AN TOÀN SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT

Thuốc BVTV là tên gọi chung để chỉ các hóa chất dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm mục đích diệt sâu bệnh, cỏ dại, côn trùng và động vật gặm nhấm để bảo vệ sản xuất và bảo quản nông lâm sản.

PHẦN I:

SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ

 

  1. Định nghĩa “Thuốc bảo vệ thực vật”:

“Thuốc bảo vệ thực vật” (BVTV) hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật. Những sinh vật gây hại chính gồm sâu hại, bệnh hại, cỏ dại, chuột và các tác nhân khác.

  1. Các Nhóm “Thuốc BVTV”:

“Thuốc BVTV” được chia thành nhiều nhóm dựa trên đối tượng sinh vật hại.

Thuốc BVTV là tên gọi chung để chỉ các hóa chất dùng trong nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm mục đích diệt sâu bệnh, cỏ dại, côn trùng và động vật gặm nhấm để bảo vệ sản xuất và bảo quản nông lâm sản.

  1. Phân loại thuốc bảo vệ thực vật: Có nhiều cách phân loại thuốc BVTV, trong đó có bốn cách phân loại chủ yếu sau đây.
  2. Phân loại theo mục đích sử dụng.

– Nhóm các chất trừ sâu, trừ nhện, trừ côn trùng gây hại:

+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan

+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, Monitor,…

+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa

+ Nhóm các hợp chất sinh học: Pyrethroid, Permetrin..

– Nhóm các chất trừ nấm, trừ bệnh, trừ vi sinh vật gây hại:

+ Các hợp chất chứa đồng

+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh

+ Các hợp chất chứa thủy ngân

+ Một số loại khác

– Nhóm các chất trừ cỏ dại, làm rụng lá, kích thích sinh trưởng:

+ Các hợp chất chứa Phênol (2,4- D)

+ Các hợp chất của axits propyonic (Dalapon)

+ Các dẫn xuất của cacbamat (ordram)

+ Triazin

– Nhóm các chất diệt chuột và động vật gặm nhấm: Photphua kẽm và Warfarin.

  1. Phân loại theo nguồn gốc sản xuất và cấu trúc hóa học

– Thuốc BVTV có nguồn gốc hữu cơ

+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa Clo: DDT, Clodan

+ Nhóm các chất trừ sâu có chứa phốt pho: Wophatox, Diazinon, Malathion, + Monitor,…

+ Nhóm các hợp chất cacbamat: Sevin, Furadan, Mipcin, Bassa,…

+ Các chất trừ sâu thủy ngân hữu cơ

+ Các dẫn xuất của hợp chất nitro

+ Các dẫn xuất của urê

+ Các dẫn xuất của axít propioníc

+ Các dẫn xuất của axít xyanhydríc

– Các chất trừ sâu vô cơ

+ Các hợp chất chứa đồng

+ Các hợp chất chứa lưu huỳnh

+ Các hợp chất chứa thủy ngân

+ Một số loại khác

+ Các chất trừ sâu có nguồn gốc thực vật là ancaloid, thực vật có chứa nicotin, anabazin, pyrethroid

  1. Phân loại nhóm độc theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG)

Các chuyên gia về độc học đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất độc lên cơ thể động vật ở cạn (chuột nhà) và đã đưa ra 5 nhóm độc theo tác động của độc tố tới cơ thể qua miệng và da như sau:

– LD50: Chỉ số biểu thị độ độc cấp tính của một loại thuốc BVTV đối với động vật máu nóng (đơn vị tính là mg chất độc/kg trọng lượng chuột). Chỉ số LD50 chính là lượng chất độc gây chết 50% số cá thể chuột trong thí nghiệm. LD50 càng thấp thì độ độc càng cao.

 

 

+ Băng màu: Theo quy định nhãn thuốc phải có băng màu tương ứng với độc của thuốc.

(1) Nhóm Ia, Ib: Băng màu đỏ (code PMS red 199C).

(2) Nhóm II: Băng màu vàng (code PMS yellow C).

(3) Nhóm III: Băng màu xanh da trời (code PMS blue 293 C).

(4) Nhóm IV: Băng màu xanh lá cây (code PMS green 347 C).

