền
lương
lao
động,
chính
sách
đối
với
giáo
viên
và học sinh bậc cao đẳng, đại học.
Economic (Kinh tế):
–
T
rong
những
năm
qua,
tăng
trưởng
kinh
tế
đã
tạo
cơ
sở
vật
chất
quan
trọng
cho
sự
phát
triển
trong
lĩnh
vực
giáo
dục-đào
tạo.
Giáo
dục
đại
học
và
đào
tạo
nghề
cũng
có
sự
gia
tăng
nhanh
về
quy
mô.
Theo
Tổng
cục
Thống
kê,
tính
đến
hết
tháng
8/2009,
cả
nước
có
376
trường
đại
học,
học
viện
và
trường
cao
đẳng
(bao
gồm
150
trường
đại
học,
học
viện
và
226
trường
cao
đẳng),
vượt
xa
con
số
96
cơ
sở
đào
tạo
vào
năm
1996.
Sự
gia
tăng
về
quy
mô
đào
tạo
nguồn
nhân
lực
đã
phần
nào
đáp
ứng
nhu
cầu
nhân
lực
theo
mục
tiêu
tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.
–
Giáo
dục
ở
bậc
cao
đẳng,
đại
học
và
sau
đại
học
có
vai
trò
quan
trọng
trong
việc
thúc
đẩy
tăng
trưởng
kinh
tế
nói
chung
và
kinh
tế
các
tỉnh
miền
Nam
nói
riêng,
đặc
biệt
ở
nhóm
các
tỉnh có thu nhập cao.
–
Giáo
dục
có
trách
nhiệm
tạo
ra
nền
tảng
tri
thức,
đào
tạo
nguồn
nhân
lực,
tức
là
trực
tiếp
tạo
ra
vốn
con
người.
T
rong
bối
cảnh
kinh
tế
tri
thức,
dịch
chuyển
kinh
tế
toàn
cầu,
sự
cạnh
tranh
giữa
các
nước
sẽ
là
cạnh
tranh
về
giáo
dục.
Một
lưu
ý
quan
trọng
là
không
nên
kỳ
vọng
về
một
tác
động
tức
thì
của
sự
phát
triển
giáo
dục
đối
với
phát
triển
kinh
tế.
Điều
này
có
thể
mất
nhiều
thời
gian
nhưng
giáo
dục
dường
như
là
một
sự
đầu
tư
đáng
được
thực hiện trong dài hạn.
Sociocultural (Văn hóa xã hội):
–
Văn
hóa
là
một
khái
niệm
rộng
lớn
và
cũng
là
yếu
tố
tác
động
mạnh
mẽ
tới
nhiều
lĩnh
vực
trong
đời
sống
trong
đó
giáo
dục
là
một
trong
những
lĩnh
vực
mà
chịu
sự
ảnh
hưởng
nhiều


















![Toni Kroos là ai? [ sự thật về tiểu sử đầy đủ Toni Kroos ]](https://evbn.org/wp-content/uploads/New-Project-6635-1671934592.jpg)