  1. Phân loại theo độ bền vững

Các hóa chất BVTV có độ bền vững rất khác nhau, nhiều chất có thể lưu đọng trong môi trường đất, nước, không khí và trong cơ thể động, thực vật. Do vậy các hóa chất BVTV có thể gây những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người. Dựa vào độ bền vững của chúng, có thể sắp xếp chúng vào các nhóm sau:

– Nhóm chất không bền vững: Nhóm này gồm các hợp chất phốt pho hữu cơ, cacbamat. Các hợp chất nằm trong nhóm này có độ bền vững kéo dài trong vòng từ 1-12 tuần.

– Nhóm chất bền vững trung bình: Các hợp chất nhóm này có độ bền vững từ 1- 18 tháng. Điển hình là thuốc diệt cỏ 2,4D (thuộc loại hợp chất có chưa Clo).

– Nhóm chất bền vững: các hợp chất nhóm này có độ bền vững từ 2-5 năm. Thuộc nhóm này là các loại thuốc trừ sâu đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam là DDT, 666 (HCH),… Đó là các hợp chất Clo bền vững.

– Nhóm chất rất bền vững: Đó là các hợp chất kim loại hữu cơ, loại chất này có chứa các kim loại nặng như Thủy ngân (Hg), asen (As),… Các kim loại nặng Hg và As không bị phân hủy theo thời gian, chúng đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam.

  1. Các dạng thuốc BVTV

Dạng thuốc

Chữ viết tắt

Thí dụ

Ghi chú

Nhũ dầu

ND, EC

Tilt 250 ND, Basudin 40 EC,
DC-Trons Plus 98.8 EC

Thuốc ở thể lỏng, trong suốt. Dễ bắt lửa cháy nổ

Dung dịch

DD, SL, L, AS

Bonanza 100 DD, Baythroid 5 SL, Glyphadex 360 AS

Hòa tan đều trong nước, không chứa chất hóa sữa

 

Bột hòa nước

BTN, BHN, WP, DF, WDG, SP

Viappla 10 BTN, Vialphos 80 BHN, Copper-zinc 85 WP,
Padan 95 SP

Dạng bột mịn, phân tán trong nước thành dung dịch huyền phù

Huyền phù

HP, FL, SC

Appencarb super 50 FL,

Carban 50 SC

Lắc đều trước khi sử dụng

Hạt

H, G, GR

Basudin 10 H,
Regent 0.3 G

Chủ yếu rãi vào đất

Viên

P

Orthene 97 Pellet,
Deadline 4% Pellet

Chủ yếu rãi vào đất, làm bả mồi.

Thuốc phun bột

BR, D

Karphos 2 D

Dạng bột mịn, không tan trong nước, rắc trực tiếp

ND: Nhũ Dầu, EC: Emulsifiable Concentrate.

DD: Dung Dịch, SL: Solution, L: Liquid, AS: Aqueous Suspension.

BTN: Bột Thấm Nước, BHN: Bột Hòa Nước, WP: Wettable Powder,

DF: Dry Flowable, WDG: Water Dispersible Granule, SP: Soluble Powder.

HP: huyền phù FL: Flowable Liquid, SC: Suspensive Concentrate.

H: hạt, G: granule, GR: granule.

P: Pelleted (dạng viên).

BR: Bột rắc, D: Dust.

  1. Cách tác động của Thuốc BVTV

* Thuốc trừ sâu

– Tiếp xúc: thuốc tác động qua da.

– Vị độc: thuốc tác động qua miệng.

– Xông hơi: thuốc tác động qua đường hô hấp.

– Nội hấp hay lưu dẫn: thuốc thấm vào trong tế bào và xâm nhập vào hệ thống mạch dẫn trong cây. Sâu chích hút hoặc ăn phần vỏ cây có phun thuốc rồi chết.

– Thấm sâu: Thuốc thấm vào mô cây và diệt những côn trùng sống ẩn dưới những phần phun thuốc.

Ngoài ra còn có một số thuốc có tính xua đuổi hoặc gây ngán ăn đối với côn trùng.

 

 

* Thuốc trừ bệnh

Tiếp xúc: tiêu diệt nấm bệnh nơi tiếp xúc với thuốc và ngăn chặn sự xâm nhiễm tiếp tục của nấm bệnh.

Nội hấp (lưu dẫn): thuốc xâm nhập và chuyển vị trong cây nhằm tiêu diệt ổ nấm bệnh nằm sâu trong mô cây, ở xa nơi tiếp xúc với thuốc.

* Thuốc trừ cỏ

– Tiếp xúc: thuốc hủy diệt các mô cây cỏ khi tiếp xúc trực tiếp với thuốc.

– Nội hấp hay lưu dẫn: thuốc được cây cỏ hấp thu và di trong mạch nhựa, chuyển đến các bộ phận khác làm thay đổi trạng thái sinh học của cỏ hoặc giết chết cây cỏ.

– Chọn lọc: diệt cỏ dại nhưng không hại đến nhóm cỏ khác hoặc cây trồng.

– Không chọn lọc: diệt tất cả các loài cỏ kể cả cây trồng.

– Tiền nẩy mầm: Thuốc có tác dụng diệt cỏ trước khi hạt cỏ sắp nẩy mầm hay ngay khi cỏ đang nẩy mầm. Điều kiện thành công của biện pháp này là đất phải bằng phẳng, đủ ẩm độ. Thuốc xâm nhập vào cây cỏ qua rễ mầm và lá mầm.

– Hậu nẩy mầm sớm: diệt cỏ từ khi cây cỏ đang mọc và đã mọc (được hai lá trở lại).

– Hậu nẩy mầm: thuốc có tác dụng diệt cỏ sau khi cỏ và cây trồng đã mọc. Thuốc xâm nhập vào cây cỏ qua lá và một phần qua rễ.

  1. Kỹ thuật sử dụng Thuốc BVTV

6.1. Sử dụng theo 4 đúng:

  1. Đúng thuốc

Căn cứ đối tượng dịch hại cần diệt trừ và cây trồng hoặc nông sản cần được bảo vệ để chọn đúng loại thuốc và dạng thuốc cần sử dụng. Việc xác định tác nhân gây hại cần sự trợ giúp của cán bộ kỹ thuật bảo vệ thực vật hoặc khuyến nông.

  1. Đúng lúc

Dùng thuốc khi sinh vật còn ở diện hẹp và ở các giai đoạn dễ mẫn cảm với thuốc, thời kỳ sâu non, bệnh chớm xuất hiện, trước khi bùng phát thành dịch. Phun trễ sẽ kém hiệu quả và không kinh tế.

  1. Đúng liều lượng, nồng độ

Đọc kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc, đảm bảo đúng liều lượng hoặc nồng độ pha loãng và lượng nước cần thiết cho một đơn vị diện tích. Phun nồng độ thấp làm sâu hại quen thuốc, hoặc phun quá liều sẽ gây ngộ độc đối với cây trồng và làm tăng tính chịu đựng, tính kháng thuốc.

 

  1. Đúng cách

Tùy vào dạng thuốc, đặc tính thuốc và những yêu cầu kỹ thuật cũng như nơi xuất hiện dịch hại mà sử dụng cho đúng cách. Nên phun thuốc vào sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu phun vào buổi trưa, do nhiệt độ cao, tia tử ngoại nhiều làm thuốc nhanh mất tác dụng, thuốc bốc hơi mạnh dể gây ngộ độc cho người phun thuốc. Nên đi trên gió hoặc ngang chiều gió. Nếu phun ở đồng xa nên đi hai người để có thể cứu giúp nhau khi gặp nạn trong quá trình phun thuốc.

6.2. Hỗn hợp thuốc:

Hỗn hợp thuốc nhằm một trong những mục đích sau:

– Mở rộng phổ tác dụng.

– Sử dụng sự tương tác có lợi.

– Hạn chế sự mất hiệu lực nhanh của một số hoạt chất.

– Gia tăng sự an toàn trong sử dụng.

– Tiết kiệm công lao động, tăng hiệu quả kinh tế.

Là pha hai hay nhiều loại thuốc nhằm trừ cùng một lúc được nhiều dịch hại. Tuy nhiên, cần lưu ý các điểm sau: Chỉ nên pha các loại thuốc theo sự hướng dẫn ghi trong nhãn thuốc, bảng hướng dẫn pha thuốc hoặc sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật biết rõ về đặc tính của thuốc. Nên hỗn hợp tối đa hai loại thuốc khác nhóm gốc hóa học, khác cách tác động, hoặc khác đối tượng phòng trừ trong cùng một bình phun.

Tuy nhiên, khi hỗn hợp cần tuân thủ theo khuyến cáo của nhà sản xuất vì có những hoạt chất không thể hỗn hợp với nhau. Không phối hợp thuốc có tính acid với tính kiềm. Hiện nay đã có nhiều loại thuốc được pha sẵn để phần nào đáp ứng thị hiếu của bà con nông dân như thuốc trừ cỏ Butanil 55 EC được hỗn hợp từ hai hoạt chất: Propanil và Butachlor, Tilt super 300 ND được hỗn hợp từ hai hoạt chất Propiconazole và Difennoconazole, Sumibass 75 EC được hỗn hợp từ hai hoạt chất Fenitrothion và Fenoburcarb.

Trong trường hợp phải pha trộn nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật với nhau để gia tăng hiệu quả phòng trị, để phòng trị được nhiều đối tượng dịch hại hoặc để giảm bớt công phun thì phải tuân theo khuyến cáo của nhãn thuốc. Nếu nhãn thuốc chỉ dẫn chưa rõ thì áp dụng các biện pháp sau:

  1. Pha trộn để tăng hiệu quả phòng trị trên một đối tượng dịch hại:

Có thể pha thuốc thuộc các nhóm hóa học khác nhau (lân, hữu cơ, carbamate, cúc tổng hợp, thảo mộc, vi sinh), các thuốc có tác động khác nhau (tiếp xúc, nội hấp, lưu dẫn) hoặc thuốc có cơ chế tác động khác nhau (hệ thần kinh, chống lột xác, gây ngạt…).

  1. Có thể pha trộn phòng trị nhiều loại bệnh, nhiều loại sâu, hoặc vừa sâu vừa bệnh, hoặc thuốc sâu với phân bón lá để phòng trị một lúc nhiều dịch hại.
  2. Khi pha trộn thuốc với nhau thì giữ nguyên nồng độ của mỗi loại thuốc như lúc dùng riêng lẻ.
  3. Không pha thuốc trừ cỏ với thuốc trừ sâu, bệnh.
  4. Không pha trộn hợp chất gốc lưu huỳnh (Polysulfur calci) với hợp chất chứa đồng (Oxychlorua đồng).
  5. Các loại thuốc trừ sâu, bệnh có thể hỗn hợp với phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng nhưng phải dùng ngay.
  6. Để giúp các dạng thuốc khác nhau có thể hòa tan chung trong một bình phun, thì thứ tự đổ vào bình như sau: thuốc bột cho vào trước, thuốc nước cho vào sau.

Ngoài ra, để bảo đảm các loại thuốc khi pha trộn với nhau không tương tác về mặt hóa học và vật lý có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc hoặc gây ngộ độc cho cây trồng, bà con cần làm một thử nghiệm đơn giản như sau (trừ trường hợp đã xác định được thuốc có thể pha trộn với nhau thì không cần làm thử nghiệm):

– Pha riêng lẻ từng loại thuốc định phối trộn với nhau theo nồng độ khuyến cáo trên nhãn thuốc (mỗi loại pha chừng 100 ml nước).

– Lần lượt đổ các loại thuốc này vào một dụng cụ trong suốt để dễ quan sát (như ly thủy tinh) theo thứ tự nêu trên, dùng que quậy đều rồi quan sát sau 10-15 phút. Nếu hỗn hợp trên bị nóng lên hay bị bốc hơi hoặc bị kết tủa (lợn cợn), là không đạt yêu cầu pha trộn. Nếu hỗn hợp trên không có hiện tượng nào khác thường là thuốc có thể pha chung với nhau được.

Tuy nhiên, để bảo đảm không gây độc cho cây trồng cần phun thử hỗn hợp trên một vài cây trồng, nếu cây không bị ảnh hưởng thì mới tiến hành phun trên diện rộng.

Hướng dẫn bà con những lưu ý trong cách pha trộn thuốc bảo vệ thực vật, các nhóm thuốc nên và không nên pha trộn pha trộn với nhau. Nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.

* Các nhóm thuốc có thể pha trộn với nhau:

– Nên phối hợp các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mang lại mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm như: cacbamat, lân + cúc, cacbamat + cúc, cacbamat + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân hoặc cúc.

– Nên phối hợp thuốc có các tác dụng khác nhau như: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn,…

– Nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, thuốc trừ cỏ với phân bón, …

 

 

* Các nhóm thuốc không nên pha trộn với nhau

– Không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng.

– Không nên phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh,…

– Không phối hợp thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng có tính kiềm cao trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm tác dụng của các loại thuốc.

– Nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sứ, thủy tinh hoặc nhựa, khuấy nhẹ cho hòa tan để trong thời gian khoảng năm phút. Quan sát  thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng vàng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, hay sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn chung các loại thuốc đó.

– Khi khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau, trong quá trình pha chế nên lần lượt cho loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng nửa bình rồi khuấy đều sau đó mới cho loại thuốc thứ hai vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình, đến khi đủ lượng nước mình cần pha.

Chú ý: trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không cho hai loại thuốc vào cùng một lúc với nhau. Nếu pha chung hai loại thuốc để trừ hai nhóm đối tượng khác nhau (thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh) thì phải giữ nguyên nồng độ mỗi loại thuốc như khi dùng riêng. Nếu pha chung 2 loại thuốc để cùng trừ một đối tượng là sâu hoặc bệnh thì có thể giảm nồng độ một hoặc cả hai loại thuốc, mức giảm nhiều nhất là một nữa, lượng nước phun phải đủ theo yêu cầu.

Riêng thuốc trừ cỏ, không pha chung với nhau hoặc với thuốc trừ sâu bệnh nếu không có hướng dẫn trên nhãn thuốc hoặc chưa làm thử như đã nêu ở phần trên.

Lưu ý: sau khi pha thuốc xong phải phun ngay và không nên pha quá 2 loại thuốc với nhau.

  1. Giải thích một số thuật ngữ

7.1. Tên thuốc

– Tên thương mại: do Công ty sản xuất hoặc phân phối thuốc đặt ra để phân biệt sản phẩm giữa Công ty này và Công ty khác. Tên thương mại gồm 3 phần: tên thuốc, hàm lượng hoạt chất và dạng thuốc. Thí dụ thuốc trừ sâu Basudin 10 H, trong đó Basudin là tên thuốc, 10 là 10% hàm lượng hoạt chất và H là dạng thuốc hạt.

– Tên hoạt chất: là thành phần chủ yếu trong thuốc có tác dụng tiêu diệt dịch hại. Tên hoạt chất của Basudin là Diazinon.

– Phụ gia: là những chất trơ, không mang tính độc được pha trộn vào thuốc để tạo thành dạng thương phẩm giúp cho việc sử dụng dễ dàng.

7.2. Nồng độ, liều lượng

– Nồng độ: lượng thuốc cần dùng để pha loãng với 1 đơn vị thể tích dung môi, thường là nước. (đơn vị tính là %, g hay cc thuốc/số lít nước của bình phun).

– Liều lượng: lượng thuốc cần áp dụng cho 1 đơn vị diện tích (đơn vị tính là kg/ha, lít/ha ).

7.3. Dịch hại: là những sinh vật, vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản, làm thất thu năng suất hoặc làm giảm phẫm chất nông sản. Các loài dịch hại thường thấy là sâu, bệnh, cỏ dại, chuột, cua, ốc, tuyến trùng, nhện…

7.4. Phổ tác động: là nhiều loài dịch hại khác nhau mà loại thuốc đó có thể tác động đến.

– Phổ rộng: thuốc có thể trừ được nhiều dịch hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau.

– Phổ hẹp: (còn gọi đặc trị) thuốc trừ được ít đối tượng gây hại (một loại thuốc trừ dịch hại có tính chọn lọc càng cao thì phổ tác động càng hẹp).

7.5. Phòng trị

– Phòng: ngăn chặn không cho tác nhân gây hại xâm nhập và phát triển trong cây trồng.

– Trị: bao vây, tiêu diệt các tác nhân gây hại trước hoặc sau khi chúng đã xâm nhập vào cây.

7.6. Độ độc:

– Ngộ độc cấp tính: thuốc xâm nhập vào cơ thể một lần, gây nhiễm độc tức thời biểu hiện bằng những triệu chứng đặc trưng.

– Ngộ độc mãn tính: khi thuốc xâm nhập vào cơ thể với liều lượng nhỏ, nhiều lần trong thời gian dài, thuốc sẽ tích lũy trong cơ thể đến một lúc nào đó cơ thể sẽ suy yếu, có những bộ phận trong cơ thể bị tổn thương do tác động của thuốc phát huy tác dụng.

7.7. Tính chống thuốc của sinh vật hại

Là khả năng của sinh vật hại chịu đựng được liều thuốc độc gây tử vong cho các cá thể khác trong chủng quần. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính chống thuốc của sâu hại là:

– Yếu tố di truyền (Khả năng có thể truyền lại cho thế hệ sau).

– Yếu tố sinh học (hệ số sinh sản, số lứa trong năm…).

– Yếu tố sinh thái (điều kiện khí hậu, nguồn dinh dưỡng…).

– Yếu tố canh tác (phân bón, giống trồng…).

– Yếu tố áp lực sử dụng thuốc trên chủng quần (nồng độ, liều lượng, số lần phun trong cùng một vụ trồng).

7.7.1. Cơ chế chống thuốc của sâu hại

Người ta thấy sâu hại có những phản ứng chống thuốc sâu:

– Phản ứng lẫn tránh: sâu không ăn thức ăn có thuốc hoặc di chuyển xa.

– Hạn chế hấp thụ chất độc vào cơ thể: lớp da chứa cutin sẽ dầy thêm.

– Phản ứng chống chịu sinh lý và tích lũy: chất độc sẽ tích lũy ở mô mỡ, hoặc ở nơi ít độc cho cơ thể, làm giãm khả năng liên kết men ChE. với chất độc gốc lân hoặc các- ba-mát hữu cơ.

– Cơ chế giải độc: chất độc được chuyển hóa thành chất ít độc hơn (DDT chuyển hóa thành DDE).

7.7.2. Biện pháp ngăn ngừa sự phát triển hình thành tính chống chịu thuốc của sâu hại

– Dùng thuốc hợp lý: hiểu rõ sinh vật hại, áp dụng biện pháp 4 đúng.

– Áp dụng chiến lược thay thế: sử dụng từng nhóm thuốc cho từng vùng, khu vực trong từng thời điểm riêng. Có kế hoạch khảo sát thuốc mới để thay thế thuốc cũ.

– Dùng thuốc hỗn hợp: hỗn hợp thuốc với dầu thực vật hoặc dầu khóang sẽ làm chậm phát triển tính kháng thuốc của sinh vật hại.

– Áp dụng IPM: phát triển quan điểm mới về sử dụng thuốc trong IPM như áp dụng thuốc có nguồn gốc sinh học, luân phiên sử dụng thuốc, thuốc ít độc để bảo vệ thiên địch.

7.8. Thời gian cách ly (PHI: PreHarvest Interval)

Là khoảng thời gian từ khi phun thuốc lần cuối đến khi thu hoạch nông sản nhằm đảm bảo cho thuốc BVTV có đủ thời gian phân hủy đến mức không còn có thể gây ra những tác động xấu đến cơ thể của người và gia súc khi tiêu thụ nông sản đó.

7.9. Dư lượng

Là lượng chất độc còn lưu lại trong nông sản hoặc môi trường sau hoặc khi phun thuốc BVTV. Dư lượng được tính bằng mg (miligram) lượng chất độc trong 1 kg nông sản hoặc thể tích không khí, nước đất,… Trường hợp dư lượng quá nhỏ, đơn vị còn được tính bằng ppm (phần triệu) hoặc ppb (phần tỉ).

– MRL (Maximum Residue Limit): Mức dư lượng tối đa cho phép lưu tồn trong nông sản mà không ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi.

– ADI (Acceptable Daily Intake): Lượng chất độc chấp nhận hấp thu vào cơ thể, không gây hại cho người hoặc vật nuôi trong 1 ngày, hợp chất độc cho đơn vị thể trọng được tính bằng mg hợp chất độc cho đơn vị thể trọng.

 

PHẦN II: CÁCH PHA TRỘN THUỐC BVTV

Trong trường hợp phải pha trộn nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật với nhau để gia tăng hiệu quả phòng trị, để phòng trị được nhiều đối tượng dịch hại hoặc để giảm bớt công phun thì phải tuân theo khuyến cáo của nhãn thuốc. Nếu nhãn thuốc chỉ dẫn chưa rõ thì áp dụng các biện pháp sau:

  1. Pha trộn để tăng hiệu quả phòng trị trên một đối tượng dịch hại:

Có thể pha thuốc thuộc các nhóm hóa học khác nhau (lân, hữu cơ, carbamate, cúc tổng hợp, thảo mộc, vi sinh), các thuốc có tác động khác nhau (tiếp xúc, nội hấp, lưu dẫn) hoặc thuốc có cơ chế tác động khác nhau (hệ thần kinh, chống lột xác, gây ngạt…).

  1. Có thể pha trộn phòng trị nhiều loại bệnh, nhiều loại sâu, hoặc vừa sâu vừa bệnh, hoặc thuốc sâu với phân bón lá để phòng trị một lúc nhiều dịch hại.
  2. Khi pha trộn thuốc với nhau thì giữ nguyên nồng độ của mỗi loại thuốc như lúc dùng riêng lẻ.
  3. Không pha thuốc trừ cỏ với thuốc trừ sâu, bệnh.
  4. Không pha trộn hợp chất gốc lưu huỳnh (Polysulfur calci) với hợp chất chứa đồng (Oxychlorua đồng).
  5. Các loại thuốc trừ sâu, bệnh có thể hỗn hợp với phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng nhưng phải dùng ngay.
  6. Để giúp các dạng thuốc khác nhau có thể hòa tan chung trong một bình phun, thì thứ tự đổ vào bình như sau: thuốc bột cho vào trước, thuốc nước cho vào sau.

Ngoài ra, để bảo đảm các loại thuốc khi pha trộn với nhau không tương tác về mặt hóa học và vật lý có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc hoặc gây ngộ độc cho cây trồng, bà con cần làm một thử nghiệm đơn giản như sau (trừ trường hợp đã xác định được thuốc có thể pha trộn với nhau thì không cần làm thử nghiệm):

– Pha riêng lẻ từng loại thuốc định phối trộn với nhau theo nồng độ khuyến cáo trên nhãn thuốc (mỗi loại pha chừng 100 ml nước).

– Lần lượt đổ các loại thuốc này vào một dụng cụ trong suốt để dễ quan sát (như ly thủy tinh) theo thứ tự nêu trên, dùng que quậy đều rồi quan sát sau 10-15 phút. Nếu hỗn hợp trên bị nóng lên hay bị bốc hơi hoặc bị kết tủa (lợn cợn), là không đạt yêu cầu pha trộn. Nếu hỗn hợp trên không có hiện tượng nào khác thường là thuốc có thể pha chung với nhau được.

Tuy nhiên, để bảo đảm không gây độc cho cây trồng cần phun thử hỗn hợp trên một vài cây trồng, nếu cây không bị ảnh hưởng thì mới tiến hành phun trên diện rộng. Hướng dẫn bà con những lưu ý trong cách pha trộn thuốc bảo vệ thực vật, các nhóm thuốc nên và không nên pha trộn pha trộn với nhau. Nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.

  • Các nhóm thuốc có thể pha trộn với nhau

Bà con chú ý chỉ nên phối hợp các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mang lại mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm như: cacbamat, lân + cúc, cacbamat + cúc, cacbamat + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân hoặc cúc.

Chỉ nên phối hợp thuốc có các tác dụng khác nhau như: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn,…

Nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, thuốc trừ cỏ với phân bón, …

  • Các nhóm thuốc không nên pha trộn với nhau

Bà con chú ý không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng.

Không nên phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh….

Không phối hợp thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng có tính kiềm cao trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm tác dụng của các loại thuốc.

Nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sứ, thủy tinh hoặc nhựa, khuấy nhẹ cho hòa tan để trong thời gian khoảng năm phút. Quan sát  thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng vàng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, hay sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn chung các loại thuốc đó.

Khi khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau, trong quá trình pha chế nên lần lượt cho loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng nửa bình rồi khuấy đều sau đó mới cho loại thuốc thứ hai vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình, đến khi đủ lượng nước mình cần pha.

Chú ý: trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không cho hai loại thuốc vào cùng một lúc với nhau. Nếu pha chung hai loại thuốc để trừ hai nhóm đối tượng khác nhau (thuốc trừ sâu và thuốc trừ bệnh) thì phải giữ nguyên nồng độ mỗi loại thuốc như khi dùng riêng. Nếu pha chung 2 loại thuốc để cùng trừ một đối tượng là sâu hoặc bệnh thì có thể giảm nồng độ một hoặc cả hai loại thuốc, mức giảm nhiều nhất là một nữa, lượng nước phun phải đủ theo yêu cầu.

Riêng thuốc trừ cỏ, không pha chung với nhau hoặc với thuốc trừ sâu bệnh nếu không có hướng dẫn trên nhãn thuốc hoặc chưa làm thử như đã nêu ở phần trên.

Lưu ý: sau khi pha thuốc xong phải phun ngay và không nên pha quá 2 loại thuốc với nhau.